Truyện ngắn
30.10.2008
Trúc Khê Ngô Văn Triện
Tình sử (23)

Phù Lệ Khanh


(Tình quỷ)


 


Hồi họ Thẩm giữ ở Chiết Đông, mỗi năm cứ đến kỳ nguyên tiêu, tại Minh châu thắp đèn năm đêm, dân trong thành đua nhau đi xem hội đèn nô nức. Năm Canh Tý (1360) niên hiệu Chí Chính, có chàng họ Kiều, nhà ở dưới núi Trấn Ninh, mới goá vợ, buồn không đi chơi, đứng dựa ở cổng nhà thơ thẩn. Đêm hôm rằm, khoảng cuối canh ba, người đi chơi đã thưa vắng, chàng chợt thấy một con nha hoàn, cầm cái đèm mẫu đơn hai bóng, dẫn đường cho một vị mỹ nhân đi sau tuổi ước mười bẩy, mười tám quần hồng áo thắm, thủng thỉnh đi về phía tây. Dưới bóng trăng, sinh trông thấy mặt ngọc răng ngà, thật là một trang quốc sắc. Thần hồn trôi dạt, không sao cầm lại được, chàng đi theo dõi, lúc lên trước, lúc lui lại sau. Đi được mấy chục bước, mỹ nhân bỗng ngoảnh lại mỉm cười nói rằng:


- Vốn không lời hẹn trong dâu, bỗng chốc gặp nhau dưới nguyệt, hẳn không phải là sự tình cờ.


Sinh liền bước đến gần vái chào:


- Nhà tôi gần gũi tấc gang, chẳng hay giai nhân có sẵn lòng chiếu cố tới không?


Nàng chẳng chút ngại ngần, liền gọi nha hoàn:


- Kim Liên! Hẵng cầm đèn trở lại đây đã.


- Kim Liên cầm đèn lại, sinh dắt tay nàng về nhà.


Đôi bên quấn quít nhau, dù cuộc gặp gỡ ở Vu sơn Lạc phố của người xưa cũng không hơn được. Sinh hỏi họ tên quên quán thì nàng nói:


- Em họ Phù tên Lệ Khanh, tự là Thục phương, con gái quan thông phán châu Phụng hoá trước. Cha mẹ em tạ thế, cảnh nhà điêu linh, anh em đã không, họ hàng cũng ít, em chỉ có một mình cùng với con nha hoàn Kim Liên ở ngụ tại phía tây Nguyệt hồ.


Sinh mời ngủ lại, nàng vui vẻ nhận lời. Chiếu trải màn buông, đêm ấy say sưa đầm ấm.


Trời tảng sáng, nàng từ biệt sinh ra về; đến tối lại đến. Như thế ước nửa tháng, ông láng giềng thấy sự đâm ngờ. Một hôm ông do chỗ kẽ vách nhòm sang, thấy một cái đầu lâu chát phấn cùng sinh quấn quít ở dưới đèn, rất là kinh hãi. Hôm sau ông hỏi sinh, nhưng sinh chối không chịu nói. Ông bảo:


- Cậu nguy lắm đấy. Người là loài thuần dương chí thịnh, quỷ là giống tà uế u âm. Nay cậu ở chung nằm đụng với loài ma quỷ tà uế u âm mà không tự biết. Một ngày kia chân nguyên tiết hết, bệnh hoạn tìm vào, tiếc cho đương tuổi ba xuân, bỗng trở nên người chín suối, chẳng cũng là đáng thương hại lắm!


Sinh nghe nói mới biết kinh hãi, kể hết đầu đuôi cho ông láng giềng nghe. Ông láng giềng nói:


- Ả nói là ở ngụ tại phía tây hồ, sao cậu chẳng thử đi mà dò thăm xem!


Sinh theo lời, liền đến phía tây Nguyệt hồ, thơ thẩn trên con đê dài, dưới bức tường cao, hỏi thăm hết nhà nọ đến nhà kia, người ta đều nói không có ai như thế. Trời gần tối, chàng vào trong cái chùa giữa hồ nghỉ ngơi một chút, đi qua nếp hành lang phía đông lại vòng sang nếp phía tây. Đến cuối hành lang, thấy một cái buồng tối, đó là chỗ quàn lữ thần. Chàng thấy trên miếng giấy trắng dán ở mặt cữu có một dòng chữ đề:


"Cữu của Lệ Khanh, con gái quan cố thông phán châu Phụng hoá họ Phù"


Trước cữu treo một cái đèn mẫu đơn hai bóng. Dưới đèn có một nữ hình nhân bằng giấy, trên lưng đề hai chữ "Kim Liên". Sinh thấy vậy, lông tóc dựng ngược cả lên, mình mẩy rét run, vội chạy ra khỏi chùa không dám ngoảng cổ lại nữa.


Đêm hôm ấy, chàng phải sang ngủ nhờ bên ông láng giềng, vẻ sợ hãi hiện ra xanh xám ở trên nét mặt. Ông láng giềng bảo:


- Ở đền Huyền diệu có vị pháp sư họ Nguỵ nguyên là đệ tử của Vương chân nhân xưa, phù lục cao tay, hiện giờ không ai sánh bằng được; cậu nên đến đấy mà cầu ngài cứu cho.


Ngày hôm sau, sinh đến đền, pháp sư vừa trông thấy đã kinh ngạc nói:


- Gã kia yêu khí đầy mình, đến làm gì vậy?


Sinh phục lạy kể hết sự mình. Pháp sư lấy hai đạo bùa vẽ son trao cho, dặn một đạo dán ở cửa, một đạo treo ở giường, và từ nay đừng đến cái chùa trong hồ nữa.


Sinh lĩnh bùa đem về, làm theo như lời pháp sư dặn, từ đấy quả không thấy nàng kia đến.


Sau hơn một tháng, một hôm chàng đến cầu Cổn Tú thăm bạn, ở chơi uống rượu say khướt, quên bẵng lời dặn của pháp sư, lại về nhà theo con đường chùa giữa hồ. Vừa sắp đến cổng chùa đã thấy con hầu Kim Liên đón chào:


- Cô tôi mong đợi mãi, sao cậu nỡ bạc tình làm vậy!


Ả đưa sinh vào, đến thẳng cái buồng ấy. Mỹ nhân ngày trước đương ngồi trong đó, trách chàng rằng:


- Thiếp với chàng vốn không phải cùng quen biết; ngẫu nhiên ở dưới đèn gặp gỡ, cảm vì tinh ý, sẵn sàng đem dâng cả tấm thân, tối đến sớm về, đối với chàng không phải là bạc. Vậy mà chàng nỡ tin lời kẻ yêu đạo, đem lòng ngờ hoặc, định vĩnh viễn không nhìn đến nhau. Bạc hãnh như thế, thiếp vẫn căm hờn lắm. Nay mai gặp đây không thể nào rời nhau được nữa.


Nói rồi cầm tay sinh, dắt đến trước cữu; nắp cữu tự nhiên mở, ôm nhau cùng bước chân vào, rồi nắp lại đóng sập, hai người cùng chết ở trong cữu.


Ông láng giếng thấy sinh không về, tìm hỏi xa gần nhưng không thấy đâu cả. Rồi ông vào chùa trong hồ, đến gian buồng đặt cữu, thấy quần áo sinh hơi lộ ra bên ngoài. Ông nói với nhà chùa thử mở cữu xem, thấy sinh đã chết tự bao giờ, cùng thây người con gái ôm nhau khăng khít, mặt người con gái vẫn tươi như lúc sống.


Các sư trong chùa đều phàn nàn mà nói:


- Đó là con gái quan châu phán họ Phù, khi chết mới 17 tuổi, tạm quàn lữ thần ở đây, gia quyến thiên đi, rồi chẳng thấy tăm hơi gì nữa, đến nay đã mười ba năm, không ngờ tác quái đến như thế.


Nhà chùa bèn đem cữu của nàng cùng chôn với sinh ở ngoài cửa tây. Từ đó, những ngày mây tối hay những đêm trăng mờ, người ta thường thấy chàng và nàng dắt tay đi đôi, phía trước, một con hầu cầm đèn mẫu đơn dẫn đường, ai gặp phải về sẽ ốm nặng, sốt nóng sốt rét, lập đàn cúng tế may khỏi, bằng không thì sẽ chết.


Cư dân ở đấy rất sợ hãi, đua nhau đến đền Huyền diệu nói với Ngụy pháp sư. Pháp sư nói:


- Bùa dấu của tôi, chỉ đủ ngăn ngừa việc chưa xảy; chứ nay đám ấy yêu quái đã thành, sức tôi không thể trị nổi. Tôi nghe có vị đạo nhân mũ sắt, hiện ở trên đỉnh núi Tú minh khảo xét về việc quỷ thần, pháp thuật linh nghiệm, vậy các người nên đến núi ấy mà cầu.


Mọi người đến núi ấy, bẻ lau vạch cỏ, vượt suối qua đèo, lên đến tận chóp núi, quả thấy một cái am cỏ, vị đạo nhân đương ngồi tựa ghế, xem chú đạo đồng dạy đàn hạc lạy ở dưới am. Mọi người trình rõ cái mục đích của mình đến đây. Đạo nhân nói:


- Ta là kẻ ẩn sĩ ở chốn rừng sâu, sớm tối chưa biết chết lúc nào, làm gì có phép thuật, các người chỉ nghe đồn hão.


Đạo nhân khăng khăng từ chối. Mọi người nói:


- Chúng tôi vốn cũng không biết; vì có Ngụy pháp sư ở đền Huyền Diệu chỉ bảo, nên mới biết đường lên đây cầu cứu.


Đạo nhân nói:


- Ta già rồi, đã không xuống núi hơn sáu mươi năm nay, chỉ vì gã mỏng môi, làm phiền ta lại phải xuống núi một chuyến.


Đạo nhân bèn cùng đồng tử xuống núi, chân bước đi nhanh nhẹ như bay. Khi đến cửa tây, thiết lập một đàn tràng, đạo nhân ngồi ngay ngắn giữa chiếu, vẽ bùa rồi đốt. Bỗng có mấy kẻ lại viên, khăn vàng áo lụa, giáo trạm giáp đồng, người nào cũng cao hơn một trượng, đứng sững trước đàn, cúi đầu đợi nghe truyền bảo, mặt người nào cũng nghiêm chăm chắm.


Đạo nhân nói:


- Ở đây có lũ yêu quỷ, quấy nhiễu sinh dân các ngươi lại không biết ư? Nên mau mau trừ khử.


Bọn ấy vâng mệnh, lập tức đi ngay. Trong chốc lát, đã đóng gông người con gái cùng sinh và Kim Liên đến ở trước đàn, lũ tội nhân sụt sùi khóc lóc. Đạo nhân trách mắng lúc lâu rồi bắt phải làm tờ cung chiêu tội trạng. Đoạn, đạo nhân làm một tờ phán quyết, đầy cả ba tên vào ngục cửu u, trầm luân vĩnh viễn không bao giờ được ra nữa. Tờ phán quyết đọc xong, ba tên kia khóc lóc kêu gào, bị những âm tướng áp điệu đi tức khắc. Đạo nhân cũng trở ngay về núi.


Hôm sau mọi người vào núi lạy tạ, đã không thấy đạo nhân đâu nữa, còn trơ có cái thảo am. Liền trở về đền Huyền Diệu thăm Ngụy pháp sư; té ra pháp sư đã ốm thành bệnh câm không nói được nữa.


 


Nguồn: Tình sử. Trúc Khê dịch. NXB Văn học, 2002.


 


 

trieuxuan.info