Truyện ngắn
08.12.2008
Giả Bình Ao
Bức tranh trên bàn kiểm điểm

“Chung thanh phá chỉ nhập song lai, ngàn thụ vạn thụ đào lý khai” (Tiếng chuông chọc chủng tờ giấy dán cửa sổ lọt vào trong nhà, ngàn vạn cây đào cây mận nở hoa). Đây là bức tranh của một thầy giáo già treo ở trong nhà triển lãm tranh “Chào mừng thắng lợi Tháng Mười”, đã thu hút hàng ngàn hàng vạn người xem.


Thật ra, bức tranh này chỉ bằng tám phần mười tờ giấy vẽ, hơn nữa không có màu sắc, đường nét lại cực kỳ đơn giản: Một cái cửa sổ, rõ ràng là cửa sổ gỗ ô vuông thường thấy ở nông thôn, một ô ở mép dưới bên trái đã gẫy, trên cửa sổ dán giấy báo, trên giấy báo có một tiêu đề: “Thà cần người lao động không có văn hóa, chứ không cần quí tộc tinh thần có văn hóa”. Dưới tít ấy là nét bút vẽ đường vằn lượn sóng. Giấy dán ở cửa sổ cũ lắm, mấy chỗ đã bị rách, chỗ thủng ở giữa to hơn, khe giấy dường như đang run rẩy, phát ra tiếng vo vo khe khẽ. Trên góc phải cửa sổ có một mạng nhện, mạng đã rách, một con nhện tám chân béo mũm bám trên một sợi tơ, cố sức bò lên, nó có nguy cơ bị rơi xuống. Trước cửa sổ - gần như toàn bộ bức tranh - có một cành đào to và một cành mận to vắt ngang. Trên cành đào cành mận hoa đang nở, hoa dầy, cánh to; trên cánh hoa có chấm tròn nhỏ, phải chăng đó là hạt sương? Ở phía trên của bức tranh lại viết ba chữ: “Bản kiểm điểm”. Chữ “Bản” xiêu xiêu vẹo vẹo, chắc chắn là cây bút viết run run. Chữ “kiểm” thì nhìn rõ một nửa, nửa kia bị giọt mực ở ngọn bút quệt nhòa đi. Chữ “điểm” viết ngay ngắn, có lẽ hơi mạnh tay nên giấy bị chọc thủng một lỗ.


Người nào đến trước bức tranh ấy cũng phải đứng lại, nhìn hết lượt này đến lượt khác, ngực bắt đầu phập phồng, răng trên cắn môi dưới, thậm chí có nhiều người còn khịt mũi. Bức tranh đã đưa con người trở lại những năm tháng bầm gan tím ruột, nơm nớp lo sợ.


Có lẽ đây là một buổi bình minh chăng? Chim sơn ca đang hót ở ngoài đồng. Cây nến trong nhà đang khóc sướt mướt, nó chỉ dài bằng ngón tay. Thầy giáo già cắn cây bút đã chấm mực, ngồi trước tập giấy, phía trên thếp giấy viết ba chữ “Bản kiểm điểm”. Kiểm điểm ư? Cả một buổi tối, bên dưới chưa viết được chữ nào. Ông vò tóc, lập tức có ba sợi rơi xuống. Ông thổi bay đi, ánh mắt nhìn chằm chằm vào cái tít báo trên giấy dán cửa sổ...


Đêm yên tĩnh vô cùng. Ánh sáng ngọn nến chảy trên tờ giấy. Dưới chân tường, con côn trùng gì đó đang kêu chíc chíc. Trước kia, giờ này ông đang soạn bài, tay cũng cầm cây bút này... Nhưng bây giờ ông lại dùng bút này viết “kiểm điểm”.


Kiểm điểm cái gì nhỉ? Ông nghĩ đến cuộc đời mình: Ở chế độ cũ, mừng ngày sinh năm tuổi được ba ngày, thì ông đã đi chăn lợn cho nhà địa chủ. Những ngày đông giá rét, ông chăn đàn lợn, chân đất giẫm trong phân lợn để sưởi ấm. Sau ngày giải phóng, được nhà nước cho đi học, ông biết đọc biết viết. Tổ chức điều đi làm cán bộ ở ủy ban khu, thì ông lại xin lên miền núi xây dựng trường, làm thầy giáo. Ông muốn con em nhân dân lao động đều có trình độ văn hóa. Một năm đã qua, mười năm đã qua, suốt hai mươi năm rồi, ông gắn bó với công việc dạy học ở miền núi. Nhưng báo nói: Mười bảy năm mặt trận giáo dục là chuyên chính của đường lối đen, sau Cách mạng văn hóa lại ngóc đầu dậy. Ông không hiểu, cũng không quan tâm, vẫn chăm chỉ soạn bài như thường lệ, giảng bài như thường, chăm chỉ yêu cầu học sinh học tập như thường... Nhưng ông đã trở thành “điển hình của lão chín thối”, bị gọi xuống khỏi giảng đường để kiểm điểm tội ác.


Có tội gì mới được chứ? Lẽ nào để nhân dân lao động vĩnh viễn làm kẻ mù lòa mở mắt? Không học văn hóa thì lấy gì thực hiện “bốn hiện đại hóa” nước nhà? “Ta không có tội, ta không có gì đáng kiểm điểm!”.


Một đêm đã trôi qua, ông không viết được một chữ. Bây giờ trời đã sáng, trời sáng sẽ có người đến lấy bản kiểm điểm. Keng! Keng! Keng!


Tiếng kẻng đã điểm.


Đây là tiếng kẻng giảng bài đầu tiên. Tiếng kẻng giòn giã biết mấy. Mấy chục năm nay, tiếng kẻng như sợi dây thần kinh: Ông phải đi giảng bài rồi. Khi ông cầm giáo án trong tay, mới phát hiện không phải giáo án, mà là tập giấy phải viết “bản kiểm điểm”, đã vậy cửa lại bị khóa trái.


Ông ngồi xuống, ngẩn người ra.


Tiếng kẻng đang vang vang.


Dường như ông cảm thấy mình đang bước lên bục giảng. Các em học sinh soàn soạt đứng cả dậy, cùng cất tiếng “Chào thầy giáo!”. Ôi, hàng chục cái miệng nhỏ tươi rói, giống như hoa khiên ngưu hé nở, hàng chục cặp mắt lấp lánh, giống như bong bóng nước nổi lên từ dòng suối... “Chào các em!”. Ông cất tiếng, tiếng ông va vào bốn bức tường dội trở lại; chỉ có ông nghe rõ tiếng mình.


Ông thở rốc, khóe mắt nóng rừng rực như phun lửa. Tiếng kẻng vẫn đang dóng giả đổ hồi.


Ôi tiếng kẻng, nó chui vào từ lỗ thủng của giấy dán cửa sổ, làm rung giấy báo, giấy lại bắt đầu xuất hiện vết nứt mới, góc giấy ở kẽ nứt kêu vo vo.


Ông xô người lên trước, nắm chặt ô cửa sổ, nhìn ra ngoài qua lỗ thủng: Mạng nhện ở góc trên bên phải cửa sổ bị rách một góc, con nhện tám chân lơ lửng trong không trung, sợi tơ nhện đang run rẩy, sắp đứt.


Cũng giữa lúc này, đột nhiên, trước mắt ông chợt có luồng ánh sáng đỏ, rồi tiếp theo ông thốt ra một tiếng “a”. Ngoài cửa sổ nhìn thẳng ra là vườn quả của nhà trường, hàng ngàn hàng vạn cây đào cây mận đã nở hoa. Nhìn thấy đào mận, ông nhớ đến lũ học trò mà cả đời ông giảng dạy... Đào mận nở hoa tươi roi rói, mang theo những giọt sương, có phải đang mỉm cười với ông không? Ông đã cười.


Ông nhớ tới năm túi to đựng thư treo ở phòng mình. Đó toàn là thư của học sinh gửi cho ông, người thì kỹ sư ở mỏ dầu, người thì kỹ thuật viên ở mỏ quặng, kẻ thì lái tàu hỏa, kẻ thì pháo thủ bảo vệ bờ biển... Mỗi buổi sớm, nhân viên văn thư lại đưa tới một xấp thư. Những nhân vật xuất sắc trên các trận tuyến báo cáo thành tích của họ với thầy giáo mười mấy năm, hai mươi mấy năm trước của họ; họ gửi lời kính thăm thầy giáo kính yêu. Ông, một người già đầy tóc bạc, chia một niềm vui của học sinh thành hai niềm vui, ông hưởng thụ, ông hạnh phúc! Bây giờ, nhân viên văn thư chắc hẳn lại cầm một tập thư của ông, nhưng...


Ông lại nhìn đào lý đang nở rộ.


Nhưng kẻ nào có thể cấm đào lý nở hoa được nhỉ? Kẻ nào ngăn cản được mùa xuân đến cơ chứ?


Thế là ông vung bút vẽ bức tranh đó.


Bức tranh ấy chỉ sơ sài mấy nét. Đào lý không có chút màu sắc nào, chỉ là vô số những vòng tròn thể hiện đóa hoa. Trong một căn phòng cách ly cũ kỹ trống vắng thì đào đâu ra mực màu cơ chứ?


Nhưng thấu qua bức tranh này, có ai không nhìn thấy màu sắc trong tâm linh của thầy giáo già? Đứng trước bức tranh, có người xem nào lại không tô thêm màu sắc trong tâm linh của mình cho bức tranh ấy?


“Bản kiểm điểm” bằng tranh của thầy giáo già đánh lại “bè lũ bốn tên”, bây giờ lại trở thành tác phẩm nổi trội nhất trong triển lãm tranh. Mọi người xem bức tranh, căm giận, sung sướng, khen ngợi. Còn thầy giáo già thì sao? Lúc này ông nên tâm tình như thế nào? Có phải lại vẽ bức tranh mới?


Tây An, đêm 29 tháng 11 năm 1977


Nguồn: Giả bình Ao – Truyện ngắn. Vũ Công Hoan dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc trong Giả Bình Ao văn tập. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005.

trieuxuan.info