Truyện ngắn
21.02.2011
Nguyễn Bá Trình
Câu cuối cùng của một cuốn nhật ký

Nếu bạn chưa chán những câu chuyện về xóm Cồn Thiên mà tôi đã từng kể thì xin nghe tôi kể thêm một chuyện nữa: Bắt đầu từ ngôi miếu cổ ở xóm Cồn Thiên. Miếu tọa lạc trên một ngọn đồi sỏi cuội. Mặt  đồi  được phủ kín bằng thứ cây dây chìu. Loại cây có thân dây bò lan khắp mặt đất. Cả thân lẫn lá nhám nhịt lông . Hoa nở khắp thân, từ gốc đến ngọn, chen với lá. Từng chùm từng chùm thơm ngọt, trắng nõn như những bát xôi nếp đơm vun. Nhưng ở đời, gặp người tốt lắm mình cũng  ngại, hoa mà thơm lắm cũng ít người thích.Thành ra hoa dây chìu chỉ nở chung quanh khu miếu cổ mà thôi. Dân Cồn Thiên ít ai mang nó về trồng trong vườn cho thơm hoặc cắt một dây để cắm lên bình cho đẹp. Trở lại ngôi miếu cổ xóm Cồn Thiên. Thuở tôi đang ở vào cái tuổi thơ mộng nhất, cái tuổi mà bây giờ người ta tôn vinh  bằng một cái  tên đầy ấn tượng, tuổi teen , thì tôi là một cậu bé chăn trâu, đánh vần khó khăn khi phải ghép luôn ba chữ cái.Thuở đó xóm Cồn Thiên đang triền miên trong lửa đạn của cuộc chiến tranh chống Pháp.Và thuở đó miếu Cồn Thiên đóng một vai trò quan trọng: Đài quan sát. Như tôi đã nói, miếu nằm trên một đồi cao, đứng đó có thể nhìn bao quát chung quanh một vùng bán kính năm bảy  cây số. Vị trí có thể nhìn rõ nhất đồn bót lính Pháp ở cầu Mỹ Thịnh. Qua mắt kính ống nhòm quân du kích có thể thấy được có mấy thằng Tây đi ra khỏi bót. Nó mang súng ngắn hay súng dài. Có đem theo chó bẹc dê hay không. Vì vậy mà ở miếu bao giờ cũng có một du kích quân đứng gác. Miếu Cồn Thiên biến thành một lô côt đầy huyền thoại. Đáng tiếc, ngoài người dân Cồn Thiên ra ít ai biết đến. Sau nầy quân du kích không trực tiếp canh gác mà giao nhiệm vụ nầy cho đội thiếu niên xung kích của xóm. Nói là thiếu niên nhưng trong đội cũng có anh mười bảy mười tám tuổi. Và tôi là một thiếu niên xuất sắc.  Một cái mõ tre và một ống nhòm nhặt được đâu đó của lính Pháp, là toàn bộ trang bị cho người đứng canh  cửa quỷ.


Hết buổi là thay phiên.Theo quy định, cứ có trên năm thằng Tây sắp hàng đi ra khỏi bót, là người canh gác lập tức tay gõ mõ báo động, chân thì chạy miệng thì la bai bải: Tây lên! Tây lên! Có khi một ngày báo động hụt đến hai ba lần, vì cu cậu ngồi  gác buồn ngủ, tựa lưng vào vách miếu đánh một giấc. Trong mơ cậu ta thấy Tây ra khỏi bót từng đoàn. Cũng có cậu nhát gan thấy Tây mời ra khỏi bót đâu ba thằng( không khéo nó ngồi đánh cac tê trong bót, tan sòng kéo nhau ra đi tiểu) thế là cậu hoảng lên đánh mõ báo động liên hồi. Chỉ có tôi là thiếu niên được tuyên dương về công tác báo động. Tôi đợi cho chúng kéo ra một đoàn mới đánh mõ. Mà nghĩ thằng Pháp hồi đó sao mà nó cũng khờ. Mỗi lần đi càn là kéo nhau một đoàn thẳng tưng, cách đều bước.Có mấy thằng đi ra khỏi bót là bên mình biết ngay. Nhiều lần chúng  mới bước ra khỏi đồn đã bị bắn tỉa. Rát rồi nó cũng khôn. Sau nầy ra khỏi đồn là chúng khom người chạy. Có lẽ cuộc chiến tại Việt Nam đã giúp cho tướng lĩnh Pháp, sau nầy là Mỹ rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm  xương máu mà có lẽ trong sách vở nói về chiến tranh  của Đơ Gôn  hay của Oa Sinh Tơn không bao giờ nói đến.


Một bận quân du kích đặt súng cối  ngay ở sân miếu. Nửa đêm nhả đạn vào bót địch. Tất nhiên là trúng chóc thôi. Từ đó chúng mới phát hiện ra miếu Cồn Thiên là cứ điểm tiền tiêu của quân Cách mạng.Và cũng từ đó moọcchê (súng cối) của Pháp dười đồn bất luận ngày đêm cứ thấy ngài ngại là cho nổ lên cái đồi nầy năm bảy quả. Ngầm ý bảo rằng chúng tôi đã phát hiện ra các ông nội rồi, đừng có lai vảng ở đó mà âm mưu giết chúng tôi nhé.Và tất nhiên ở đâu có tiếng súng nổ thì ở đó có máu chảy.Thỉnh thoảng có thiếu niên xung kích hoặc du kích quân hy sinh dưới chân ngôi miếu nầy.


  Một đêm trăng sáng rực rỡ . Ngôi miếu hiện ra dưới vũng ánh sáng mờ mờ ảo ảo  có một vẻ gì rờn rợn ma quái. Những khóm hoa dây chìu bỗng nhiên trắng rực cả lên và thơm đến ngạt thở. Tôi cùng ba anh du kích vác cối 60, người khiêng đế kẻ vác nòng, vạch những bụi dây chìu  trườn lên miếu. Tối nay sẽ nả vào bót địch. Bọn Pháp cũng phải được hiểu rằng súng đạn chế ra không phải chỉ dùng cho bọn người đi cướp. Và qua bất kỳ cuộc chiến tranh nào người ta cũng nghiệm ra rằng, cùng một loại vũ khí, khi kẻ xâm lăng xử dụng thì mức sát thương ít hơn, nhưng khi nằm trong tay những người yêu nước thì mức sát thương của nó thật ghê gớm. Có lẽ người sản xuất ra vũ khí cũng không ngờ được điều đó. Vậy thì ai dám bảo vũ khí không có linh hồn! Tôi bò sau các anh, lưng gùi mấy trái pháo. Tự nhiên sao hôm nay tôi lại thấy sờ sợ. Sợ cái cóc gì mới được chứ, tôi tự nhủ, miếu Cồn Thiên thì còn lạ lùng gì. Các anh dặn rồi, nếu chúng phản pháo thì ưu tiên cho tôi được núp trong lòng miếu. Với độ dày của miếu  thì cối 60 nổ trên nóc cũng không hề hấn gì.


Vạch những bụi dây chìu, chúng tôi tiến lên đỉnh đồi. Cách chân miếu khoảng chừng hai ba mươi mét gì đấy, cả mấy anh em dừng lại vểnh tai nghe ngóng. Tiếng mèo động đực ai ai  từ phía miếu. Có tiếng anh Sum thì thầm- Không phải tiếng mèo gào động cỡn tụi bây ơi-  Thì tiếng gì? Tiếng ư ử yếu dần rồi tắt lịm. Một lát lại rên lên. Mèo thì phải có lúc nó gào toáng  lên bất kể. Tiếng ư ử nầy như  cố sức kìm nén  chịu đựng. Trong lúc cả mấy người chú ý nghe ngóng thứ âm thanh đang làm run lên từng  chân lông khắp cơ thể  thì tiếng thét của Sum như một gáo nước lạnh  làm nguội ngắt cái cảm giác ham muốn đang bừng bừng bởi thứ âm thanh tượng hình thác loạn đó - Nằm xuống có pháo kích.Tất nhiên tất cả chúng tôi đều nghe rõ. Tiếng moọcchê đề pa (khai hỏa) dưới đồn Mỹ Thịnh. Thứ âm thanh chết chóc được báo trước nầy chúng tôi đã quá quen tai. Tiếng rên ư ử vẫn không dứt. Chợt giọng Sum kêu toáng- Ai đó coi chừng có pháo kích đấy. Cả mấy chúng tôi cười rung ruc. Nhưng tiếng rên rỉ vẫn không dứt. Họ không nghe tiếng moọcchê đề pa? Họ không hiểu được âm thanh báo trước cái chết ? Họ đang bất chấp? Nhưng tiếng rên rỉ đó chỉ được kéo dài trong chừng mươi lăm giây trở lại thôi. Bao giờ thần chết mang tên moọcchê cũng chỉ báo trước có chứng ấy thời gian. Một vũng ánh trăng vàng  xanh chợt chuyển qua sắc hồng, ngôi miếu hiện rõ và chao đảo trong tích tắc. Một tiếng nổ bung tai. Sau đó là vũng tối mù mịt. Một trận mưa sỏi đá đổ chụp lên đầu anh em chúng tôi. Qua tiếng lùng bùng trong lỗ tai tôi nghe ai đó hỏi- Có sao không tụi bây? Bốn người  chúng tôi quờ quạng tìm nhau.Tao đây. Tao đây. Tao đây. Em đây. Thế là cả bốn còn nguyên vẹn. Nổ kiểu nầy  ít ra cũng phải quả cối 81 hoặc DKZ. Nó nổ ngay trước mặt chúng tôi. Một ngọn gió bất chợt thổi qua xua tan đám bụi mù.  Mặt trăng lại xuất hiên đỏ bầm méo mó như sắp rụng. Chợt tiếng rên ư ử lại bắt đầu. Quái! Vậy là tiếng kêu của thứ gì? Dù là mèo đang động cỡn thì tiếng nổ vừa rồi nó cũng buông nhau ra, cong đuôi mạnh con nào con nấy chạy. Hoặc ai đó đang làm tình thì cũng cụt hết cả hứng thú chứ. Tiếng kêu vẫn kìm nén chịu đựng có lúc như buông thả phó mặc. Lại có tiếng moọcchê đê pa. Sum lại thét lên vừa cho ai đó đủ nghe- Coi chừng pháo nữa đấy.Tiếng rên lịm tắt. Một lằn chớp, một tiếng nổ bung tai. Nhưng lần nầy quả pháo nổ chệch qua bên kia sườn đồi.Tiếng rên rỉ đã im hẳn. Dè chừng bọn địch còn tiếp tục pháo, chúng tôi vẫn nằm không động đậy. Chợt có hai bóng người từ trong Miếu đi ra, cầm tay nhau bước đi thong thả. Kỳ lạ! Y như hai người đang dạo mát dưới trăng. Cả hai bước qua  cách chỗ chúng tôi đang nằm chừng mươi mét. Rõ ràng một nam một nữ. Họ không sợ chết ư? Câu hỏi ấy thoáng trong óc tôi.


Lại có tiếng moọcchê đê pa. Tôi cúi đầu xuống tránh mảnh pháo, nhưng có lẽ cũng như mấy anh, tôi vẫn nhướng mắt nhìn theo hai bóng người, trong lúc vẫn đợi một lằn chớp, một tiếng nổ.Và cũng là đợi xem mình có còn sống sau tiếng nổ hay không. Biết đâu quả phào không rớt ngay trên đầu chúng tôi. Không có số phận nào hết. Sự sống sót sau chiến tranh chỉ là là sự may mắn. Vô cùng may mắn. Bây giờ thì thấy hai bóng người nằm xuống. Nhưng lằn chớp đã không có, tiếng nổ không phát ra. Chỉ một tiếng rơi bịch xa xa. Quả pháo nầy bị thúi. Hai bóng người đã mất hút dưới triền đồi. Một chặp lâu không nghe tiếng moọcchê đê pa, tôi hỏi anh Sum:


- Giờ sao anh?


- Giờ thì ta trả lời bọn chúng chứ sao. Theo kề hoạch chuẩn bị khai hỏa.


Sum nói rồi ra lệnh. Và những quả cối 60 của chúng tôi cứ thong thả hai phút một trút xuống đầu lính Pháp. Chúng tôi thả quả pháo tiếp theo vào nòng ngay khi nghe có tiếng nổ phát ra dưới đồn lính Pháp, để chúng không phân biệt được tiếng đê pa mà tránh.


        Xóm Cồn Thiên trải qua một đêm pháo kích không ai bị thương vong nhưng cũng chẳng ai biết chuyện gì xẩy ra trong đêm đó ngoài tôi. Còn anh Sum và mấy anh khác chắc không biết hai bóng người trên miếu Cồn Thiên là ai, vì các anh không ở cùng xóm với tôi. Bây giờ nếu bạn rảnh rang thì nghe tôi kể tiếp về hai bóng người trên miếu Cồn Thiên vào cái đêm pháo kích đó. Tôi hiểu rõ câu chuyện nầy, cả từng lời đối đáp của họ.Vì sau nầy một dạo tôi có dịp được nghe chính  người trong cuộc kể lại rành rọt cho tôi.


 


     Xuân, con mụ Thắm, cô gái cùng nằm trong đội thiếu niên xung kích của xóm Cồn Thiên. Cha Xuân chết từ hồi cô lên năm. Xuân xinh đẹp nhất xóm Cồn Thiên, mà có lẽ đẹp nhất vùng hồi đó. Dù không được học hành nhiều, dù công việc lao động đồng áng nặng nhọc, nhưng trời phú cho cô gái một làn da thách thức với nắng mưa vất vả. Xuân như một quả hồng chín. Càng nắng gió càng nõn nà giòn giã. Đôi má lúm đồng tiền, hàm răng như những hạt bắp sáng ngời và đều đặn. Làm việc nặng nhọc vậy  nhưng tay chân sao mà thon thả. Những ngón tay dài muốt và nhọn hoắt. Mỗi lần cô gái vòng đôi cánh tay thon thon của mình ra gom lúa nhánh  thì có cậu lực điền nào lại không ước mình hóa thành một bó lúa trong vòng tay cô! Hoặc giả  khi cô hé môi cắn một trái  xanh thì cậu nào mà không mê và ước chi mình là một quả ngọt!


.


Thế nhưng trai xóm Cồn Thiên, Xuân chẳng để ý ai .Cô lại yêu Sinh một thanh niên xóm Mõ Cày, sát xóm Cồn Thiên. Sinh con nhà nghèo. Cha hoạt động Cách mạng ít khi thấy xuất hiện trong xóm. Mẹ Xuân, mụ Thắm muốn gả Xuân cho một gia đình giàu có và uy thế cũng thuộc xóm Mõ Cày. Hai xóm nầy chỉ cách nhau một nhánh sông hẹp. Xóm Cồn Thiên ban ngày địch tạm chiếm, ban đêm Cách mạng hoàn toàn kiểm soát. Mõ Cày là vùng địch chiếm đóng. Có lần Sinh và Xuân đã khoanh tay trước mặt mụ Thắm xin cho hai người được kết duyên. Nhưng mụ Thắm nhất định không chịu. Mụ tìm đủ cách ngăn không cho Sinh gặp con gái mụ. Và có lần Xuân bị mẹ đánh đòn khi bắt gặp hai người ngồi chuyện trò ở bến Cửa Trong. Sinh nhất định lấy Xuân cho được. Anh rủ Xuân cùng trốn lên thị xã.


- Anh sẽ đạp xích lô. Em buôn bán lặt vặt gì cũng được.


Nhưng Xuân không nở bỏ mẹ già. Sinh giận dỗi:


- Vậy thì em cứ lấy thằng Thanh đi cho mẹ vừa lòng. Sinh nói hờn người yêu. Xuân chỉ biết khóc. Sinh nói thực lòng:


- Nếu không thì  hai ta cùng chết.


Sinh nắm chặt  cổ tay bạn gái như định kéo Xuân  về phía bờ sông.


Xuân trì tay lại. Sinh nói:


 –Nếu em sợ thì ngày mai anh sẽ chết một mình. Anh nói thực không dọa em đâu Sinh nói như khóc-  Không có em anh không sống nổi. Nhưng anh lại bất lực chẳng làm gì được cả.


Xuân khóc to hơn:


- Anh điên à. Cứ chờ đợi lâu ngày mẹ sẽ ngã lòng mà nghe em.


- Nhưng ba của thằng Thanh chẳng để anh yên đâu. Em không biết anh là con cán bộ Việt Minh à. Cưới em rồi anh sẽ dẫn em cao chạy xa bay khỏi cái xóm Cồn Thiên nầy, may ra sống nổi.


- Em chỉ yêu anh thôi.  Không lấy thằng Thanh nhưng em không bỏ mẹ được.


 Vậy là cuộc tình của Sinh và Xuân đi vào ngõ cụt. Theo ngày tháng hai người chỉ biết gặp nhau lén lút. Gia đình Thanh càng ngày càng gây áp lực với Sính. Cứ một tuần anh phải về xã làm bản khai báo một lần. Thấy tình hình không ổn Sinh quyết định thoát ly. Sinh nói ra ý nghĩ nầy của mình  và Xuân hứa sẽ chờ anh trở về khi đất nước hòa bình.


- Anh sẽ tìm cách về thăm em . Sinh nói với người yêu.


Trước khi lên đường thoát li, Sinh và Xuân lén đưa nhau lên miếu xóm Cồn Thiên và định sẽ tâm sự suốt đêm để tối mai Sinh ra đi. Chính đêm đó Miếu xóm bị pháo kích. Và đó cũng là đêm cuối cùng trước khi hai người chia tay. Bởi sáng hôm sau Pháp đã tổ chức một cuộc càn quét quy mô  vùng Cồn Thiên.


      Mấy tháng sau  tôi cùng anh Sum và mấy người trong nhóm cùng ra Bắc và được cử đi học. Trong chuyến đi học nầy có cả Sinh. Sinh đã kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện tình của anh.


 


Hai mươi năm sau nghĩa là vào năm 1975 đất nước được hoàn toàn giải phóng. Sinh về làm ở Ũy ban huyện Y. Giữ lời thề non hẹn biển với Xuân, ra Bắc anh không lấy vợ. Sinh trở lại xóm Cồn Thiên tìm Xuân thì được biết mụ Thắm đã mất sau khi anh ra đi chừng một tháng.Và tháng sau Xuân cũng bỏ nhà đi luôn. Gia đình Thanh đã di tản theo chính quyền Sài Gòn. Hỏi thăm tông tích Xuân, có người nói cho anh biết  Xuân vào làm sở MỸ ở Đà Nẳng và có một đứa con với lính Mỹ. Hồi đó cứ mười người con gái đi làm sở Mỹ thì có tới tám  chín người đẻ con lai. Thậm chí có người gần năm mươi tuổi vẫn đẻ con lai! Xuân người đàn bà trẻ đẹp lúc ấy mới ba mấy tuổi từ một vùng quê lên thành phố, nếu chuyện người ta kể lại có thực thì cũng chẳng có gì lạ. Sinh buồn trở ra Hà Nội lấy vợ. Ở xóm Cồn Thiên từ đó chẳng ai nhắc đến mối tình của Sinh với Xuân thuở nào  nữa.


         Sau đó một thời gian tôi được cử về làm chủ tịch huyện X, vùng quê có xóm Cồn Thiên.


  Hôm nay huyện tổ chức đón một Việt kiều về nước. Có điều lạ, Việt kiều nầy lại xin Uỹ ban tỉnh và huyện X được về thăm xóm Cồn Thiên. Theo tôi biết thì xóm Cồn Thiên không có ai vượt biên. Nói chung theo điều tra mà huyện nắm thì xóm Cồn Thiên chẳng có gia đình nào có thân nhân ở nước ngoài. Vậy thì tại sao Việt kiều nầy lại xin về thăm xóm Cồn Thiên? Đầu tiên tôi có nghĩ đến cô Xuân năm nào. Nhưng không phải. Tỉnh báo cho biết  người nầy là đàn ông . Mà con của cô Xuân nghe người ta nói là con lai. Vậy thì không liên quan.


 


 Anh Việt kiều tự lái xe con một mình đến Ủy ban huyện. Anh ta trạc lớn hơn thằng Nam con trai đầu của tôi chừng  năm sáu tuổi, tất nhiên mập mạp hồng hào hơn. Tôi bắt tay và ngờ ngợ, giống như tôi đã quen anh ấy một lần đâu đó. Ý nghĩ nầy làm tôi bật cười. Anh ta lứa tuổi con mình lại ở cách đây nửa vòng trái đất. Nếu đem cái ý nghĩ nầy ra nói với mọi người thì họ sẽ cười mình thúi mũi.Thấy người sang bắt quàng làm họ. Nhưng mà sao thấy như quen thật và ngay cái bắt tay đầu tôi đã có thiện cảm. Một điều nữa anh ta nói tiếng Việt khá sành.


- Tôi là Temple Nguyễn. Anh ta giải thích- Temple, Việt Nam mình gọi là  Miếu.


- Anh nói tiếng Việt sành sỏi quá. Tôi cười.


- Thì tôi là người Mỹ gốcViệt mà.


- Nhưng anh lớn lên ngần ấy năm bên Mỹ, tôi nghĩ anh không nói được tiếng Việt. Hoặc là nói được nhưng rất khó khăn.


Anh ta mỉm cười không nói gì. Qua câu chuyện, anh ta ngỏ ý muốn đến thăm xóm Cồn Thiên. Anh ta phát âm hai từ Cồn Thiên cũng rất chuẩn. Tôi hỏi:


- Do đâu anh có quyết định đến thăm xóm Cồn Thiên? Đó chỉ là một xóm nghèo chưa xóa hết dấu bom đạn chứ đâu phải là danh lam thắng cảnh gì mà anh phải vượt nửa trái đất đến đây để tham quan?


- Dạ cũng có chứ


Tôi lắc đầu:


- Anh có nhầm một địa danh nào không? Đảo Cồn Cỏ, hay chùa Thiên Mụ chẳng hạn.


Thanh niên uống một ngụm nước, phong cách uống cũng thật Việt Nam. Anh ta từ tốn trả lời, giọng kéo dài và hơi hạ thấp vẻ đầy tự tin:


- Tôi không nhầm đâu.


Anh ta lại uống thêm một ngụm nước và mỉm cười hỏi tôi, câu hỏi làm tôi sửng sốt


- Xóm Cồn Thiên có miếu Cồn Thiên phải không  thưa ông.


- Vậy thì anh là ai mà biết rõ xóm Cồn Thiên như vậy?


- Như ông đã biết, tôi là một Việt kiều. Một Việt kiều thực thụ không có gì gian dối trong nầy cả.


- Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi, rằng do đâu mà anh biết rõ xóm Cồn Thiên như vậy.


- Cũng dễ hiểu thôi. Ông có biết ở Liên Xô, cũng có một cái bót rất nhỏ. Trong thời kỳ chống Phát xít Đức có một tiểu đội Hồng quân bám trụ tại đây. Họ đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng. Tên đồn bót nầy được ghi vào sử sách Liên Xô. Không những người dân Liên Xô biết mà cả thế giới đều biêt. Đáng tiếc tôi không nhớ được tên cái bót nầy.


- Vậy miễu Cồn Thiên với anh có ý nghĩa như thế nào?


- Nơi đó cũng rất nhiều người hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Điều nầy thì ông biết rõ hơn tôi. Vách miếu xóm Cồn Thiên lở lói những vết bom đạn chồng chất có phải vậy không thưa ông chủ tịch? Tôi là người Việt thì việc tôi biết miếu Cồn Thiên cũng chẳng có gì  lạ .          


 - Vậy anh là ai. Hãy nói thật tôi nghe.Tôi kinh ngạc hỏi.


Trước thái độ gần như hốt hoàng đầy nghi ngờ của tôi. Thanh niên Việt kiều vẫn mỉm cười lịch sự:


- Thưa ông, tôi là người được sinh ra tại đó. Mẹ tôi cũng từng chiến đấu tại đó. Và tôi luôn luôn nhớ câu  nhắc nhủ của mẹ tôi rằng: Dù con có sinh sống ở đâu thì hãy nhớ, lá vẫn rụng về cội. Là thế đấy ông chủ tịch ạ.


Một chớp nhoáng sáng lên trong óc tôi đủ soi rọi những khuôn mặt trong quá khứ và kết nối thành một câu chuyện. Tôi bắt đầu tìm hiểu sự thực vè câu chuyện đó:


- Anh cho tôi hỏi điều nầy và anh đừng nghĩ rằng tôi điều tra lí lịch của anh nhé.


- Vâng ông chủ tịch cứ hỏi.


-  Hiện giờ người mẹ của anh đang ở đâu?


Thanh niên hớp một ngụm nước. Hình như nước trà chúng tôi pha đậm đặc khiến anh hơi nhăn mặt:


- Mẹ tôi mất từ lúc tôi tròn chín tháng tuổi. Tôi được nhà chùa nuôi dưỡng cho đến lúc lớn lên, rồi lo cho tôi xuất ngoại ăn học.


- Vậy thì anh làm sao biết được lai lịch của mình?


- Trước khi tôi xuất ngoại sư nữ trụ trì chùa có chuyển lại cho tôi một số kỷ vật của cha mẹ tôi. Trong đó có cuốn nhật ký của mẹ. Và lời bà dặn dò tôi chính là câu cuối cùng của cuốn nhật ký ấy.


Tôi bật đứng dậy nôn nóng như một kẻ muốn nhảy sang bên kia sông vì không đủ kiên nhẩn lần từng bước trên chiếc cầu đã bắc sẵn:


- Vậy anh chính là con của…


Thanh niên gật đầu cướp lời:


- Dạ. Mẹ tôi nói đùa trong cuốn nhật ký của bà là tôi được sinh ra từ những mảnh đạn moọcchê dưới chân miếu Cồn Thiên, trong một đêm trăng ông ạ.


               Tôi đã hiểu.  Và có lẽ tôi hiểu câu nói ấy của Xuân mẹ Nguyễn, còn hơn cả cậu ấy.


 Trong đầu tôi chợt hiện ra cái đêm miếu Cồn Thiên bị pháo kích năm đó. Dưới ánh trăng úa bầm nhợt nhạt, không khí ngạt mùi thuốc súng, tiếng nổ long trời của những quả pháo vẫn không át được tiếng rên rỉ hạnh phúc của hai con người. Những mảnh pháo làm sao không thể không  ghim vào tim, vào óc của Xuân và Sinh  ý nghĩ về sự chia lìa!  Điều đó khiến họ đã hòa nhập vào nhau làm một. Để cùng sống hoặc cùng chết. Để không cái gì có thể chia lìa được họ. Và cậu Temple Nguyễn nầy đã được sinh ra như một chiến thắng của tình yêu của họ.


    Nhưng buồn thay sức mạnh của tình yêu không phải  lúc nào cũng chiến thắng được số phận!


 


 Ngày 20/02/11


NBT.


  


 


  


 


 

trieuxuan.info