Truyện ngắn
17.04.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Chuyện Ivan Ivanovich và Ivan Nikiforovich đã cãi nhau như thế nào (1)

Chương I


Cái áo khoác lông của Ivan Ivanovich mới đẹp làm sao! Tuyệt vời! Những tấm da lông cừu non mịn màng! Phỉ phui cái mồm, lông cừu non thế mới đáng mặt chứ! Ra lạnh cứ gọi là xanh biếc! Tôi sẵn sàng mất bất cứ cái gì trên thế gian này cho người nào tìm được thứ lông quý như thế! Vì chúa, hãy thử ngắm lại chúng một lần nữa xem, - đặc biệt là khi ngài quay sang nói chuyện với một ai đó khác, - thử ngắm chúng từ bên cạnh mà xem: Ngon lành thế chứ! Thật không bút nào tả xiết: Mịn như nhung! sáng như bạc! ấm như lửa! Trời đất quỷ thần ơi! Thánh Nikolai Linh thiêng ơi! Vì sao tôi lại không thể có được tấm áo như thế chứ? Ngài đã sắm cho mình tấm áo quý này từ trước khi Agafia Fedoseevna đi Kiev cơ. Mà các ngài có biết Agafia Fedoseevna là ai không nhỉ? Chính là quý bà đã cắn văng mất mẩu tai của ngài chủ tịch đấy.


 


Ivan Ivanovich là một con người tuyệt vời! Cái nhà của ngài ở Mirgorod mới đẹp làm sao chứ! Mái hiên quanh nhà được dựng trên một hàng cột gỗ sồi, dưới đó là biết bao nhiêu ghế dài. Ivan Ivanovich, mỗi khi trời quá nóng, thường cởi cái áo lông và cả những thứ mặc trong cái áo lông, trên mình còn mỗi chiếc áo sơ mi, ngồi thư giãn dưới hàng hiên ấy và nhìn ngắm các việc đang xảy ra ngoài sân hay tận ngoài phố. Những cành táo, cành lê trĩu quả cạnh cửa sổ nhà ông mới ngon lành chứ! Chỉ cần mở cửa sổ là những chùm quả chín đã chìa vào tận giữa phòng. Đó là đằng trước nhà. Giá mà các ngài trông thấy những gì ở trong vườn nữa nhỉ! Thật chả thiếu thứ gì! Nào mận, nào anh đào, nào việt quất, mọi thứ có thể trồng trong vườn, cả hướng dương, cả dưa chuột, dưa bở, các loại quả, thậm chí có cả kho thóc và lò rèn nữa.


 


Ivan Ivanovich là một con người tốt bụng! Ngài rất thích dưa bở. Đó là món ăn ngài ưa nhất. Ngay sau bữa ăn trưa, và ra ngoài hàng hiên với mỗi cái áo sơ mi, ngày đã ra lệnh cho chị Gapka mang lại cho ngài một cặp dưa bở. Và sau đó, tự tay ngài cắt dưa, tự tay ngài gom hạt vào gói giấy, và chậm rãi ăn từng miếng một. Rồi ngài gọi chị Gapka mang bút và lọ mực tới, chính tay mình trang trọng viết lên cái gói hạt: “Quả dưa bở này ta đã ăn ngày... tháng... năm ...” Và nếu như có một vị khách nào đó cùng ăn, ngài sẽ trang trọng thêm: “Với sự góp mặt của ngài...”


 


Ông toà quá cố của thị trấn Mirgorod rất thích ngắm nghía cái nhà của Ivan Ivanovich. Phải, cái nhà đó cũng không tồi. Tôi thích nhất là cả bốn xung quanh nhà đều có hiên và mái che bên trên, cho nên nếu như đứng từ xa mà nhìn ta sẽ thấy toàn là mái nhà thôi, tầng tầng lớp lớp chồng chất lên nhau, trông hệt như cái đĩa đựng bánh xèo, hoặc là có thể so sánh với đám nấm mọc chồng chất lên nhau trên thân cây mục. Nói chung, tất cả các mái nhà đều phủ một lớp rêu xanh. Một cây liễu, một cây sồi và hai cây táo ngả đám cành xanh tốt của chúng lên đó. Những cửa sổ có khung chạm trổ sơn trắng lấp ló giữa các cành cây.


 


Ivan Ivanovich là một con người quý hóa! Cả cảnh sát trưởng Poltava cũng quen biết ngài. Dorosh Tarasovich Pukhivochka, mỗi khi rời Khorola, đều ghé lại thăm Ivan Ivanovich. Còn cha xứ Petr, ngày còn sống ở Koliberd, hễ tụ tập được món khách độ dăm người thì thế nào cũng khen ngợi rằng người chưa hề được biết một con chiên nào ngoan đạo, biết cách sống và có trách nhiệm trước Chúa như Ivan Ivanovich.


Trời ạ, thời gian trôi mới nhanh làm sao! Mới đó mà đã hơn mười năm, kể từ ngày ngài góa bụa. Ngài không có con. Chị Gapka thì có con, và chúng thường chạy chơi trong sân. Ivan Ivanovich thường gọi chúng và chia cho mỗi đứa một chiếc bánh vòng mềm, hay miếng dưa bở, hoặc trái lê. Gapka giữ chìa khoá các hòm xiểng kho tủ của ngài. Nhưng chìa khoá cái hòm to tướng trong phòng ngủ, và cái tủ nhỡ thì Ivan Ivanovich tự giữ chìa, đi đâu cũng mang theo mình và không thích ai nhòm ngó đến chúng. Chị Gapka là một thôn nữ khoẻ mạnh, thường mặc zapaska, đôi má và đôi bắp chân đều hồng hào.


 


Và ngài mới sùng đạo làm sao chứ, Ivan Ivanovich ấy! Ngày chủ nhật nào cũng thế, ngài mặc tấm áo lông nổi tiếng và đi nhà thờ. Bước vào đó, Ivan Ivanovich bao giờ cũng cúi thấp mình chào khắp mọi hướng. Ngài thường ngồi tại một chỗ cố định ngay gần ban hát, và hát thánh ca bằng giọng trầm rất hay. Khi buổi lễ kết thúc, Ivan Ivanovich thường nôn nóng, đảo qua bố thí cho đám ăn xin. Có lẽ thật sự thì ngài cũng chả muốn làm một việc buồn chán như vậy, nếu như bản chất tốt bụng bẩm sinh của ngài không thúc giục ngài làm việc đó.


- Mẹ khoẻ chứ, bà cụ bất hạnh! – Ngài thường nói, tìm trong đám ăn mày mụ già tàn tật nặng nhất, rách rưới nhất, áo sống chỉ còn là một đống giẻ rách đầy những mụn vá. – Mẹ từ đâu tới, bà cụ khốn khổ?


 


- Già từ làng tới, ba ngày nay rồi con không có miếng gì vào bụng, ngụm nước cầm hơi cũng không, lũ con già đuổi già khỏi nhà.


 


- Bà cụ khốn khổ ơi, thế tại sao bà lại đến đây?


 


- Thế thôi, già còn biết đi đâu nữa, nếu không phải là đến đây xin chút bố thí, mong có miếng bánh thừa ăn thôi.


 


- Thế ra là bà cụ muốn xin một miếng bánh mì đấy? – thông thường Ivan Ivanovich sẽ hỏi thế.


 


- Sao mà không muốn được chứ, già đang đói như con chó lang thang đây.


 


- E hèm, vậy có lẽ bà cụ còn muốn cả miếng thịt nữa hẳn thôi?


 


- Phận hèn thì cái gì mà chẳng phải hài lòng.


 


- E hèm, chẳng lẽ thịt lại không hơn bánh mì sao?


 


- Ăn mày đâu có dám đòi xôi gấc. Ngài thí cho chút gì thì tốt chút đó thôi. Khi nói câu này, nhất định mụ ăn mày sẽ chìa tay ra.


 


- Thôi, hãy tránh đi, - Ivan Ivanovich nói. Bà cụ còn đứng đó làm gì nữa? Ta có đánh cụ đâu! Và, quay sang tên ăn mày kế bên, ngài sẽ đặt cho nó những câu hỏi y như thế, rồi tên thứ ba, sau đó mới quay về nhà, hoặc chạy sang nhà Ivan Nikiforovich bên hàng xóm làm chén rượu nhạt, hoặc là đến chỗ ông toà, hay ông cảnh sát trưởng.


Ivan Ivanovich rất thích được người ta cho một chút quà gì đó, hoặc một cái gì đó ngon ngon. Ngài rất thích quà tặng.


 


Ivan Nikiforovich cũng là một con người rất tốt. Nhà ông ở ngay sát nhà Ivan Ivanovich. Họ là bạn chí cốt hiếm thấy trên đời. Anton Prokofievich Pupopuz, người mà cho đến tận giờ vẫn mặc cái áo vét cũ xì màu nâu với hai tay màu xanh lơ, cứ chủ nhật thì ăn trưa với ông toà, hay nói rằng chính quỷ sứ đã lấy dây thừng buộc Ivan Ivanovich vào với Ivan Nikiforovich, bởi thế nên cứ một ông ở đâu thì ông kia cũng có mặt ở đó.


 


Ivan Nikiforovich chưa từng lấy vợ. Mặc dù có đôi người xì xào rằng ông đã từng có vợ, nhưng đó là điều bịa đặt hoàn toàn. Tôi biết rất rõ Ivan Nikiforovich, vì thế có thể khẳng định rằng đến cả ý định lấy vợ ông ấy cũng chưa từng có. Thế mà chẳng hiểu những lời thiên hạ đồn đó xuất phát từ đâu? Cũng có tiếng đồn rằng Ivan Nikiforovich bẩm sinh có đuôi, nhưng chuyện bịa đặt này ngu ngốc và ác ý, lại bất lịch sự đến mức tôi cho rằng chẳng cần phải phủ nhận nó đối với các độc giả có học, những người biết chắc chắn rằng đuôi chỉ có ở loài phù thuỷ, hoặc rất hiếm người bẩm sinh có đuôi, những người này nếu có thì phần nhiều cũng là phụ nữ, chứ chả mấy khi thấy đàn ông.


 


Dù rất thân nhau, nhưng hai ông bạn chí cốt này khác nhau một trời một vực. Để so sánh ta có thể kể kỹ hơn về tính cách của hai người. Ivan Ivanovich có tài ăn nói hiếm thấy – ngài biết cách nói rất êm tai, dễ chịu. Giời ạ, ngài nói thì đến con kiến trong lỗ cũng bò ra! Cảm giác dễ chịu khi nghe ngài nói có thể so sánh với cảm giác như được ai đó bới tóc trên đầu, hay dùng ngón tay cù nhẹ vào gót chân. Ta cứ nghe, nghe mãi, và cái đầu ta tự ngả xuống! Dễ chịu quá! Quá dễ chịu, như giấc ngủ say sau khi tắm mát vậy. Còn Ivan Nikiforovich thì ngược lại, thường im lặng, nhưng nếu có nói ra lời nào thì hãy bảo trọng, bởi nó sắc nhọn hơn bất kỳ thứ dao cạo nào.


 


Ivan Ivanovich dáng gầy gầy, cao ráo. Ivan Nikiforovich thấp hơn một chút, nhưng bề ngang thì phát triển đẫy. Cái đầu Ivan Ivanovich trông giống củ cải quay đuôi xuống dưới, còn đầu Ivan Nikiforovich trông giống củ cải quay đuôi lên phía trên. Ivan Ivanovich thường chỉ sau bữa trưa no nê mới mặc mỗi chiếc sơ mi nằm nghỉ ngoài hiên, đến chiều mới khoác cái áo lông lừng danh đi đâu đó – vào cửa hàng của thị trấn, nơi ngài bán bột mì, hoặc là ra đồng săn chim cút. Ivan Nikiforovich thì nằm ngoài hiên suốt ngày, nếu như trời không nóng quá sẽ phơi lưng ra nắng, và chẳng muốn dời gót đi đâu cả. Nếu có thì cũng chỉ là đi thăm thú cơ ngơi của mình vào sáng sớm, rồi lại nằm ườn ra. Hồi trước thì cũng có khi ông rẽ sang thăm ông hàng xóm Ivan Ivanovich.


 


Ivan Ivanovich là người rất tinh tế và trong các cuộc đàm đạo tử tế không bao giờ dùng từ thô thiển, và sẽ tự ái ngay lập tức, nếu như nghe thấy người khác nói tục. Ivan Nikiforovich đôi khi không kìm mình được, mỗi lần như vậy Ivan Ivanovich lại nhảy dựng lên, nói: “Đủ rồi, đủ rồi đấy, Ivan Nikiforovich kính mến. Thà tôi đi sưởi nắng còn hơn phải nghe những lời trái ý Chúa đó”. Ivan Ivanovich thường rất cáu nếu như có một con ruồi nào đó vô phúc ngã vào đĩa súp củ cải đỏ ngon lành của ngài. Ngài cáu đến mức không thể giữ nổi mình, trong nhà hẳn sẽ xuất hiện đĩa bay và ông chủ nhà sẽ là người lãnh đủ.


Ivan Nikiforovich rất thích tắm táp, và một khi đã ngâm mình ngập đến tận cổ vào nước, sẽ cho đặt cả một chiếc bàn cùng với ấm samovar vào đó, bởi ông rất thích uống chè trong bồn nước mát lạnh. Mỗi tuần Ivan Ivanovich cạo sửa bộ râu quai nón của mình hai lần, còn Ivan Nikiforovich thì chỉ cạo một lần thôi. Ivan Ivanovich là người rất tò mò. Chúa xá tội, nếu như bạn có điều gì đó bắt đầu thổ lộ với ngài, thì hẳn là bạn sẽ chẳng thế nào kết thúc nổi! Nếu như ngài có điều gì đó không hài lòng, ngài sẽ biểu lộ sự không hài lòng đó ngay. Còn như vẻ bề ngoài của Ivan Nikiforovich thì rất khó đoán, ông hài lòng hay đang cáu giận, hay mừng vui trước sự việc nào đó, nếu như tự ông không nói ra. Ivan Ivanovich bản tính hơi nhát. Ivan Nikiforovich, ngược lại, quần sharova xếp ly rộng tới mức nếu thổi lên thì có thể chứa hết cả sân lẫn nhà. Ivan Ivanovich có cặp mắt rất biểu cảm màu tàn thuốc lá, cái miệng trông giống chữ V, còn mắt Ivan Nikiforovich nhỏ, hơi vàng vàng, hầu như bị lấp mất dưới cặp mày rậm và đôi má béo bệu, cái mũi trông như quả mận chín. Ivan Ivanovich nếu như mời ai đó hút thuốc, sẽ dùng lưỡi liếm cái nắp hộp thuốc trước, gõ ngón tay thật kêu, rồi đưa ra trước mặt người quen, nói: “Cho tôi hỏi, ngài có hạ cố không?”, còn nếu là người không quen, ngài sẽ nói cầu kỳ hơn nhiều: “Xin cho hỏi quý tính đại danh và cấp bậc của quý ngài, và quý ngài có hạ cố dùng thuốc lá không?”. Trong khi đó, Ivan Nikiforovich sẽ đưa thẳng vào tay bạn nhúm thuốc lá, buông mỗi một từ cụt lủn: “Xin mời”.


 


Cả Ivan Ivanovich lẫn Ivan Nikiforovich đều không thích, có thể nói là rất ghét rệp, và vì lẽ đó cả Ivan Ivanovich lẫn Ivan Nikiforovich đều không muốn bỏ qua cơ hội gặp người Do Thái bán hàng, để mua của họ các loại dầu thơm đựng trong lọ thủy tinh để chống loài côn trùng đáng ghét đó, nhưng trước khi mua hàng thì kiểu gì cũng phải chửi bới bọn họ thậm tệ vì bọn họ theo tôn giáo Do Thái.


 


Nhìn chung, dù có khá nhiều điểm khác nhau, nhưng cả Ivan Ivanovich lẫn Ivan Nikiforovich đều là những con người tuyệt vời.


 


Chương II


Buổi sáng, mà đang là tháng bảy, Ivan Ivanovich nằm dưới mái hiên. Đó là một ngày nóng bức, không khí khô và nóng như chảy thành dòng. Ivan Ivanovich đã lượn một vòng ra ngoại ô, xem bọn cắt cỏ làm việc, và vào làng, hỏi bọn nông dân đôi ba câu chuyện, kiểu như họ từ đâu tới, đi đâu, để làm gì, rồi mới quay về nhà nằm ngơi. Ngài nằm ườn ra như thế mà nhìn ngắm tủ giả, sân vườn, ngắm những con gà mái đi lại trong sân mà nghĩ bụng: “Trời ạ, ta là một ông chủ giàu có! Thật ta chẳng còn thiếu thứ gì. Gia cầm, nhà cửa, kho tàng, những thức ngon vật lạ, rượu nhà nấu, lê mận nhà trồng. Trong vườn thì nào anh túc, nào bắp cải, đỗ đậu... Thật chả thiếu thứ gì. Giá mà ta được biết ta còn thiếu thứ gì nhỉ?”


 


Tự đặt ra cho mình câu hỏi có ý nghĩa sâu xa như vậy rồi, Ivan Ivanovich đăm chiêu suy nghĩ, trong khi cặp mắt vẫn kiếm tìm những vật chưa để ý đến, và vì thế đã vượt qua hàng rào mà ngó vào sân nhà Ivan Nikiforovich, nhờ thế nên mới trông thấy một cảnh tượng phải nói là lạ lùng. Một mụ đàn bà gầy guộc đang mang những áo sống đã để lâu ngày ra phơi trên cái dây thừng căng ngang sân. Chẳng mấy chốc, chiếc áo quân phục cũ với hai cái măng sét tay đã sờn dăng ngang không khí và ôm trong lòng mình một chiếc sơ mi gấm, đằng sau chúng là một chiếc áo khoác cung đình có cúc dập quốc huy hẳn hoi, nhưng cổ đã bị chuột hay gián nhấm nham nhở, một chiếc quần bằng vải cát sơ mia trắng đầy vết ố mà ngày trước đã từng có trọng trách che kín đôi chân của Ivan Nikiforovich, nhưng ngày nay chắc chỉ hai ngón tay ông mang vừa mà thôi. Sau chiếc quần là đến một chiếc khác, hai ống hẹp dang ra như chữ U, rồi một chiếc áo khoác Kozak màu xanh lơ, Ivan Nikiforovich may cho mình khoảng 20 năm trước, khi định thi vào sở cảnh sát và bắt đầu để ria. Cuối cùng, chiếc nọ sau chiếc kia, mảnh như hai chiếc gậy, là một đôi kiếm kiêu hãnh phơi mình trong không khí. Rồi phất phới bay hai mảnh lưng của một cái gì đó giống như áo khoác ngoài màu xanh cỏ, với hàng cúc bằng đồng to như đồng 5 xu. Sau hai mảnh lưng ấy lấp ló một chiếc gilê, hai đường ve áo kẹp dây vàng, phía trước khoét rất sâu. Nhưng chẳng được mấy lâu thì chiếc gilê đã bị chìm dưới một cái váy đàn bà cũ, như kiểu váy của bà cố đã qua đời, có hai túi đựng vừa mỗi bên một quả dưa hấu. Tất cả các trang phục lẫn lộn đó tạo thành một cảnh tượng khiến Ivan Ivanovich lấy làm vui mắt, đồng thời, các tia nắng lốm đốm nhảy múa lúc thì trên cái tay áo xanh lơ, lúc lại chỗ tay màu xanh cỏ, rồi chỗ cái măng sét đỏ hoặc trên gấm vàng, hay là lấp lánh trên lưỡi kiếm, khiến cả mớ trở nên một cái gì đó rất dị thường, gần giống như cái hộp sân khấu múa rối mà bọn nghệ sĩ lang thang hay trình diễn ngoài làng. Đám đông tụ tập chen chúc nhìn ngắm vua Irod trên ngai vàng, hay chàng Anton dắt dê. Tiếng vĩ cầm rin rít phát ra từ phía sau cái hộp sân khấu đó trong khi một thanh niên digan vỗ tay trên miệng mình thay trống, còn mặt trời thì đã gần ngả, cái lạnh trong trẻo của đêm miền Nam đã đè nặng hơn lên bờ vai khoẻ mạnh và bộ ngực no tròn của các thôn nữ.


 


Chẳng mấy chốc mụ già lại chui ra khỏi kho lần nữa, lần này vừa thở phì phò vừa vác một cái yên ngựa cổ, với những dây dợ đã đứt te tua, và những bao da đựng súng lục, với một tấm phủ yên ngựa ngày xưa chắc là màu đỏ tươi, thêu chỉ vàng và trang trí bằng những chiếc huy hiệu đồng. “Mụ già ngu ngốc! – Ivan Ivanovich nghĩ bụng. - Chỉ thiếu mỗi nước đem treo Ivan Nikiforovich lên để hong nữa thôi!”


 


Chính xác: Ivan Ivanovich cũng không hoàn toàn nhầm khi nghĩ như vậy. Chỉ năm phút sau chiếc sharova vải bông thô của Ivan Nikiforovich đã dăng ra, chiếm cả nửa sân. Rồi sau chiếc quần, mụ già mang ra một chiếc mũ và khẩu súng.


 


“Cái gì thế này nhỉ? – Ivan Ivanovich nghĩ bụng. – ta chưa bao giờ trông thấy một khẩu súng trong tay Ivan Nikiforovich. Ông ta làm gì với nó nhỉ? Bắn thì không bắn, thế mà sở hữu súng để làm gì nhỉ? Ông ta cần súng để làm gì nhỉ? Mà trông khẩu súng mới đẹp làm sao chứ! Ta muốn có một khẩu tương tự như thế này từ lâu rồi. Đúng là ta muốn có một khẩu súng, ta thích giải trí với một khẩu súng”.


 


- Này, bà ơi, bà ơi! – Ivan Ivanovich hét to, vẫy vẫy ngón tay.


 


Mụ già lại gần hàng rào


 


- Bà có cái gì thế kia?


 


- Chính ngài cũng đã thấy còn gì nữa, khẩu súng.


 


- Súng nào nhỉ?


 


- Ai mà biết được súng nào, thưa ngài! Giá mà là súng của tôi thì có khi tôi biết người ta chế tạo nó bằng chất gì đấy, nhưng đây lại là súng của ông chủ.


 


Ivan Ivanovich ngồi dậy, bắt đầu xem xét khẩu súng từ mọi phía, và quên cả việc trách móc mụ già đã đem súng và kiếm ra phơi cùng với quần áo cũ.


 


- Súng này, chắc là làm bằng sắt đấy, - Mụ già nói.


 


- Hừm! Sắt à. Sao nó lại được làm bằng sắt nhỉ? – Ivan Ivanovich lầm bầm như nói với chính mình.


 


- Thế chủ của mụ có nó lâu chưa?


 


- Có khi cũng lâu rồi.


 


- Cái này tốt lắm đây – Ivan Ivanovich tiếp. – Ta sẽ xin ông ấy cho ta. Ông ấy thì giữ súng để làm gì? Hoặc là ta sẽ thử xin đổi bằng một cái gì đó. Sao, hả bà già, chủ bà có nhà chứ?


 


- Ông ấy có nhà.


 


- Ông ấy đang làm gì? Ngơi à?


 


- Đang ngơi.


 


- Tốt rồi, ta sẽ sang ngay bây giờ.


 


Ivan Ivanovich mặc áo, nhặt cái cành cây đầy mấu làm gậy đuổi chó, vì ở thị trấn Mirgorod này người ta có thể gặp nhiều chó trên phố hơn là người, và ra cổng. Sân nhà Ivan Nikiforovich tuy tiếp giáp với sân nhà Ivan Ivanovich, và có thể trèo qua hàng rào chung để sang bên đó, tuy nhiên Ivan Ivanovich chọn cách đi đằng cổng. Từ phố này cần phải đi bộ qua một con ngõ, nhỏ đến mức nếu hai chiếc xe một ngựa kéo đi ngược chiều nhau tình cờ gặp nhau ở đây thì sẽ bị kẹt lại cho đến khi người ta phải góp sức bắt bánh xe sau và lôi mỗi xe đi một phía. Những người đi bộ thì nép sát vào hàng rào y như những cây ngưu bàng, cỏ dại mọc dọc hàng rào. Nhà kho của Ivan Ivanovich nằm ở một phía của ngõ nhỏ này, còn phía bên kia là kho, cổng và chuồng chim bồ câu của Ivan Nikiforovich.


 


 


Ivan Ivanovich tiến lại gần cổng, khua loảng xoảng: từ phía trong sân vọng ra tiếng chó sủa, nhưng cả đàn chó màu lông rất đa dạng đã cúp đuôi chạy trở vào, khi nhận ra gương mặt người quen. Ivan Ivanovich đi qua cái sân nơi thì là chỗ đậu của những con chim bồ câu nòi Ấn Độ quen nhặt thức ăn từ tay Ivan Nikiforovich, qua đống vỏ dưa hấu dưa bở, nơi lại rải rác đám rau xanh hay cái bánh xe gẫy hỏng, hay cái đai thùng gãy, và thằng bé mặc cái áo sơ mi bẩn thỉu, - nói tóm lại, một bức tranh mà các hoạ sĩ hẳn phải thích thú! Bóng các áo sống cũ phơi trên dây gần che kín hết sân, và cho ngài cảm thấy một chút mát dịu. Mụ già cúi gập người đón ngài, và để nghe ngóng, đứng lại bất động tại chỗ. Ngay trước nhà là thềm vừa mới được sửa sang, có mái lợp trên hai cái cột gỗ sồi - một phương cách tránh nắng chẳng mấy hữu hiệu, bởi vào thời kỳ này ở Tiểu Nga người ta không thích đùa và để người đi bộ đổ mồ hôi từ đầu đến chân. Cứ phải thế mới thấy nguyện vọng của Ivan Ivanovich được sở hữu cái vật vô cùng cần thiết kia mạnh mẽ đến nhường nào, khi ngài quyết ra đi, sang nhà hàng xóm vào chính thời điểm này, bất chấp thói quen chỉ ra đường đi dạo vào lúc chiều tối.


 


Cái phòng mà Ivan Ivanovich vừa bước vào rất tối, bởi vì tất cả các rèm xung quanh đều hạ thấp, và nắng chiếu qua các lỗ thủng li ti trên rèm tạo ra các quầng sáng màu cầu vồng, khi đập vào tường phía đối diện thì vẽ lên đó những quang cảnh thật sặc sỡ đa dạng, nào hình thù những mái nhà, cây cối, nào những áo quần treo đầy sân, có điều tất cả đều lộn ngược. Chính nhờ những phong cảnh đó mà cả phòng như sáng lên trong một thứ ánh sáng lờ mờ kỳ lạ.


 


- Lạy Chúa cứu giúp! – Ivan Ivanovich lên tiếng.


 


- Quý hoá quá, chào bác, Ivan Ivanovich! - Giọng trả lời phát ra từ phía góc phòng, và chỉ tới lúc đó Ivan Ivanovich mới nhìn thấy Ivan Nikiforovich đang ngả ngốn trên chiếc thảm trải ngay trên sàn. – Mong bác thứ lỗi vì tôi đang trong tình trạng tự nhiên thế này. Ivan Nikiforovich chẳng có gì trên người, kể cả sơ mi.


 


- Không sao. Hôm nay bác ngơi rồi chứ, Ivan Nikiforovich?


 


- Ngơi rồi. Bác cũng ngơi rồi chứ, Ivan Ivanovich?


 


- Ngơi rồi.


 


- Thế thì vì sao mà giờ bác đã dậy thế?


 


- Giờ đã dậy ấy á? Chúa phù hộ, Ivan Nikiforovich ơi! Làm sao có thể ngủ trưa đến tận giờ này! Tôi vừa mới ở ngoài làng về đấy. Cảnh bên đường mới đẹp làm sao! Tuyệt mỹ! Mà cỏ thì mọc cao thế này này, mềm mại, mọng sữa!


 


- Gorpina, mụ đâu rồi! Ivan Nikiforovich hét, - mang vodka, bánh nướng với váng sữa ra mời Ivan Ivanovich nhé!


- Hôm nay thật đẹp trời!


 


- Thôi mà, xin bác, Ivan Ivanovich. Quỷ tha ma bắt, sao mà nóng thế không biết!


 


- Chuyện có thế cũng phải nhắc ma quỷ hay sao. Này, Ivan Nikiforovich kính mến, bác sẽ phải nhớ lại lời tôi hôm nay, nhưng nhớ ra khi đã muộn rồi: Đời này kiếp này bác sẽ bị trừng phạt vì nói ra miệng những lời phản Chúa như vậy đấy.


 


- Chà, tôi có nói gì làm bác phật ý nhỉ, Ivan Ivanovich? Tôi chẳng hề nhắc đến ông cụ thân sinh, cũng chẳng động chạm gì đến bà cụ thân sinh nhà bác mà. Tôi chẳng hiểu vì sao bác phật lòng.


 


- Thôi đủ rồi, đủ rồi đấy, Ivan Nikiforovich!


 


- Có Chúa chứng giám, tôi có nói gì động chạm đến bác đâu.


 


- Kỳ thật đấy, sao tới giờ mà lũ chim cút vẫn chưa nhảy múa dưới ống sáo nhỉ?


 


- Bác nghĩ gì mặc bác, tôi không bận tâm, tôi có xúc phạm gì bác đâu!


 


- Chả hiểu sao chúng vẫn chưa nhảy múa dưới ống sáo, Ivan Ivanovich tiếp tục, coi như không nghe Ivan Nikiforovich. Chưa đến lúc thôi, nhưng mà hình như là thế nào cũng cần đến một lúc như thế.


 


- Bác vừa nói, cảnh trong làng đẹp lắm?


 


- Tuyệt vời, phong cảnh thì tuyệt vời!


 


Rồi cả hai người im lặng.


 


- Vì sao bác, Ivan Nikiforovich, lại mang phơi áo sống thế? - cuối cùng thì Ivan Ivanovich lại bắt đầu.


 


- À, thì mụ già bỏ quên, làm hỏng hết cả áo quần còn tốt, hầu như là còn mới. Tôi đem ra phơi, vải đắt tiền, hầu như còn tốt mà, đem phơi phóng rồi lộn lại thì lại có thể mặc được.


 


- Trong các thứ bác cho phơi đó tôi rất thích một vật, Ivan Nikiforovich ạ.


 


- Cái gì thế bác?


 


- Bác làm ơn nói cho tôi nghe, bác cần khẩu súng mà mụ già đem phơi phóng cùng với sống áo kia để làm gì? – Và Ivan Ivanovich mở hộp thuốc lá – Cho tôi hỏi, bác có hạ cố dùng không?


 


- Không, xin mời bác cứ tự nhiên! Tôi dùng thuốc của mình thôi. Vừa nói Ivan Nikiforovich vừa đưa tay sờ soạng quanh mình, với lấy cái sừng đựng thuốc. Mụ già ngu ngốc, thì ra mụ mang cả súng ra phơi à! Tay Do Thái ở Sorochinsty sản xuất thuốc lá ngon thật, chả hiểu nó bỏ thêm cái gì vào mà thơm thế! Giống hệt như mùi bạc hà. Đây này, bác thử xem, cho một ít vào miệng mà ngửi? Đúng không bác, phảng phất mùi bạc hà? Nào, bác thử đi, làm ơn thử đi!


 


- Bác làm ơn nói cho tôi nghe, Ivan Nikiforovich, tôi vẫn đang hỏi về khẩu súng, bác sẽ làm gì với nó thế? Vì bác đâu có cần súng ống gì?


 


- Sao lại không cần? Súng là để bắn mà, nhỡ có lúc cần thì sao?


 


- Chúa phù hộ bác, Ivan Nikiforovich ơi, lúc nào thì bác mới phải bắn chứ? Có mà đến mùng thất. Bác ấy mà, theo như những gì tôi nhớ mà những người khác cũng biết, chưa hề giết một con ruồi nào, mà về bản chất thì chúa sinh ra bác chẳng phải để bắn chác gì. Trông khổ người bác bệ vệ, dáng đi sang trọng thế mà. Làm sao có thể hình dung bác lặn lội ngoài đầm lầy, trong những bộ cánh mà đôi khi gọi thẳng tên ra thì không mấy lịch sự, đang phơi ngoài kia? Không, bác cần thanh thản nghỉ ngơi và nguồn cảm hứng. (Ivan Ivanovich, như trên kia tôi đã kể, có cách ăn nói rất hình ảnh, nhất là khi ngài cần phải thuyết phục ai đó theo ý mình. Ngài nói mới hay làm sao chứ, Chúa ơi, mới hay làm sao!). Đúng, đúng, bác cần có những hành vi thích hợp với địa vị của mình. Bác nghe này, nhường cho tôi khẩu súng nhé!


 


- Nhường sao được, khẩu súng đắt tiền đấy. Những khẩu súng như thế giờ chẳng kiếm được nữa đâu. Tôi mua của một tay Thổ từ cái ngày muốn xin vào ngành cảnh sát đấy. Giữ từ bấy đến giờ mang cho làm sao được? Cho làm sao được một vật cần thiết như thế?


 


- Bác cần súng để làm gì nhỉ?


 


- Sao lại không cần chứ? Thế nhỡ bọn cướp tấn công nhà thì sao... Lại còn bảo là không cần. Lạy Chúa cứu thế! Có khẩu súng trong nhà tôi yên tâm và chẳng sợ gì nữa. Vì sao nào? Vì tôi biết chắc trong tủ của tôi có một khẩu súng.


 


- Súng tốt đấy! nhưng mà, Ivan Nikiforovich ơi, cò súng hỏng rồi.


 


- Thì có sao đâu, hỏng cò một chút ấy mà. Có thể chữa được. Chỉ cần bôi một chút dầu lanh cho bớt gỉ sét là ngon mà.


 


- Cứ như bác nói, Ivan Nikiforovich, thì tôi cho rằng bác chưa hề thân thiện gì với tôi thì phải. Bác chẳng muốn có một động tác chứng tỏ tình bạn hữu nhỉ?


 


- Bác nói gì vậy Ivan Ivanovich, sao tôi lại chẳng thân thiện với bác chứ? Bác nói vậy mà không thấy xấu hổ sao? Bò của bác ăn cỏ trên đồng nhà tôi kìa, tôi có đuổi chúng đâu. Lần nào đi Poltava, bác chả hỏi mượn xe ngựa, tôi có từ chối bao giờ đâu nào? Lũ trẻ bên nhà bác chui qua rào sang vườn nhà tôi, đùa nghịch với lũ chó tôi cũng chả nói gì, để kệ cho chúng chơi, miễn là đừng táy máy cái gì là được! Kệ cho chúng chơi thoả thích!


 


- Bác chẳng thích tặng thì thôi, ta trao đổi nhé.


 


- Thế bác cho tôi cái gì nào? - Hỏi câu ấy, Ivan Nikiforovich chống hai khuỷu tay, nhỏm người ngồi dậy và chăm chú nhìn Ivan Ivanovich.


 


- Tôi đưa cho bác con lợn xám, cái con mà tôi đang vỗ béo trong chuồng ấy. Con lợn tuyệt hảo đấy! Chỉ đến sang năm thôi là nó đẻ cho nhà bác cả một bầy lợn con.


 


- Tôi chẳng hiểu bác nghĩ sao mà có thể nói thế, Ivan Ivanovich ơi. Tôi cần con lợn của bác làm gì chứ? Làm giỗ cho quỷ à?


 


- Lại nữa rồi. Không viện đến quỷ thì bác không nói chuyện được hay sao! Tội lỗi, tội lỗi đấy bác Ivan Nikiforovich ơi.


 


- Thế bác thì sao nhỉ, tôi nói thật, Ivan Ivanovich ơi, có quỷ mới hiểu được bác đưa cho tôi cái gì để đổi khẩu súng chứ: con lợn!


 


- Vì sao mà nó lại là quỷ mới hiểu là cái gì, Ivan Nikiforovich?


 


- Thì bác cứ tự nghĩ kỹ lại mà xem. Của tôi dù sao cũng là khẩu súng, một thứ đồ vật nổi tiếng. Còn con lợn – đúng là chỉ có quỷ mới biết nó là cái gì. Giá mà người nói không phải là bác nhá, hẳn là tôi đã tự ái rồi.


 


- Nhưng con lợn thì có gì mà bác cho là không tốt?


 


- Nào, nào... bác coi tôi là hạng người gì vậy? Để có thể đổi con lợn...


 


- Ấy, bác ngồi xuống, ngồi xuống đã nào! Thôi tôi không đổi nữa vậy... Bác cứ giữ súng của bác, cứ để cho nó rỉ sét rồi mục nát trong góc tủ áo nhà bác ấy, - tôi chẳng thèm nói về nó nữa đâu.


 


Rồi hai ông bạn chí cốt lại im lặng một lúc lâu


 


- Thiên hạ đồn, - Ivan Ivanovich bắt đầu lại, - ba lão vua đã tuyên chiến với Sa hoàng của chúng ta rồi.


 


- Đúng đấy bác ạ. Tôi cũng nghe Petr Fedotovich nói. Chiến tranh kiểu gì nhỉ? Mà vì sao nhỉ?


 


- Có lẽ là chẳng nói được vì sao, Ivan Nikiforovich ạ, và để làm gì. Tôi nghĩ rằng các ông vua ấy muốn chúng ta theo tôn giáo của Thổ Nhĩ Kỳ.


 


- Ối dào, còn muốn thế nữa cơ đấy! Ivan Nikiforovich chậm rãi nói, hơi nhấc đầu lên.


 


- Đó, bác thấy chưa, nên Sa hoàng mới tuyên chiến với chúng đấy. Không, Ngài nói, có mà các vị hãy theo Khristos của chúng tôi ấy!


 


- Thì sao? Bởi chúng ta sẽ đánh chúng tan tành, Ivan Ivanovich ạ!


 


- Tất nhiên, đánh thôi. Vậy thế nào nhỉ, Ivan Nikiforovich, bác vẫn không muốn đổi súng à?


 


- Tôi thấy kì quá, Ivan Ivanovich, bác có vẻ như là người thông thái đấy, thế mà ăn nói cứ như là bọn trẻ ngẩn ngơ vậy. Bác coi tôi là thứ ngu ngốc thế à...


 


- Thôi nào, bác ngồi xuống, ngồi xuống. Kệ cái khẩu súng ấy vậy. Thôi cứ để nó rỉ sét đi mà, tôi chẳng thèm nói đến nữa đâu.


 


Chuyện đến đây thì mụ già mang đồ ăn vào.


 


Ivan Ivanovich uống cạn một ly, nhắm với bánh nướng và váng sữa.


 


- Bác nghe này, Ivan Nikiforovich, tôi sẽ đưa cho bác, ngoài con lợn ra, thêm hai bao kiều mạch nhé, bác không trồng kiều mạch mà. Năm nay đằng nào bác cũng phải mua kiều mạch.


 


- Chúa ơi, Ivan Ivanovich, phải nói chuyện với bác thôi, bác mắc nghẹn đậu tròn rồi. (Câu này vẫn còn nhẹ, Ivan Nikiforovich còn có thể nói những câu mạnh hơn nhiều). Thế gian đã thấy ai nói chuyện đổi cả một khẩu súng lấy hai bao kiều mạch chưa? Sao chưa thấy bác nói đổi cái áo lông của bác cho tôi nhỉ?


 


- Ivan Nikiforovich, bác đừng quên là còn con lợn nữa nhé?


 


- Sao! Khẩu súng như thế mà chỉ có hai bao kiều mạch với con lợn thôi á?


 


- Thì sao nữa, chẳng lẽ còn ít?


 


- Lấy khẩu súng?


 


- Tất nhiên, lấy súng.


 


- Hai bao lấy súng?


 


- Có phải hai cái bao rỗng đâu, bên trong bao là kiều mạch mà. Mà bác lại quên con lợn rồi.


 


- Về mà hôn hít nó, còn nếu chả muốn thì thôi, thả nó đi với quỷ sứ!


 


- Ồ! Bác cứ nói mãi một chuyện thế! Bác sẽ thấy, rồi ở thế giới bên kia cái lưỡi của bác sẽ bị châm kim vì những câu nói xúc phạm Chúa như thế đấy. Sau khi nói chuyện với bác người ta phải xông khói toàn thân, rửa tay rửa mặt mất thôi.


 


- Tôi xin bác, Ivan Ivanovich. Khẩu súng là một thứ đồ vật cao quý, một thứ đồ giải trí gây tò mò, lại là một thứ trang trí rất dễ chịu cho căn nhà nữa...


 


- Bác Ivan Nikiforovich này, bác tán dương khẩu súng đúng kiểu mẹ hát con khen hay, - Ivan Ivanovich nói một cách bất bình, bởi vì thực tế ngài cũng đã bắt đầu cáu.


 


- Bác đúng là một con ngỗng đực thực thụ.


 


Giá mà Ivan Nikiforovich đừng nói ra câu này thì hai người bạn sẽ dừng cuộc nói chuyện ở đây và chia tay như mọi lần, trong hoà bình. Thế nhưng câu chuyện giờ đây đã xoay sang hướng khác. Ivan Ivanovich giận bừng bừng.


 


- Bác nói gì thế, Ivan Nikiforovich! Ngài cao giọng.


 


- Tôi nói bác giống y như con ngỗng đực đấy, Ivan Ivanovich ạ!


 


- Thưa ông, sao ông lại dám ăn nói như vậy, quên hết mọi phép lịch sự và tôn trọng người khác, gọi người ta bằng những từ ngữ thấp hèn như vậy?


 


- Có gì mà thấp hèn nào? Còn bác, vì sao mà bác lại khua chân múa tay thế bác Ivan Ivanovich?


 


- Tôi nhắc lại, tại sao ông lại dám gọi tôi là con ngỗng đực, bất chấp mọi phép lịch sự thông thường thế?


 


- Tôi còn phải đập cho bác một nhát lên đầu nữa ấy, Ivan Ivanovich! Sao bác lại quang quác lên thế?


 


 


Đến đây thì Ivan Ivanovich không còn làm chủ được bản thân mình nữa: hai môi ngài run lên, cái miệng đang từ hình chữ V chuyển sang hình chữ O, mắt trợn trừng không chớp, nhìn thật đáng sợ. Sự cáu giận đến mức thế này rất ít khi xảy ra với Ivan Ivanovich, phải có ai đó chọc giận ngài thật đến nơi đến chốn.


 


- Được, để tôi nói cho mà biết, - Ivan Ivanovich nói, - Tôi không thèm quen biết gì với ông nữa.


 


- Ôi tai vạ lớn đấy! Chúa ơi, tôi chẳng phải khóc than vì chuyện đó đâu! Ivan Nikiforovich nói. Thực ra không phải thế đâu, bác ta đang nói dối, lạy Chúa, đang nói dối đấy. Thực ra Ivan Nikiforovich rất lấy làm bất bình vì tuyên bố của Ivan Ivanovich.


 


- Tôi sẽ không bao giờ thèm đến nhà bác nữa.


 


- Ê ê! - Ivan Nikiforovich nói, bất bình tới mức không còn biết phải phản ứng thế nào, và, trái ngược với thói quen của mình, đứng hẳn dậy. – Gia nhân, nhanh lên! Theo tiếng gọi của chủ, mụ đàn bà gầy còm lúc trước, cùng một thằng bé thấp còi mặc áo khoác rộng thùng thình chạy lại. – Hãy dắt tay Ivan Ivanovich và đuổi cổ ông ấy ra khỏi nhà cho ta!


 


- Sao, các người đối xử như thế với một nhà quý tộc à! – Ivan Ivanovich thét lên, trong tiếng thét thể hiện sự kiêu hãnh, phẩm giá và sự tự ái. – Các ngươi cứ thử xem. Lại gần đây xem. Ta sẽ tiêu diệt các người cùng với lão chủ ngu xuẩn của các người. Quạ cũng chẳng tìm nối chỗ vứt xác các người đâu! (Mỗi khi cáu giận, Ivan Ivanovich cũng biết cách nói mạnh lắm, nhất là khi cả tâm hồn ngài bị chấn động).


 


Cả đám tạo nên một bức tranh rất mạnh: Ivan Nikiforovich, đứng giữa phòng phô toàn vẹn toà thiên nhiên của mình không có chút gì che đậy, mụ già há hốc mồm và trên gương mặt mụ tất cả mọi cảm xúc đã bị nỗi sợ hãi lấn át hết. Ivan Ivanovich giơ hay tay lên như thể đang diễn thuyết trên các diễn đàn thời La Mã cổ. Đó là một khoảnh khắc độc nhất vô nhị! Lớp kịch thật hào hùng! Và khán giả chỉ có một mà thôi: Đó là thằng bé mặc chiếc áo khoác thùng thình, đang đứng bình thản và đưa ngón tay ngoáy mũi.


 


Cuối cùng, Ivan Ivanovich cầm lấy cái mũ của mình.


 


- Ông đã xử sự đẹp thật đấy, Ivan Nikiforovich ạ! Tuyệt cú mèo! Ta sẽ còn nhắc cho ông nhớ chuyện này!


 


- Thôi xin bác hãy về nhà đi, Ivan Ivanovich! Và hãy bảo trọng, đừng gặp tôi nhé, tôi đập vỡ mặt ra thì bác chớ có trách!


 


- Này đây, phần ông, Ivan Nikiforovich! Nói câu ấy, Ivan Ivanovich chìa cái nắm đấm có ngón tay cái xọc qua ngón trỏ và ngón giữa vào mặt Ivan Nikiforovich, đập mạnh cửa sau lưng mình. Cái cửa kêu lên ken két, rồi lại mở ra.


 


Ivan Nikiforovich xuất hiện trên khung cửa, định nói thêm điều gì đó để tổng kết, nhưng Ivan Ivanovich bay ra khỏi sân, không ngoái đầu lại.


 


(còn tiếp)


Người dịch: Nthach NNN.


Nguồn: diendan.nuocnga.net

trieuxuan.info