Quê vợ tôi có ngôi nhà thờ họ khá đồ sộ và cổ kính, có lẽ đã được vài trăm năm tuổi rồi. Ông nội của vợ tôi chính là người coi giữ, được mọi người gọi là ông thủ từ - cái tên gọi mà tôi cứ băn khoăn mãi, chẳng biết có đúng không, vì tôi cứ nghĩ thủ từ là người coi đền coi chùa cơ. Nhưng thôi, cái tên gọi đâu có là quan trọng. Đã ngót tám mươi, nhưng nhờ trời, mắt ông còn sáng, sức khoẻ của ông cũng chưa đến nỗi nào, và điều đáng mừng nhất là đầu óc ông vẫn còn minh mẫn lắm. Chính nhờ vậy mà ông đã có thể làm được rất chu đáo cái phận sự thủ từ đó của mình (mà phận sự này ông đã nhận từ bốn năm chục năm nay, không hiểu là tự ông xung phong hay do họ hàng giao phó).
Mỗi năm dăm bảy bận - ngày tết, ngày hội, ngày giỗ tổ, các dịp hiếu hỷ,... - bất cứ khi nào về quê tôi đều tranh thủ cơ hội để được hầu chuyện ông ít phút. Gần ông, hợp ông, tôi dần dà đã phát hiện ra một điều là: bên cạnh vẻ linh lợi, cần mẫn, chu đáo, nhiệt tình, dường như trong ông vẫn có đôi điều bức bối, uẩn khúc nào đó, hoàn toàn không đơn giản. Quả đúng vậy: sau nhiều lần bị tôi khéo léo gặng hỏi, cuối cùng ông thú nhận: Sở dĩ bao lâu nay ông vẫn cố gắng thực hiện nghiêm chỉnh phận sự này của mình, cũng bởi một lời nguyền, và cũng là một sự trông đợi mà ông đã đau đáu mấy chục năm trời trong chịu đựng...
Ông hỏi tôi:
- Anh có biết nhà thờ tổ đây là của dòng họ nào không?
Câu hỏi thực kỳ! Bố vợ tôi là ông Nguyễn Chi Ngay, vậy đây là nhà thờ tổ của dòng họ Nguyễn Chi chứ còn của dòng họ nào nữa? Nghĩ vậy, nhưng không dám nói, tôi chỉ nhìn ông trân trân, chờ đợi.
Ông dẫn tôi ra ngoài, rồi quay lại, trỏ lên cao trên mái, hỏi tôi có đọc được rõ các hàng chữ trên đó không.
Đến lúc này tôi mới trách mình quả là một chàng rể vô tâm của dòng họ: bao nhiêu năm qua lại nơi đây mà chưa một lần chú mục đọc cho kỹ mấy hàng chữ mờ mờ đó. Phía trên cùng là một hàng chữ tàu mà tôi hoàn toàn mù tịt, ông đọc và dịch nghĩa cho tôi hiểu: Nhà thờ tổ của dòng họ Nguyễn Chi và Cao Thu. Phía dưới là một hàng chữ tây mà tôi có thể bập bẹ đánh vần được cho dù không hiểu, nhưng chắc rằng nghĩa cũng tương tự: LE TEMPLE DES FAMILLES NGUYEN CHI ET CAO THU.
Một nhà thờ tổ chung cho hai dòng họ? Chuyện tôi mới biết đây quả là có một! Đương nhiên, trong nhiều dịp gặp gỡ trước đây, tôi cũng đã tiếp xúc và chuyện trò với một số người mang họ khác vẫn thường vào viếng lễ, nhưng tôi cứ nghĩ đơn giản: họ giống như tôi, nếu không là dâu rể thì cũng là bạn bè dây mơ rễ má gì đó cả thôi.
Té ra chuyện được ông kể là như thế này:
Trước kia, ngôi nhà thờ tổ này là của riêng dòng họ Nguyễn Chi. Ông còn nhớ khi đó tóc ông vẫn còn để chỏm mà dòng họ thì đã sa sút nhiều, chẳng có một ai trong họ có được một chút chức sắc trong làng, dù là bé nhất. Trưởng họ là thày đồ Đối. Không biết thày đồ tên chữ là gì, chỉ biết dân làng đều quen gọi như vậy, cũng bởi thày cực giỏi về khoản câu đối. Nghe nói tài đối chữ của thày nổi tiếng không chỉ khắp vùng, mà còn được cả nước biết tiếng (thậm chí còn nghe nói, thời đó thiên hạ nhiều người do thán phục thày nên cũng quen gọi tên làng của thày như vậy - tức là làng Đối - vì ngoài thày ra, trong làng cũng có không ít người rất ham và rất giỏi về khoản này, nên thường xuyên đoạt hết các giải thi đối chữ ở quanh vùng - dĩ nhiên thày bao giờ cũng là người nổi trội nhất). Tiếc rằng thời đó bên Tàu chẳng còn là các triều Minh, Thanh nên thày chẳng có cơ hội dẫn các đoàn sứ bộ của ta sang ngoại giao, trổ tài đối chữ cho bọn ngoại bang phải tròn mắt phục tài, cho rạng danh làng nước của mình... Thày văn hay chữ tốt, nhưng số lại long đong, lận đận, thi cử bao lần đều hỏng. Bụng ôm bồ chữ to, nhưng thày đành chỉ biết chọn cái nghề hàng ngày chổng mông mài mực gõ đầu trẻ. Vậy mà học trò của thày lúc nào cũng đông, nhiều người đỗ đạt, lên quan. Đáng buồn là số thành đạt toàn người phủ khác, tổng khác; con cháu dòng họ Nguyễn Chi nói chung đều lười và học dốt! Bù lại cái số nghèo và long đong, thày lại có đức thương người, và hơn nữa, lại rất có duyên. Chính vì vậy mà bên cạnh bà cả hơn thày trên chục tuổi, được bố mẹ dạm hỏi cưới xin đàng hoàng cho, thày còn tự kiếm thêm được một bà hai kém tuổi thày cũng tầm chừng đó, xinh gái và hay lam hay làm đáo để. Có điều, việc hôn nhân lần sau này không được các bậc trên trong họ tán thành, và nghe nói cũng bị nhiều điều tiếng, nhất là từ khi bà hai hấp thụ ngọn gió duy tân, muốn "bác cổ", tức là trèo lên đầu bà cả để ngồi ngôi chính thất. Trước cuộc chiến giữa hai bà, thày chỉ là cái bị bông đứng hứng chịu sự xâu xé của cả hai bên, búi tóc củ hành năm xưa chỉ còn chỏng trơ đôi ba sợi, thôi thì bịt tai nhắm mắt thây kệ hai bà... Suốt đời thày luôn coi đó là cái sỉ lớn nhất của mình, là nỗi đau mà thày rất sợ ai đó vô tình hay cố ý chọc vào.
Nhưng về tài đối chữ của thày thì tuyệt, có thể kể suốt năm không hết. Những câu đối của thày không chỉ hay, thâm thuý, sâu sắc, mà nhiều lúc còn rất dí dỏm, dân dã. Dân làng còn hay nhắc lại chuyện đối chữ chơi khăm lão buôn vôi sau đây: Hội làng năm đó có lão buôn vôi, nhân chuyến hàng qua làng đã tranh thủ cho thuyền cập bến vào xem. Biết tên tuổi của làng, nhưng cậy mình cũng có dăm ba chữ trong bụng cùng cái hầu bao rủng rỉnh nơi cạp quần, gã đã ngông nghênh dùng những lời khiếm nhã thách đố mọi người đối lại một câu của gã, thậm chí còn treo thưởng một khoản tiền khá lớn cho ai đối được. Gã giao hẹn: nếu không ai đối nổi thì từ nay hãy bỏ cái tên làng Đối kia đi! Quả là xấc xược, nhưng luật chơi là vậy, mọi người vẫn phải chấp thuận. Vế ra của gã là: Vôi tôi tôi tôi (nghĩa là vôi của tôi thì tôi cứ việc tôi - tôi là động tác trộn vôi cục với nước, như ta vẫn làm để lấy vôi ăn trầu, để xây cất hoặc trộn thêm chất nào khác vào để làm gì đó). Câu đối cũng hiểm, vì chỉ có 4 chữ mà 3 chữ lại giống nhau, nhưng nghĩa của chữ tôi ở cuối lại khác. Giọng điệu thì rõ ràng là láo lếu, thách thức và khinh người: Việc tôi tôi làm, các người chớ mà thóc mách! Nghe rõ tức! Một anh học trò xứ trong vốn là rể của làng, cũng người hay chữ, đã nôn nóng đọc ngay vế đối mà anh tự xem là tuyệt hảo: Trứng bác bác bác (nghĩa là quả trứng của bác thì bác cứ việc bác - bác theo tiếng của vùng quê anh ta, là một cách chế biến trứng để ăn, tương tự như các cách chế biến khác: luộc trứng, tráng trứng, chưng trứng,...). Có điều, vì nhiều người không hiểu nghĩa của chữ bác đó, nên anh ta phải giải thích mãi; và dù có giải thích được rồi, họ cũng chưa chịu phục. Tất nhiên sau đó chúng khẩu đồng thanh đòi thày đồ Đối phải ra tay. Cũng cần nói thêm rằng lão buôn vôi là một gã trăng hoa, quen thói già chơi trống bỏi, dân làng chẳng lạ gì các chuyện lăng nhăng của gã với bao người ở những vùng mà gã đã ghé qua, mà ở mỗi vùng đó gã đều để lại vài ba chứng tích về những mối tình ngắn ngủi của mình. Lần này gã cũng đang tấp tểnh muốn ve vãn mấy cô ở làng này! Nhân đây thày cũng muốn cho gã một bài học nhớ đời. Vế đối của thày đưa ra là: Vợ ấy ấy ấy. Nghe xong, tất thảy mọi người đều ào lên reo thưởng, khoái chí. Chỉnh quá đi chứ, mà lại dân dã, dễ hiểu nữa. Vì đó cũng là lời răn đe của dân làng Đối với lão lái buôn trai lơ đáng ghét kia: hãy về mà tí toáy ở nhà, bỏ thói lăng nhăng nơi thiên hạ đi, nhất là hãy cạch cái làng này! Dĩ nhiên là lão tiu nghỉu chịu thua. Chỗ tiền thưởng kia, thày nhận và nộp làng 3 phần, còn một phần cho bọn trẻ con mua bánh đa kẹo bột chia nhau ăn mệt nghỉ.
Nhưng sinh vi nghệ, tử vi nghệ, tai hoạ cũng từ chuyện câu đối mà ra.
Số là một sáng nọ, dân làng vớt được ở bến sông một đứa trẻ gày nhom không biết bị trôi dạt từ đâu tới. May mà nó vẫn còn thoi thóp. Theo sự hướng dẫn của thày đồ, người ta đã cứu sống được nó. Lại do vốn thương người, thày nhận mang nó về nuôi, cho dù như đã biết, nhà thày cũng nghèo lắm. Vậy là một thằng bé tứ cố vô thân vừa qua cơn thập tử nhất sinh bỗng may mắn có nơi nương tựa. Trí nhớ non nớt của nó chỉ đủ kể cho mọi người biết rằng nó là một đứa trẻ không cha, mẹ nó không nuôi nổi nên đã đem cho một ông thuyền chài ở mạn ngược và chỉ nhắn gửi lại ông ta tên của cái thằng vô lại đã làm bà đẻ ra nó rồi cuốn xéo luôn, cái tên của một thằng cha Cao Thu gì đó. Nghĩa là họ của nó là Cao Thu. Thế là thày đặt tên luôn cho nó là thằng cu Nhặt: Cao Thu Nhặt. Còn việc bị ngã xuống sông và trôi dạt về đây như thế nào thì nó hoàn toàn chẳng nhớ gì. Thày nuôi nó và cũng thương nó như lũ con trong nhà, cho ăn và cho học chẳng kém đứa nào. Nhưng óc của nó chắc là quá đặc, nên chữ được thày dạy thì cứ chui vào chưa nóng chỗ đã ù té chui ra ngày, óc rỗng vẫn hoàn óc rỗng, chẳng lưu lại nổi lấy một hột chữ nào. Cũng may, bù vào đó, dạ dày của nó lại quá phàm, nên cơm cà dưa muối nhà thày dù rất đạm bạc vẫn giúp nó ngày một cứng cáp, khoẻ ra và phổng lên trông thấy. Khi đã lớn, một bữa nó khoanh tay lễ phép thưa với thày:
- Thưa thày, nay con đã lớn. Nhà ta lại quá nghèo, công việc trong làng thì chẳng có. Con chẳng thể phụng dưỡng thày, càng chẳng thể sống ăn bám mãi như thế này. Xin thày cho con được đi nơi khác kiếm công ăn việc làm. Chừng nào ăn nên làm ra, con sẽ xin về báo đáp thày sau.
Nghe câu thưa gửi chững chạc của cậu con nuôi, ông thày đa cảm hởi lòng hởi dạ, lập tức dẫn nó ra nhà thờ tổ thắp hương, căn dặn nó từ nay hãy coi đây chính là quê cha đất tổ của mình, rồi dúi cho nó mấy đồng bạc nhàu nát, cuối cùng thày buông tay thở dài nhìn nó thất thểu rời làng với cặp mắt bùi ngùi thương cảm lắm.
Rồi nhiều năm trôi qua, giặc giã và loạn lạc. Một hôm bỗng có một chiếc xe díp lạ chạy thẳng từ đường cái quan vào giữa làng, rồi đỗ xịch ngay trước nhà thờ tổ. Bước xuống là một ông trung niên đội mũ phớt, mặt gày quắt nhưng đỏ như gà chọi. Ông xưng danh là đội Liêm và nhờ người đi mời thày đồ Đối cùng các cụ trong họ lại để thưa chuyện. Té ra đây chính là thằng cu Nhặt đã được dân làng cứu sống và được thày đồ Đối cưu mang ngày nào; nay thằng cu Nhặt đó đã thành đạt, đổi tên là Liêm, đóng chức đội (chắc là đội xếp), tìm về đáp nghĩa. Đội Liêm kính cẩn vái thày, xin phép thày và ông thủ từ cho vào dâng lễ. Lễ khá to: có rượu canh-ki-na, bia con cọp, thuốc lá bastô, xà phòng con cóc và trăm thứ bà rằn khác, thảy đều rất sang, rất lạ, nhất là trước con mắt của lũ trẻ con. Lễ dâng xong, đội Liêm vào chuyện luôn:
- Kính thưa thày, kính thưa các cụ. Từ ngày ra đi con luôn tâm niệm đây chính là quê cha đất tổ của con, như lời thày đã dạy. Hôm nay, trên có thần linh, dưới có thày và các cụ chứng giám, con xin phép được sửa sang tu bổ ngôi nhà thờ này để rồi đây con cháu con cũng được có chốn có nơi để đời đời hướng vọng.
Mọi người còn ngớ ra chưa hiểu đầu cua tai nheo thế nào thì gã đã nói toạc ngay:
- Từ nay, đây sẽ là nhà thờ tổ chung của cả hai họ Nguyễn Chi và Cao Thu. Đó chính là ước mong mà con muốn trình thưa các cụ.
Thường ngày thì giỏi miệng đàm tiếu, tranh cãi lý sự, châm chọc chỉ trích nhau, nhưng lúc này không hiểu sao tất cả mọi người bỗng dưng chỉ biết ớ ra, tròn mắt nhìn nhau, miệng lúng búng như ngậm hột thị. Ai đời nhà thờ tổ của dòng họ nhà mình mà bỗng dưng nó lại dám đòi dùng chung cho dòng họ nhà nó, cái dòng họ Cao Thu cha căng chú kiết chẳng ai hay gốc gác tự đâu! Cái lối đòi hỏi trâng tráo và ngang ngược kia rõ ràng chỉ có ở bọn Việt gian bán nước. Song le người họ Nguyễn Chi này vốn nhát gan, có bao giờ dám động đến ai, xưa nay chỉ quen sự dĩ hoà vi quý, nên tất cả chỉ còn trông ý ở thày đồ. Trong lúc thày chưa kịp có phản ứng gì thì gã đã nói tranh luôn:
- Con cũng hiểu là ước nguyện của con không dễ bề được chấp nhận ngay, nên con muốn thày và các cụ cho con một cơ hội, là tổ chức một cuộc thi đối chữ, như truyền thống xưa nay của làng. Nghĩa là con ra một câu, nếu có người đối được thì quyết định chuyện kia thế nào sẽ là tuỳ các cụ. Còn nếu không thì...
Quả là trâng tráo. Hoá ra trong bao năm trời, mọi người đã cưu mang phải một thằng mất dạy. Nhưng lệ là lệ, thày đồ tức uất người, vốn dĩ đã kiệm ngôn nên càng không nói được câu nào, đành chỉ mong và tin rằng bằng tài trí của mình sẽ dạy được cho nó một bài học như xưa nay đã từng làm với bao kẻ vô lại khác.
Đã chuẩn bị trước, gã lôi từ trên xe xuống một tấm gỗ sơn, trên đã ghi mấy chữ quốc ngữ nhưng được viết loằng ngoằng theo kiểu tàu (mà thời nay được nhiều người gọi tên là thư pháp An Nam!). Gã đánh vần cho mọi người nghe những chữ đã được vẽ trên đó, tức là vế ra của gã: Vợ cả vợ hai, cả hai đều vợ cả.
Khốn nạn, hoá ra là nó chửi thày, chọc đúng chỗ sỉ của thày mà nó từng đã biết. Bao năm trời nhường cơm sẻ áo, đùm bọc thương yêu, thầy đâu ngờ đã nuôi ong tay áo một thằng khốn nạn. Không hiểu nó thù thày chuyện gì, từ lúc nào, mà nay bỗng nhiên dám trâng tráo nhè đúng tử huyệt của thày mà xỉa thẳng nhát dao hèn hạ vô luân như vậy. Thày run run giơ tay trỏ mặt thằng phản phúc, nhưng chưa nói được câu nào đã ngất xỉu. Được dìu về nhà, khi đã tỉnh, thày gọi ông tôi lại dặn:
- Âu cũng là nghiệp chướng, có lẽ thời xưa họ nhà ta đã có nợ nần gì với chúng nên nay mới nên nông nỗi này. Thôi thì nó muốn làm gì thì làm, họ mình giờ yếu lắm, chẳng thể trông cậy vào ai, không dây với hạng Việt gian ấy được đâu. Có điều chú là người duy nhất còn ít chữ nghĩa, lại còn sức, cố sống mà trông nom gìn giữ nơi hương khói cho tổ tiên cha ông. Tôi đành ôm mối hận này mà ra đi, trách mình không thể làm gì khác. Nhưng sông có khúc người có lúc, tôi tin chắc nếu nhà thờ họ của ta vẫn được giữ gìn, hương khói thường xuyên thì nhất định sẽ có ngày hận này được trả. Chú đừng phụ lòng tôi, dưới suối vàng tôi cũng xin gắng sức...
Rồi thày nói thêm:
- Thực ra tôi mới là người đắc tội lớn với tổ tiên. Bởi vậy, sau khi tôi mất, chú hãy kiếm trồng giúp tôi một cây roi ở sân sau nhà thờ, đó là cách thôi thúc tôi ở dưới kia không được xao nhãng phận mình, và cũng là nhắc nhở con cháu đời sau không được quên mối hận này...
Dứt lời, thày nhắm mắt, lặng lẽ từ giã làng nước. Lo liệu cho thày xong, ông lặn lội sang các làng bên, nhờ vả bao người, cuối cùng mới tìm được một cây roi đường giống quý mang về trồng theo lời thày dặn. Rồi ít năm sau nữa, khi ông thủ từ già qua đời, ông nghiễm nhiên nhận thay công việc đó cho đến tận bây giờ.
Vậy là thằng phản phúc của dòng họ Cao Thu kia đã thắng. Gã cho làm lại tên của nhà thờ tổ như đã biết và cho dựng tấm gỗ sơn báo hại kia lên chiếc cột cái nằm ngay giữa điện thờ, như để ghi lại chứng tích của một tên lừa thày phản bạn - và đối với họ Nguyễn Chi, nó như là chiếc gai chọc thẳng vào mắt vậy. Mỗi dịp lễ tết, hội hè của làng Đối này gã đều rất chăm về, lần nào về cũng kéo theo rất nhiều lâu la, và cũng liên tục bổ sung cho kho đồ thờ ngày một nhiều vật mới: nào chiếc mề đay mạ bạc, nào thanh kiếm gãy chuôi đồng, nào những bức tượng gỗ, tượng ngà không biết được nhặt nhạnh tự đâu về. Thời buổi loạn lạc, người tứ xứ về ngụ cư cũng lắm, nên dần dà qua lại nhà thờ họ không chỉ có con cháu nhà Nguyễn Chi và thằng phản phúc họ Cao Thu kia, mà còn có nhiều người lạ hoắc, ta có, tây có. Hình như thời nay không chỉ xem ké, chơi ké, ăn ké, ngủ ké, mà thờ ké cũng đã thành cái thú được nhiều kẻ thích thú. Ông thủ từ chỉ biết ngày ngày cần mẫn vào ra, lặng lẽ quét dọn trông nom, ai dâng lễ thì nhận, không thiết phí lời với kẻ lạ. Nhưng dân làng thì tò mò và lắm tai lắm mắt, nên họ biết nhiều chuyện lắm. Nào là: đội Liêm chẳng qua chỉ là một tên chỉ điểm, đã hại được những ai, đã vơ vét được những gì. Nào là: những ông những bà hay đến đây dâng lễ là người ở đâu, làm nghề gì, vì sao lại đến thờ ké như vậy. Hoá ra ngoài dân họ Nguyễn Chi và thằng đội Liêm tức Cao Thu Nhặt ra, những người kia cũng đều mang họ nhà Cao: người thì là Cao Chiếm, Cao Tham, kẻ thì là Cao Phi, Cao Tẩu, rồi Cao Kiện, Cao Vu,... đủ cả. Bảo họ vào đây thờ ké có thể là oan, vì có lẽ họ đã được ai mách bảo nên đều nghĩ rằng tất thảy các nhà Cao ấy đều là chi dưới của họ Cao Thu đang phất lên kia. Chuyện này thôi không nói nữa. Chỉ biết rằng từ đó nhà thờ họ ngày một khang trang, thường xuyên có kẻ ra người vào, việc thờ chung rồi cũng thành quen, và ông thủ từ vẫn cần mẫn thực hiện chức năng của mình với nỗi uẩn khúc trong lòng chẳng biết ngỏ cùng ai.
Trước ngày hoà bình, một hôm đội Liêm dẫn về giới thiệu với dân làng cậu quý tử của mình, tên gọi Cao Thu Mưu, đó là một thằng choai choai giống cha như lột, dáng thì lùn tịt và mắt thì cứ luôn liếng láo. Gã thưa với các cụ:
- Con chuyên về đằng võ, cháu Mưu nó lại có thiên hướng về đằng văn, âu cũng là điều hay: võ thì vất vả, hiểm nguy, họa tử bất kỳ; văn thì an nhàn, thanh cao, dễ bề giữ gìn phúc tổ. Có chữ nghĩa, con tin rằng cháu nó sẽ có ngày làm rạng danh làng nước.
Thằng con cúi đầu gật gật, miệng lí nhí mấy câu theo bố, ý giả tỏ ra mình cũng là con nhà có dạy.
Thiên hạ kháo nhau: Chữ nghĩa quái gì nó, học dốt như chó, bập bẹ được mấy tiếng tây giả cầy nên được bố xin cho làm chân nhặt bóng quần cho bọn Phú-lang-sa ngoài Hà Nội, mong nhồi nhét thêm dăm ba tiếng xì xồ nữa rồi sẽ chạy lấy một chân thông ngôn kiêm chỉ điểm như bố nó thôi…
Bẵng đi một thời gian dài, không thấy gã về làng. Rồi nghe tin gã chết, chết mất xác vì bị vấp mìn du kích khi dẫn đường cho tây đi càn ở đâu đó, ấy là thiên hạ đoán già đoán non vậy.
Hoà bình, rồi chiến tranh chống Mỹ, cũng chẳng có tin tức gì thêm về bố con gã. Có điều lạ là suốt mấy chục năm loạn lạc, cả bom Tây bom Mỹ đều tránh ngôi nhà thờ họ chung này. Tất nhiên những hư hại nho nhỏ, như một bên mái sụt, mấy chiếc kèo rơi khi bom rơi đạn nổ ở gần là chuyện chẳng thể tránh khỏi. Và điều kỳ lạ nhất là đồ thờ tuy bị mất nhiều, kể cả chiếc lư hương què, bức hoành phi mọt đều bị khoắng mất, nhưng tấm gỗ sơn cùng hàng chữ ngang ngược, trêu ngươi mà gã đội Liêm dựng trên chiếc cột cái giữa nhà hồi nào thì vẫn yên vị, không hề hấn gì. Riêng cây roi đường thì từ ngày trồng rất xanh tốt nhưng chưa một lần bói quả, cứ lù lù vô tích sự một mình chiếm trọn cả khoảng sân sau.
Thế rồi nước nhà thống nhất. Trong dòng người lần lượt về làng, có cả thằng Mưu. Nhưng bây giờ không phải là thằng Mưu choai choai mũi thò lò ngày nào, mà là ông Tổng Giám đốc Mưu lùn một mẩu, béo núc ních, dáng bệ vệ đầy uy quyền của một Tổng Công ty xuất nhập khẩu trên tỉnh. Ông chỉ về thăm quê thôi, vì đã có biệt thự to trên tỉnh rồi. Bắt chước bố năm nào, sau khi dâng hương lễ tổ, ông cũng xin phép được đóng góp, tu tạo lại nhà thờ, dĩ nhiên khoản đóng góp của ông bây giờ to lắm, nên chẳng ai dám chê. Thực ra chỗ bạc tỷ kia với mọi người là ghê gớm, chứ với ông chỉ là muỗi. Nhân thể, ông xin làng cấp cho một chỗ cao ráo để rước bố về, bố ông đã hy sinh trong kháng chiến, nhưng giấy tờ thất tán, thủ tục lằng nhằng quá nên ông chỉ muốn xây mộ như mọi dân thường. Ông giải thích sao thì mọi người biết vậy, chẳng ai rỗi hơi mà tìm hiểu. Tuy nhiên, tiếng là mộ như mọi dân thường, nhưng đó lại là cái lăng to và đẹp nhất làng, và thậm chí có thể là nhất huyện nữa.
Bây giờ làng nước khác xưa, tỉnh cũng chẳng phải là xa, nên chỉ ít bữa sau người ta đã nhặt nhạnh được khá nhiều tư liệu về ông Tổng Giám đốc Mưu này: hồi chống Mỹ thì “B quay”, sau chạy được chân vật tư ở một xí nghiệp, rồi nhờ láu cá và dẻo mồm nên đã cưa được cô con gái quá lứa nhỡ thì của ông Giám đốc; rồi chẳng hiểu bằng cách gì (chắc cũng không ngoài những thủ đoạn tráo trở, lọc lừa - vì như các cụ đã dạy: cha nào con ấy - khi đã mang dòng máu phản phúc của thằng bố Nhặt trong người...) mà giờ đây tất thảy đều đã lọt vào tay ông, xí nghiệp thì thành Tổng Công ty tư nhân của riêng ông, còn cô vợ già và xấu kia đã được ông cho nghỉ, nghĩa là đã được ông tạo điều kiện để trở thành cô công nhân xuất khẩu ở nước ngoài, chắc chắn là một đi không trở lại nữa. Bây giờ thì ông phóng túng quá trai tân.
Thời đại văn minh, khoa học, nên ai cũng cần bằng cấp, nhất là với những kẻ giàu sang hãnh tiến, thừa tiền nhưng thiếu chữ. Khoản đó thì đúng là chỗ mạnh hơn hẳn của dòng họ Cao Thu kia, khi dòng họ này đã may mắn có được ông Tổng Giám đốc Mưu đoản người nhưng ranh ma, tháo vát. Chuyện từ đây trở đi thì tôi có biết, vì từ khi làm rể làng này tôi cũng được nghe nhiều, và chính tôi cũng đã được dự một buổi lễ mừng mấy năm trước của ông. Bữa đó ông tổ chức rôm rả lắm, lý do là ông mới thi đoạt được tấm bằng Cử nhân. Sau buổi lễ mừng, ông đã trịnh trọng treo lên tường điện thờ bức ảnh màu chụp phóng to tấm bằng với hàng chữ CU NHAN KINH TE đó. Người thóc mách và hay nhiễu sự thì kháo nhau với giọng mai mỉa: "Ông Tổng Giám đốc Mưu mới kiếm được... bằng CU đấy!" Thoạt nghe thì hơi nhảm, nhưng thực ra cái gì cũng có căn nguyên của nó. Nguyên là ông Tổng Giám đốc với tấm bằng bổ túc ban đêm kiếm được từ thời còn đứng chân chạy vật tư, với ưu thế trời phú là dẻo mồm tốt mã, nhân lớp đại học tại chức mở ngay trong tỉnh, đã kết bạn được với con gái một ông giáo sư. Cô tuy còn trẻ, nhưng đã là giảng viên một trường Đại học. Thấy ông Tổng Giám đốc hào hoa ham học, ai chẳng quý và thông cảm! Hơn nữa, theo cô, một nhà làm ăn kinh tế, phần tư duy khoa học trừu tượng có thể chậm, nhưng bù lại được phần chân tay thực dụng không chậm là tốt quá rồi, cho nên bài vở của ông trước sau đều được cô lo cho tuốt tuột. Còn ông phụ huynh giáo sư khả kính và vô tâm kia thì lúc nào cũng nhiệt tình, dễ dãi, chỉ lo mỗi điều con gái của mình bị ế chồng. Theo giáo sư thì vung nào mà chẳng là vung, miễn sao cái nồi nó gật là được. Vậy nên tấm bằng Cử nhân đó ông Tổng Giám đốc Mưu đã kiếm được khá nhẹ nhàng, chẳng mất đồng nào, thậm chí hơn thế nữa, khi nhận được nó, ông còn nghiễm nhiên được kết nạp ngay vào hàng ngũ trí thức, vì ông đã trở thành con rể một giáo sư có tiếng.
Từ đây, mỗi khi vào nhà thờ tổ, dân họ Nguyễn Chi chỉ biết cúi mặt, chẳng dám nhìn lên tấm bằng loè loẹt kia, cũng như lâu nay cứ phải quên đi tấm gỗ sơn cùng dòng chữ loằng ngoằng trêu ngươi treo nơi cột giữa như chọc vào mắt mọi người. Của đáng tội, bây giờ họ Nguyễn Chi đâu thiếu các cậu tú, cô cử, nhưng nhà nào cũng nghèo, nên tiền đâu, công sức đâu để đánh đu với yêu tinh chứ. Vẫn biết là con gà tức nhau tiếng gáy, nhưng thời buổi kinh tế thị trường, mạnh vì gạo bạo vì tiền, thì lực yếu làm sao con gà gầy nhom có thể gáy to gáy hay được. Vả lại cũng chẳng thể bổ tiếng gáy đó ra mà ăn. Cho nên nghèo thường đi với hèn, hận đấy tức đấy nhưng cũng đành nén chịu vậy. Người dòng họ Nguyễn Chi vốn thờ chữ Nhẫn, nên dù ấm ức vẫn không lộ ra mặt, và trong lòng vẫn không tắt hy vọng ở một ngày mai vật đổi sao dời...
Lại nói tiếp về con đường phát triển học vấn, chữ nghĩa của họ nhà Cao Thu: tuần trước, nhân dịp về quê ăn giỗ, tôi lại tình cờ được chứng kiến lễ mừng thứ hai cũng do ông Tổng Giám đốc đã có mác trí thức Mưu kia tổ chức. Lần này ông chở về cả một xe bia, nước ngọt, các thứ đồ hộp và bánh trái. Lần đầu tiên nhiều người trong cả họ mới được biết thế nào là tiệc cốc - tai. Trong buổi lễ mừng này, ông trịnh trọng dâng trình một tấm bằng mới, to và đẹp hơn hẳn tấm bằng năm trước. Bên cạnh hàng chữ quốc ngữ: TIEN SY KINH TE còn có cả một hàng chữ tây to tướng: DOCTEUR EN ECONOMIQUE, ý hẳn nói rằng đây là tấm bằng được cả ta và tây cùng trao, như kiểu lưỡng quốc trạng nguyên ngày xưa ấy. Bia vào lời ra, được các cụ hỏi han về tấm bằng danh giá này, ông Tổng Giám đốc cũng xả lả nói vui:
- Chữ nghĩa thì dài và khó nhớ, xin các cụ cứ giản tiện gọi đây là bằng Đốc cũng được! Đốc là đốc tờ, tiếng tây, có nghĩa là tiến sỹ ấy mà.
Rồi bốc lên, ông khoe:
- Bằng này của con cũng như cái bằng lần trước, đều là bằng tối ưu siêu hạng cả đấy. Bằng này con được trao trong nước, theo kiểu liên doanh giữa ta với nước ngoài, nên không có dấu hiệu đặc biệt. Lẽ ra nếu ở tây là phải khoanh son, gọi là bằng đỏ, thì mọi người mới dễ nhận ra, cũng giống như những bình sứ vệ sinh ở các khách sạn trên tỉnh đều có dán chữ CU (ý ông muốn nói chữ Q – Quality!) nghĩa là ghi nhận về chất lượng tuyệt hảo vậy. Xin các cụ nhớ cho, cả hai tấm bằng của con đều là bằng CU, và đều thuộc loại CU chính hiệu cả đấy!
Bia say và bánh ngon, mải thưởng thức món cốc - tai, nên các cụ cũng đều ậm ừ xuýt xoa tiếc rẻ theo... Chỉ có mấy người lắm chuyện và hay nhiễu sự là phá lên cười, rồi nháy nhó với nhau, thầm thì to nhỏ. Tôi nghe loáng thoáng, câu được câu chăng, nhưng cũng hiểu được đôi phần. Nghĩa là cái bằng ĐỐC (DOCTEUR) lần này cũng chẳng khác gì hơn cái bằng CU (CU NHAN) lần trước. Thay vì lần trước được cô vợ làm hộ, thi hộ, thì lần này ông lại được sự bảo trợ và lo lót của chính vợ một ông giáo sư trong hội đồng. Chẳng là ngài giáo sư trực tiếp hướng dẫn ông vì quá say mê khoa học nên ít quan tâm đến cái sự nhà. Sau mấy lần tiếp kiến thầy, ông Tổng Giám đốc đã tìm ra con đường thuận tiện nhất cho sự nghiệp phát triển học vấn cấp cao của mình, ấy là phải thông qua bà vợ của vị giáo sư già yếu, một mụ nạ dòng đang tuổi hồi xuân, thích đua đòi, quen bài rắn giả làm lươn theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Dĩ nhiên, để đạt được kết quả cuối cùng này, ông không chỉ tốn rất nhiều sức lực cá nhân để giải quyết nốt cái phần sự nhà đã bị giáo sư bỏ bễ, mà còn phải chi không ít từ ngân sách ngoại giao và đào tạo bồi dưỡng của cái Tổng Công ty mà ông đang là sếp. Được cái, bà vợ ông giáo sư đã thuộc vanh vách giá của mỗi học phần, của mỗi thủ tục, từ chọn thày hướng dẫn, thày phản biện cho đến thăm dò, gặp gỡ hội đồng bảo vệ; nên một khi phía bà đã thông thì phía nào mà không lọt. Chuyện thiên hạ, nghe đâu biết vậy, tôi chẳng quan tâm...
Bẵng đi mươi hôm, chợt được tin nhắn ra là ông thủ từ ốm nặng lắm, nên tôi vội vã đáp xe về thăm. Sau khi đập cửa một hồi, tôi phải chờ một lúc lâu, mới thấy ông lò dò ra mở cổng. Ông ốm thật, hơi thở yếu lắm, nhưng không hiểu sao ánh mắt lại rất vui và xem ra như lại có thần. Tôi dìu ông vào, chưa kịp hỏi han thì đã sững người ngạc nhiên: giữa thềm điện thờ không biết vì sao nằm ngổn ngang một đống - tấm biển gỗ sơn chỏng trơ dưới chân cột, hai cái bằng CU NHAN và DOCTEUR thì kính vỡ tứ tung, khung văng một nơi, giấy bay một ngả. Bằng giọng nói thều thào, ông kể:
- Tối hôm ấy, sau khi mọi người ra về hết, dọn dẹp xong xuôi, tôi vừa đặt lưng xuống nghỉ thì trời bỗng đổ mưa, mưa rất to. Quái lạ, suốt một ngày trời quang đãng, không chút gợn mây, đài báo cũng chẳng nói gì, vậy mà đêm đó sấm chớp đùng đùng sao mà kinh khủng thế, đất trời vần vũ như thể ma quỷ đánh nhau vậy. Tôi đang co ro thì nghe hai tiếng nổ lớn, rồi phía trong điện có tiếng đổ rầm. Tôi cũng hãi lắm, nên cứ nằm vậy, phải chờ cho đến sáng mới dám ra xem. Vậy là cây roi ở sân sau mà tôi trồng hồi thày đồ mất đã bị sét đánh tung gốc, và tấm biển trên mái cũng bị sét bổ vỡ đôi. Còn ở đây thì như anh thấy đó, mọi thứ vẫn y nguyên từ lúc ấy, chưa ai dám đụng vào.
Ông thì thầm bí mật với tôi:
- Đúng là trời có mắt! Phen này mối hận của họ ta đã được trả xong rồi. Nguyện ước năm xưa của thày vậy là đã thoả. Giờ thì tôi có thể yên tâm, anh ạ...
Chừng như thấy tôi vẫn còn ngơ ngác chưa hiểu gì, ông vội kéo tôi ngồi xuống và bảo tôi đọc kỹ tấm biển gỗ sơn đang nằm chỏng trơ dưới đất mà khi nãy tôi đã thấy nhưng không để ý lắm. Tôi há hốc mồm kinh ngạc, không thể nào tin nổi: thay vì dòng chữ Vợ cả vợ hai, cả hai đều vợ cả quen thuộc xưa nay, giờ lại là một dòng chữ mới toanh, còn thơm mùi mực, nội dung thì khác hẳn, nhưng vẫn được viết theo kiểu loằng ngoằng bắt chước chữ tàu, tức là kiểu Thư pháp An Nam như đã kể ở trên. Như đã thuộc lòng, ông dõng dạc ngâm nga rõ to cho tôi nghe: Bằng cu bằng đốc, cu đốc cũng bằng cu. Lần đầu tiên tôi thấy ông cười, một cái cười hóm hỉnh, thoải mái và hể hả. Ông tỏ ra rất tâm đắc với câu này, và tuy ông không bình luận gì thêm, tôi cũng có thể suy đoán và cảm nhận được ít nhiều. Ông cho biết sáng đó tay Tổng Giám đốc Mưu kia cũng đã rẽ qua chực thăm thú xem đêm qua mưa bão có ảnh hưởng gì không, nhưng thấy tình cảnh này, nhất là sau khi đọc xong dòng chữ kia, y đã tái mặt rồi cắm cổ bỏ đi thẳng, không nói một lời, và mất mặt luôn cho đến tận hôm nay.
Trước sự phấn khích của ông, tôi vẫn thấy hơi băn khoăn bởi sự xuất hiện quá lạ kỳ của câu đối nọ. Tôi vốn không tin lắm ở những chuyện hoang đường, mà luôn nghĩ rằng ở đâu, việc gì cũng phải có bàn tay của con người. Vậy thì sự việc vừa xảy ra đó nghĩa là thế nào, căn nguyên ra sao, ai đã làm ra như vậy? Thần linh ư, trời phật ư, vô lý! Chắc chắn phải do chính con cháu của họ Nguyễn Chi này, nhưng là ai thì có trời biết.
Tôi dò hỏi ông:
- Hôm đó ông có để ý thấy điều gì đặc biệt không? Chẳng hạn, có người lạ nào hoặc ai đó có hành vi khả nghi?
Ông lắc đầu, rồi ông chợt nhíu mày như bỗng nhớ ra một điều gì:
- À, sáng đó, khi trở dậy, tôi có nhìn thoáng thấy một bóng người ngoài cổng. Nhưng hoá ra chỉ là một đứa trẻ con, đang đái bậy, thấy tôi ra thì bỏ chạy, thế thôi.
Ngừng một giây, ông bỗng lẩm bẩm, không hiểu là ông tự nói với mình hay đang kể thêm với tôi:
- Có điều lạ là nước đái của nó sao mà khai thế, khai lắm, khai kinh khủng!
Nước đái khai! Chi tiết quan trọng và có giá trị lắm đây! Dấu hiệu, bằng cứ là ở đây chứ còn ở đâu nữa! Không có năng khiếu phán bảo của một bậc tiên tri hay tài suy luận của một nhà thám tử, nhưng từ lúc đó, tôi cứ như kẻ bị bỏ bùa mê và luôn bị ám ảnh bởi chi tiết này cùng với niềm hy vọng khấp khởi không hẳn là vô cớ: Có thể dòng họ Nguyễn Chi đã bắt đầu vượng lại, có thể giờ đây trong dòng họ đã xuất hiện cứu tinh, đã tái phát thần đồng?
Nước đái khai! Có thể lắm chứ! Biết đâu sự kiện nước đái khai này chính là điềm báo của thiên tài xuất thế, của thần đồng tái sinh? Biết đâu đây chính là dấu hiệu đáng mừng không chỉ cho dòng họ Nguyễn Chi mà còn là điềm báo một vận hội mới cho cả nước Nam ta vậy!
NKK
www.trieuxuan.info
|