Truyện ngắn
05.07.2011
Walter de la Mare
Tuyển tập truyện thiếu nhi (15): Hai người khách

Một trong những điều cuối cùng mà Tom Nevis nghĩ tới trên đời này là cảnh tượng mà anh đã từng nhìn thấy khi còn là cậu bé lên mười. Rất nhiều năm đã lần lượt trôi qua sau buổi sáng tháng ba đó; và rốt cuộc Tom đã rời khỏi quê nhà, rời khỏi nước Anh vì sức hút nóng bỏng và ánh hào quang của những miền nhiệt đới. Thế nhưng kí ức xa xăm này vẫn tiếp tục trôi nổi trong trí tưởng tượng của anh rồi cuối cùng dừng lại trong sự an bình và kì lạ của nó một cách thanh thản như một hành tinh tỏa sáng bên trên mặt tuyết của những dãy đồi xa. Nó đã ở lại trong những chiều sâu lặng lẽ của tâm hồn anh – như những con côn trùng bé xíu bị cầm tù trong những tảng hổ phách, những đôi cánh vẫn còn lấp lánh suốt nhiều thế kỉ sau khi đã tung bay khắp đó đây trong thế giới của chúng vào thời đó.


Hầu hết mọi người đều có những trải nghiệm nho nhỏ như Tom. Nhưng chúng thường xuyên đến với những người lẻ loi cô độc hơn – những người thích được ở một mình và những người có những giấc mộng ban ngày. Nếu chúng xảy ra vào những lúc khác, có thể chúng sẽ để lại rất ít ấn tượng, bởi lẽ người ta đang trò chuyện, nói cười hay bận rộn làm những việc cần làm, hoặc đang đọc sách hay suy tư. Và rồi chúng có thể trôi qua mà không được chú ý tới.


Nhưng Tom luôn là một con người thích sự cô độc đến mức lạ lùng. Ngay từ khi còn bé anh đã thích ở một mình. Anh thường ngồi trên một cánh cổng hay một cái bục suốt cả giờ chỉ để nhìn một cách lười nhác vào một cánh đồng, dõi mắt theo bóng của những đám mây khi chúng lặng lẽ trôi trên vùng cỏ cây xanh ngắt, hay một cơn gió lang thang khắp đó đây, thổi rạp những cây cỏ nhú ngọn cao hơn. Thậm chí chỉ cần ngắm nhìn một con bò vừa gặm cỏ giữa những bụi mao lương vừa phe phẩy túm lông đuôi và thỉnh thoảng đưa cái mũi mềm cọ lên bờ vai màu nâu vàng của nó cũng là một thú vui đối với anh. Dường như vào những lúc như thế, cả thế giới chỉ nằm trong tâm trí của anh; như thể nó là một bức tranh toàn cảnh của một giấc mơ, dù anh chưa bao giờ thật sự thể hiện những cảm giác ấy thành lời.


Tương tự, Tom đặc biệt thích nhìn ra cửa sổ khi trăng đang chiếu sáng. Không chỉ vào mùa đông khi có tuyết trên mặt đất mà cả trong tháng năm và mùa hè, với ánh trăng lặng lẽ đọng trên những cây cỏ và những cánh đồng như một dải lụa mỏng màu bạc. Và vầng trăng luôn biến đổi: lúc thì là một vầng trăng lá lúa mỏng mảnh – một cái móc bằng bạc hay một sợi dây màu đồng đỏ hiện lên trong ánh hoàng hôn ở hướng tây; lúc thì chỉ là một cái bóng của chính nó, nấn ná trong màu xanh lơ của ánh ban mai như một ngọn đèn lồng còn cháy rất lâu sau khi bữa tiệc đã tàn để giúp cho mọi người vui mắt.


Tom có khuynh hướng dễ bị bỏ rơi một mình hơn đại đa số các đứa bé trai khác, do một cú ngã hồi anh lên ba tuổi. Người vú em chăm sóc anh lúc đó tên là Alice Jenkins. Một buổi sáng nọ, theo thường lệ, chị đặt anh ngồi sát bên cạnh bàn với cái chén đựng bánh mì và sữa của anh, và chị quay mặt đi trong giây lát khi nghe thấy âm thanh của một thứ gì đó ở cửa sổ. Và anh, trong khoảnh khắc đó, có lẽ để trông thấy cái mà chị đang nhìn, đã nhảy lên khỏi ghế, cái thanh chắn trượt ra và anh ngã sóng soài xuống nền nhà.


Cú ngã đó đã làm cánh tay trái của anh bị thương. Và dù các bác sĩ đã cố gắng, họ không bao giờ có thể làm cho nó phát triển như cánh tay mặt. Nó mảnh khảnh, teo quắt và gần như vô dụng, còn những ngón tay hơi bị co lại nên chỉ sử dụng được trong những việc đơn giản dễ dàng. Hậu quả là anh rất tệ ở các thứ trò chơi và ít gặp gỡ những cậu bé cùng lứa tuổi. Alice đã khóc đến nửa đêm sau cái giờ khắc bất hạnh đó; nhưng sau đó cả hai càng yêu mến nhau nhiều hơn. Ngay cả sau này, khi chị đã lấy chồng và làm chủ một tiệm bán rau quả nhỏ ở thị trấn kế bên, Tom vẫn thường tới thăm chị bất kì lúc nào có thể, ngồi nhai tóp tép những trái táo, lê và trò chuyện về mọi thứ dưới ánh mặt trời.


Tai nạn xảy ra cách đó lâu đến nỗi anh gần như đã quên rằng anh chưa bao giờ sử dụng đầy đủ chức năng của cánh tay trái. Anh trở nên quen thuộc với việc nó treo một cách yếu ớt ở một bên vai anh như một người có thể trở nên quen thuộc với việc có một cái mũi khoằm, một đôi tai vễnh hay một con mắt lác. Và dù anh nhận thấy nó ngăn không cho anh làm những việc như trèo cây hay chơi những trò chơi mà những đứa trẻ khác có thể thực hiện dễ dàng, dù nó biến anh thành một dạng bù nhìn, chỉ đơn giản là nhờ đó mà anh được để yên một mình và tự xoay xở lấy nhiều hơn hầu hết các đứa trẻ khác. Và dù anh chưa bao giờ tự thú nhận với chính mình, tất nhiên là không với bất kì ai khác, anh rất thích được bầu bạn với chính mình. Việc này không giống chút xíu nào với việc ở trong một ngôi nhà trống rỗng, mà đúng hơn là trong một ngôi nhà đầy những thứ mê li; trong đó bạn không bao giờ biết được điều gì sẽ xảy ra kế tiếp, ngay cả khi mọi thứ đều im lìm lặng lẽ – mặt trời ở cửa sổ, những cái bóng mờ mờ trên những hành lang, mặt nước trong ao cá xanh xanh và những nhánh cây um tùm trong vườn cây ăn quả.


Ngoài việc có thân hình hơi khác thường vì lí do nói trên – nhỏ bé so với lứa tuổi, đôi vai hẹp, một gương mặt xương xương, đôi mắt xanh xám và một mớ tóc vàng cứng như rễ tre dựng đứng trên đầu – đầu óc của Tom cũng hơi khác thường. Anh liên tục bịa ra những câu chuyện, ngay cả khi không có ai lắng nghe chúng. Vì người chị mắt đen của anh hiếm khi có thời gian để làm điều đó, còn người vú em sau này, khi Alice đi lấy chồng, thì lại không đủ kiên nhẫn với những việc như thế. Nhưng hầu như anh cũng thích thú không kém khi tự kể chúng cho mình nghe. Và khi chị Emily của anh chết, dường như anh trở nên có thói quen đi thơ thẩn và mơ mộng hơn cả trước đó.


Anh còn có những thói quen nho nhỏ kì lạ khác. Bất cứ khi nào đi xuống thang gác từ giường ngủ – trừ phi anh đang rất vội hay cha anh đã gọi – anh luôn luôn ngồi xuống một lúc trên một bậc thang hẹp, nhìn qua cánh cửa sổ cao ở đầu cầu thang, ngó ra khu vườn. Đối với anh, dường như bạn không bao giờ có thể nói được bạn sẽ không nhìn thấy cái gì vào lúc đó; dù thật ra anh chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì rất khác thường: chỉ có cỏ, thảm cỏ, những bụi lý chua và bụi gai; có khi là một con mèo đang rón rén đi tìm mồi, những con chim hét và quạ gáy xám, những con chim sẻ ngô và chim cổ đỏ bình thường, và ánh mặt trời trên bức tường gạch đỏ. Và bạn không thể đặt tên cho cái mà bạn không thật sự trông thấy.


Một sở thích khác của anh là bất kì lúc nào đi qua một tầng hầm bên dưới Ngôi nhà cha xứ cũ kĩ, anh cũng khom xuống và ghé mắt nhìn qua lỗ khóa. Anh cũng có thể nhìn lên một cái ống khói vì thậm chí có ít ánh sáng hơn để nhìn thấy xuyên qua cái lỗ khóa đó. Và trong ngăn hầm không có gì ngoài một số đồ đạc cũ đã thải đi, vài chai rượu vang, những hòm mây trống rỗng, một con ngựa gỗ đã bị gãy và những thứ đại loại. Dù sao, bất cứ khi nào đi ngang cánh cửa đó, Tom luôn khụy gối xuống, nheo một mắt lại, hé mắt kia nhìn qua lỗ khóa, và hít ngửi mùi ẩm mốc của căn hầm.


Những trò khôi hài kì quặc của anh nhiều vô tận. Ví dụ, cách đây đã lâu, anh đặt ra một nguyên tắc là luôn luôn làm những việc nhất định trong những ngày nhất định. Dạo đó anh không quan tâm gì tới việc tắm rửa như hầu hết các đứa bé khác, nhưng anh luôn có một “cuộc tắm rửa cẩn thận” vào ngày thứ sáu; dù những đêm thứ bảy mới là những đêm để tắm rửa sạch sẽ. Anh có những cuộc tản bộ nhất định vào những buổi chiều nhất định, nghĩa là những buổi chiều sau khi trời mưa, hay khi một bụi hoa hoặc một cây nào đó vừa mới nhú mầm. Và anh luôn luôn tới viếng mộ của chị Emily mỗi tháng một lần.


Chị chết vào ngày mười hai tháng tư, và ngoài sinh nhật của chị, anh luôn luôn giữ theo ngày đó – tất cả mọi ngày thứ mười hai của tháng trong suốt một năm. Nếu có thể và có thời gian, anh sẽ mang theo một bó hoa, chọn từ những loại hoa mà Emily thích nhất hoặc anh thích nhất, hoặc cả hai cùng thích. Nghĩa trang cách không xa lắm tính theo đường chim bay, nhưng một trong những thói quen lạ lùng của anh là không đi thẳng tới đó – như thể làm thế sẽ là quá dễ dàng – mà phải đi vòng theo một con đường mòn trong đồng cỏ, xa hơn con đường làng ít nhất là ba phần tư dặm.


Ngoại trừ khi ở một mình vào những buổi hoàng hôn lúc mặt trời đã lặn, Tom luôn cảm thấy cô đơn hơn bất kì lúc nào khác trong những cuộc hành trình mỗi tháng đó. Vì thế anh thường ngồi trên một băng ghế cũ dưới cội thủy tùng trong nghĩa trang suốt những giờ rảnh rỗi. Thoạt đầu anh cực kì buồn rầu và khốn khổ trong những cuộc viếng thăm đó. Như thể có một màn sương mù lạnh lẽo đã bao trùm lên toàn bộ Ngôi nhà cha xứ, cha anh, chị anh và những người hầu gái khi Emily chết. Mọi thứ quen thuộc trong nhà đột nhiên trở nên xa lạ và đầy thương cảm bùi ngùi, như thể để nhắc nhở họ về một thứ đã ra đi và sẽ không bao giờ quay lại nữa. Và dù dĩ nhiên không có ai trong số những người khác thật sự quên đi điều đã xảy ra; dù anh thường nhận thấy cha anh ngăn chặn điều mà anh sắp sửa nói ra chỉ vì ông không thể chịu đựng nổi sự đau đớn khi nhắc tới cái tên Emily; theo thời gian mọi sự bắt đầu trở lại như cũ.


Hồi anh còn nhỏ, người chị tóc đen Esther của anh thỉnh thoảng cùng đi với anh tới nghĩa trang. Nhưng chẳng bao lâu chị ấy đã có nhiều việc hơn để nghĩ tới và tự tiêu khiển nên có rất ít thời gian dành cho anh. Ngoài ra, họ không hề có cùng ý kiến về bất cứ chuyện gì và dùng hầu hết thời gian để cãi cọ nhau. Vì thế Tom đã phải đi một mình trong suốt nhiều tháng. Anh biết rõ cuộc đi bộ đặc biệt hằng tháng tới nghĩa trang của mình như biết rõ quần áo của mình hay bất kì thứ gì khác trên đời. Anh không bao giờ lên đường tới đó mà không mong ước có thể gặp lại chị Emily, và không bao giờ quay trở về nhà mà không nghĩ thầm rằng có lẽ tốt hơn anh không nên mang theo chị ấy về. Vì bằng cách nào đó anh chắc chắn rằng dù thân thể của chị ấy ở đâu, bản thân chị ấy hoàn toàn hạnh phúc, và mãi trẻ trung như trước. Thật sự, đôi khi dường như linh hồn của chị đã thì thầm vào tai anh khi anh đang ngồi trên cái ghế dài nhìn lướt qua những tấm mộ bia, và tự hỏi còn bao lâu nữa sẽ tới lượt anh chết. Nhưng đôi khi trong những lúc như thế, Tom gần như trở thành một cậu bé khùng điên.


Còn có một điều lạ lùng khác ở Tom. Anh thích suy tư nghĩ ngợi về mọi chuyện xuất hiện trong đầu của mình, trong khi đại đa số những người khác sẽ không cho phép những ý nghĩ phiền toái hay khó chịu ở lại trong tâm trí họ. Họ xua đuổi chúng như xua đuổi những con chó lạ ra khỏi vườn, hay xua đuổi những con tò vò ra khỏi một căn phòng ngập nắng. Tuy nhiên, Tom nghĩ về chúng theo những cách thức có ý nghĩa thiết thực nhất. Ví dụ, khi lên mười tuổi, anh đã biết nhiều không kém những gì mà một ông già trông coi nhà thờ sáu mươi tuổi có thể nói với anh về việc đào huyệt. Ý nghĩ về những khúc xương bên dưới mặt đất không hề làm anh sợ hãi chút nào. Chắc chắn, anh tự nhủ, không có gì xấu xa nếu đó chỉ là sự thật. Và nếu nó là sự thật thì sao chứ, thì nó là sự thật.


Không phải anh không thích được sống trên cõi đời này. Đôi khi anh thấy đau đớn vì niềm vui trong nó. Anh đã nói với Alice về điều đó, và với Emily nữa, khi đang ngồi trên một bờ sông xanh ngắt dưới ánh nắng hay trong một đồng cỏ khô, hay bên bờ ao bí mật của họ ở trong rừng. Anh cũng thích nghiền ngẫm về những điều có thể xảy đến với anh trong tương lai; dù anh chưa bao giờ có một ý thức nhỏ nhất nào trong những ngày đó rằng anh sẽ đi xa, rằng anh sẽ rời khỏi nước Anh khi vẫn còn là một thanh niên, một lần và mãi mãi, không bao giờ quay trở lại. Anh không hề có chút nhận thức nào về điều đó cho tới một buổi chiều, khi anh trò chuyện với chị vú em Alice trong cửa tiệm của chồng chị. Sau đó anh biết rằng anh sinh ra để làm một lữ khách, bất chấp cánh tay và thân hình khẳng khiu ốm yếu của mình. Và điều dẫn tới câu chuyện đó đã xảy ra với anh vào một buổi sáng tháng ba khi anh quay trở về sau chuyến viếng mộ thường lệ ở nghĩa trang.


Một cơn gió đông nhè nhẹ nhưng lạnh lẽo đang thổi qua. Cả bầu trời trong xanh ngoại trừ một vầng mây sáng màu bạc ở hướng nam, còn ánh nắng sáng rực rỡ, như thể một tấm gương khổng lồ phía sau nó đang rọi ngược những tia sáng từ bầu trời xuống mặt đất. Ở trên những cánh đồng có vài bụi hoa thủy tiên và cây anh túc thảo với những chiếc lá bóng loáng hình cái xẻng. Những bờ giậu bắt đầu đâm chồi non mơn mởn, nhìn từ xa như thể có một làn sương xanh nhạt lơ lửng bên trên chúng. Cỏ cũng đang phát triển xum xuê sau kì nghỉ đông của chúng, và lũ chim chóc vùng quê đang bận rộn bay qua lại khắp đó đây như thể thời gian là một cái gì đó đang tan chảy ra dưới ánh nắng. Thay vì trở về nhà theo con đường đã đến, Tom quẹo qua một cánh cổng nhỏ để đi vào một cánh rừng bulô và cây phỉ thưa thớt, và đi tới một góc của cánh đồng cỏ rộng nằm sát bên Trại Cũ.


Trong những tuần trước đã có nhiều trận mưa rào, và trong lúc đang lơ đãng đi dọc theo con đường mòn trên đồng cỏ, anh ngạc nhiên khi nhìn thấy một vũng nước trong một trũng đất xanh trên đồng cỏ bên dưới, nơi trước đó không hề có một cái ao nào cả. Nước trong ao chắc chắn là nước mưa của những ngày hôm trước. Cái ao sáng lấp lánh trải rộng phản chiếu bầu trời, và những cây cối đang đâm chồi non mọc cách rìa của nó không xa lắm. Anh trông thấy có hai con chim lạ đang bơi bập bềnh trên vũng nước này. Chưa bao giờ anh nhìn thấy loại chim như thế, dù anh đoán rằng chúng phải là những con chim biển đi lạc. Chúng trắng như tuyết, lúc này đang nhẹ nhàng chơi đùa với nhau trong cái ao nước tình cờ đó, như thể đây là một nơi ẩn náu hay một điểm hẹn hò mà chúng đã tìm kiếm từ giây phút đầu tiên bước ra khỏi vỏ trứng.


Tom quan sát chúng, bất động, ngay tại nơi anh đứng, không dám ngay cả nháy mắt vì e rằng anh sẽ quấy nhiễu cuộc chơi đùa vui vẻ của chúng. Nhưng cuối cùng anh lấy can đảm để nhích dần từng phân lại gần cho tới khi anh có thể nhìn thấy đôi mắt chúng sáng lóng lánh trên đầu. Màu trắng như tuyết diệu kì trên những đôi cánh và hai cái mỏ màu đỏ san hô của chúng phản chiếu lại trên mặt ao lăn tăn gợn sóng. Chúng có vẻ thân thiết gắn bó với nhau trong mọi lúc. Chúng rỉa lông cánh, kêu lên những tiếng nho nhỏ như đang vui sướng, như đang kể cho nhau nghe những điều bí mật. Thỉnh thoảng chúng ngưng rỉa cánh và lặng lẽ lướt trên mặt nước, dưới ánh nắng lóng lánh màu bạc. Và dù Tom tiếp tục chăm chú nhìn chúng với sự nôn nao, điều lạ lùng là việc này không làm cho chúng hoảng sợ bay đi. Tom cảm thấy dường như anh đã nhìn chúng suốt hàng thế kỉ dưới bầu trời tháng ba. Anh e sợ chúng sẽ vỗ cánh bay đi. Như thể khi đó một cái gì đó trong bản ngã sâu xa của chính anh cũng sẽ biến mất theo.


Anh nói thì thầm như để thuyết phục chúng ở lại đó, để đừng có gì thay đổi. Thật sự chúng có thể là những sinh vật giống như con người, chúng bơi lội trên mặt nước một cách tự nhiên và hạnh phúc trong sự hiến dâng cho tình bạn của nhau. Và một lần nữa, Tom cảm thấy dường như toàn bộ thế giới và cuộc đời bé nhỏ của riêng anh cũng trôi vào một giấc mơ, dường như anh đã đứng quan sát những chuyển động của chúng trong nhiều thế kỉ không kém so với cội sồi khổng lồ sừng sững bên trên nông trại đã đứng đó với những tàng lá rộng, ra hoa và kết nụ hết mùa xuân này sang mùa xuân khác cho tới chính buổi sáng hôm đó.


Một điều kì lạ khác là cuối cùng hai con chim lạ dường như không còn sợ hãi sự có mặt của anh, mặc dù vũng nước mưa chói sáng trên đồng cỏ mà chúng đang nghỉ ngơi chỉ rộng không hơn mười một bước chân. Chúng nhìn anh với ánh mắt thông minh sắc sảo lạ lùng, như thể chúng muốn chia sẻ bí mật của chúng với anh. Một bí mật được mang tới từ những nơi trú ẩn xa xôi mà chúng đã nghỉ trong đêm; như thể đây là chặng cuối cuộc hành trình của chúng. Những giọt nước mà chúng dùng mỏ hất lên trên bộ lông trắng như tuyết long lanh như những hòn bạc hay thủy tinh bé nhỏ, dù không sáng hơn mắt chúng. Màu đỏ của những cái chân có màng hiện ra rõ ràng bên dưới mặt nước trong veo. Và tiếng kêu khe khẽ phát ra từ cổ chúng hơn là từ những cái mỏ hé mở không ngọt ngào hay lanh lảnh như tiếng hót của một con chim le te hay hồng tước, thế nhưng êm ái một cách lạ thường.


Đầu óc khác người của Tom lại một lần nữa trôi vào một giấc mơ ban ngày sâu thẳm khi anh đứng đó – với chiếc áo khoác cài kín nút và cái mũ bên trên mái tóc ngắn – trong cơn gió đông nhẹ lạnh lẽo đã lùa những đám mây trôi qua đồng cỏ, mái nhà và những ống khói của cái nông trại cũ xây bằng gạch đỏ...


Giữa đêm hôm đó anh chợt giật mình tỉnh giấc, đột ngột như thể có một giọng nói đã gọi anh. Và cảnh tượng đó vẫn còn tươi rói rõ ràng trong trí tưởng tượng của anh như thể anh đứng nhìn lại nó đang trải rộng trong ánh ban mai trước mắt.


Cũng lạ lùng là Tom không tới thăm đồng cỏ suốt nhiều ngày sau đó. Có đôi lần anh đã thật sự cất bước theo hướng đó, nhưng rồi quay đi trước khi cái sân nông trại hiện ra trong tầm mắt. Cuối cùng, khi anh quay lại đó vào một xế chiều, toàn cảnh đã đổi thay. Không còn ngọn gió đông, mà là ngọn gió nam. Những đám mây đùn lại trong màu xanh sâu thẳm của bầu trời như những đỉnh núi tuyết. Bầu không khí mùa xuân dịu ngọt. Những chồi non trên các bờ giậu đã chuyển thành những chiếc lá xanh nhạt. Nhưng cái ao nước mưa đã cạn khô, đã bị gió và mặt trời mang đi mất, chỉ để lại một lớp cỏ xanh tươi hơn trên trũng đất. Những con chim đã bay đi...


Một ngày tháng bảy sau đó, Tom lên đường tới thăm người vú em cũ, Alice Hubbard. Chị đã trở nên béo tròn sau khi kết hôn. Tom ngồi với chị trong phòng khách chật hẹp phía sau cửa tiệm, nhìn ra đường phố qua những thùng đậu xanh, khoai, cà rốt, củ cải, rau diếp, bắp cải và bạc hà, những giỏ lý chua, lý gai, dâu tây và anh đào cuối mùa. Trong lúc Alice đang chọn cho anh một đĩa dâu tây, anh kể cho chị nghe mọi chuyện về anh: những gì anh đã làm và đã suy nghĩ, về người hầu mới, và về ngôi nhà. Và thỉnh thoảng chị ngưng lại để nói, những ngón tay đặt trên cái giỏ, “Lạy Chúa, cậu Tom à!” hoặc “Cậu đã làm thế à, cậu Tom!” hoặc “Thế sao cậu Tom!”


Đột nhiên kí ức về cái ao nước và hai con chim lạ quay trở lại trong đầu anh và anh rơi vào im lặng. Alice đặt xuống trước mặt anh đĩa dâu tây và một lọ kem xanh trắng, rồi chị tò mò nhìn vào gương mặt xấu xí, nhỏ bé của anh.


“Tôi tự hỏi cậu đang nghĩ gì lúc này?” chị nói.


Ngay lúc đó, một bà lão đội mũ và choàng khăn đen đã đứng ngoài vỉa hè cạnh cửa sổ nhìn những thứ trái cây từ nãy bước vào tiệm, và Alice đi ra để bán hàng. Tom quan sát cả hai người; ngắm nhìn những củ khoai và những nhánh bạc hà được bỏ lên cân; ngắm nhìn một cỗ xe với một con ngựa đốm xám to lớn đi ngang, kéo theo thùng xe chất đầy gạch, người đánh xe da ngăm ngồi trên một cái bao tải trên cùng. Sau đó, Alice bước trở vào phòng khách, và anh tiếp tục kể cho chị nghe về hai con chim và cái ao.


“Lạy Chúa, thật kì lạ, cậu chủ Tom ạ.” Alice nói. “Thế sáng hôm ấy cậu đã đi đâu?”


Tom đáp rằng anh đã tới nghĩa trang.


“Cậu biết không,” chị nói với một giọng khe khẽ như sợ có người nghe thấy. “Cậu không nên tới đó quá thường xuyên. Điều đó không tốt cho cậu. Và Joe nói rằng... cậu chủ thân mến ạ, cậu không thể tin là tôi hạnh phúc thế nào đâu khi sống trong cái tiệm nhỏ này, dù tôi không bao giờ quên Ngôi nhà cha xứ và lòng tốt của người mẹ thân yêu của cậu. Nhưng Joe bảo rằng người ta không nên suy nghĩ mãi về những chuyện như thế. Ý của anh ấy là không nên tiếp tục mãi. Thế giới này sẽ xoay chuyển thế nào, anh ấy nói, nếu tất cả chúng ta cứ ngước mắt nhìn những đám mây suốt cả ngày. Tôi trông cậu có vẻ gầy guộc giơ xương hơn trước, dù có lẽ cậu đang nhổ giò – cao lên khá nhiều rồi đấy.”


“Nhưng câu chuyện về hai con chim có vui không?” Tom hỏi.


“Sao?” Alice nói. “Vui cái gì?”


“Sao à.” Tom nói. “Chúng không phải là những con chim bình thường. Bây giờ em không chắc chúng có phải hoàn toàn là những con chim đang sống hay không nữa, dù có thể chúng đến từ ngoài biển. Vì sao chúng không bay đi khi em tới gần? Chúng nhìn thấy em rất rõ. Và chị nghĩ xem, tại sao em cứ mãi suy nghĩ về chúng?”


“Lạy Chúa tôi!” Alice nói. “Những câu hỏi của cậu! Và tất cả đều là vì sao! Cậu không thay đổi chút nào về điểm này, cậu chủ ạ.”


“Vâng, nhưng tại sao?” Tom khăng khăng, cái muỗng trong tay, rời mắt khỏi đĩa dâu và kem, ngẩng lên nhìn chị.


Alice đứng ở mé bên kia bàn, tựa những khớp ngón tay lên đó, và khi chị nhìn qua cửa tiệm, một khoảng trống xuất hiện trong đôi mắt xanh của chị, như thể cả chị cũng thỉnh thoảng rơi vào những giấc mơ ban ngày giống như Tom. “Chà, tôi cho là... tôi cho là,” cuối cùng chị nói bằng một giọng trầm xa xăm. “Cậu cứ suy nghĩ về chúng là vì cậu không thể gạt chúng ra khỏi đầu cậu được.”


“Ồ, đúng là thế.” Tom nói, hơi mất kiên nhẫn. “Nhưng điều em muốn biết là vì sao chúng ở lại đó?”


“Ờ.” Alice nói. “Có một cái gì đó. Bản thân tôi có thể nhìn thấy chúng. Và dĩ nhiên là chúng rất thật, cậu chủ Tom ạ. Dĩ nhiên là thế. Nếu không thì,” chị cười khúc khích. “Nếu không thì tôi và cậu đang nói về những con ma chim hay sao chứ. Ý tôi là nếu chúng có thật thì không phải là chúng không có một ý nghĩa nào khác. Tôi không biết chính xác những con vật đó có ý nghĩa gì khác, nhưng chỉ vì dường như là chúng có một ý nghĩa nào đó, phải nói thế. Tôi cho là tất cả tùy thuộc vào cách nói, vào ý nghĩa của chúng đối với chúng ta, cậu chủ à. Lạy Chúa, thỉnh thoảng khi tôi đứng đây trong cái tiệm này, nhìn ra mọi người trên phố và trông thấy những người khách đi vào – thậm chí ngay trong lúc phục vụ họ – tôi thường tự hỏi toàn bộ việc này có ý nghĩa gì khác hay không. Làm thế nào tôi biết rằng tôi sẽ kết hôn với anh Joe và còn làm chủ một cửa tiệm nữa? Thế nhưng, hãy tin tôi, cậu chủ ạ, dường như nó là một điều bình thường và tự nhiên như thể tôi đã có ý muốn làm việc đó từ lúc còn nằm trong nôi.”


Tom nhìn chị một cách tò mò. “Vậy chị nghĩ hai con chim có ý nghĩa gì?” anh lặp lại.


Đôi mi mắt mềm với hàng lông mi sáng hạ xuống thấp hơn trên đôi mắt xanh của Alice khi chị đứng ngẫm nghĩ về câu hỏi cũ. “Sao chứ.” chị nói thì thầm như đang nói trong mơ. “Nếu cậu hỏi tôi, nó có nghĩa rằng cậu sẽ đi du lịch. Theo tôi nghĩ, đó là ý nghĩa của hai con chim. Nhưng tôi không thể nói là đi đâu.”


Rồi đột nhiên chị quay trở về thực tại như trước, thoát ra khỏi khoảnh khắc mơ màng, và nhìn chăm chú vào Tom như thể anh đang sắp gặp một mối nguy nào đó. Chị cau mày như thể đang sợ hãi. “Cậu biết đó, cậu chủ.” chị nói tiếp với giọng nghiêm trang. “Tôi không bao giờ có thể tha thứ cho mình về vụ cánh tay tội nghiệp của cậu. Tại sao bây giờ cậu lại... Nhưng thôi! Cuộc sống là một bí ẩn, phải không? Tôi cho là thế theo một cách nào đó – dù Joe sẽ nói chúng ta không nên suy nghĩ nhiều về nó. Bản thân cuộc sống cũng là một loại hành trình. Cả nó cũng lên đường nữa.”


“Lên đường tới đâu?” Tom hỏi.


“À, chúng ta không thể nói đúng về điều đó.” Alice mỉm cười nhìn anh. “Nhưng tôi mong là nếu hai con chim của cậu có thể tìm ra con đường của chúng từ trên biển, không có lí do nào con người lại không thể tìm ra con đường của họ.”


“Ý chị là chị Emily đã tìm ra con đường của chị ấy?” Tom hỏi.


Alice gật đầu hai ba lần. “Đúng vậy.” chị nói.


“Ồ, tất cả những gì em có thể nói.” Tom nói. “Là em ước gì chúng quay trở lại, và cả cái ao nước nữa. Chúng còn hơn là, hơn là... chà, em không biết là cái gì, hơn bất cứ thứ gì em đã từng nhìn thấy trong suốt đời em.”


“Và đó cũng là một cuộc đời khá dài nữa!” Alice nói, một lần nữa mỉm cười với anh. Và họ nhìn nhau một lúc lâu.


Và điều mà Alice nói về cuộc du lịch của Tom đã hoàn toàn biến thành sự thật. Ngay từ lứa tuổi hai mươi, anh đã bước xuống con tàu đưa anh băng qua biển rộng tới một đất nước xa xôi mà từ đó anh không bao giờ quay về nữa.


Và dù những hạt đậu xanh, những nhánh bạc hà và những trái anh đào cuối mùa không hoàn toàn là những vật kì diệu trong kí ức như cảnh tượng hai con chim lạ đang nô đùa với nhau trong một ao nước mưa vào một buổi sáng tháng ba lạnh lẽo cách xa nơi trú ẩn tự nhiên của chúng, hằng năm, khi tất cả những thứ đó xuất hiện, chúng luôn nhắc cho Alice nhớ tới cuộc trò chuyện với Tom. Thật sự là chị rất yêu mến Tom, vì anh cũng giống như một đứa con nuôi của chị, nhất là sau vụ tai nạn. Và khi chị nghe nói anh đã lên đường ra hải ngoại, chị cũng nhớ cả hai con chim nữa.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập truyện thiếu nhi của Walter De La Mare. Nguyễn Thành Nhân dịch. NXB Văn học, 12-2010.


 www.trieuxuan.info


trieuxuan.info