02.01.2016
Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí (2)

Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau


khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói


hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết


định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì


một người sẽ bảo: "Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!"


Có một lần coi một phim Anh, tôi thấy mấy đứa trẻ cãi nhau xem cùng leo cây hay bơi lội. Sau


khi đã biểu quyết leo cây thì tất cả đều đi leo cây. Chuyện này đối với tôi có ấn tượng rất sâu


sắc. Bởi vì dân chủ không phải là vấn đề hình thức, mà là một phần của sự sống. Cái dân chủ


của chúng ta là dân chủ bề ngoài. Trong lúc bỏ phiếu, các quan lớn cũng cần được chụp ảnh


với lá phiếu trên tay ra điều ta đây cũng bõ công tham gia vào cái cuộc chơi bầu cử này đấy.


Dân chủ thật ra có là cái quái gì trong sinh hoạt của họ đâu, chẳng qua chỉ là một hành vi để


biểu diễn!


Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố


đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa


Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết


rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu


trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.


Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: "Chết cũng


không chịu nhận lỗi". Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh


nghe một người Trung Quốc nói: "Việc này tôi đã sai lầm rồi!" Lúc đó anh phải vì chúng tôi


mà uống rượu chúc mừng.


Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ,


còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy


vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào


lòng rồi nói với nó: "Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm


như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!" Nó khóc mãi không thôi. Cái sự


việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu


hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.


Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái


của mình. Có một câu tục ngữ: "Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm" (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của


ai ? Dĩ nhiên của đối phương.


Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết


quả kiểm thảo thường là: "Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã


được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!". Lúc đọc đến kiểm thảo của


đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo


của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?


Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà


nó biến mất.


Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi


khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung


Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.


Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống


văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v...Nhưng bởi vì không thể đưa ra


chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.


Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của


người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương


Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu "Em yêu, em cưng" [Bá Dương


dùng chữ "đường mật" và "ta linh" để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người


Trung Quốc gọi nhau là "kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc" (sát thiên đao đích).


Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ


được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: "Tại sao người Trung


Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?"


Tôi có một người bạn viết tiểu thuyết kiếm hiệp sau bỏ nghề đi buôn bán. Một lần gặp anh tôi


hỏi thế nào, làm ăn có phát tài không?


Anh bảo: "Tài gì, hiện đang muốn treo cổ tự tử đây!" Tôi hỏi làm sao mà bị thua lỗ? Anh đáp:


"Anh không hiểu chứ nói chuyện với thương nhân Trung Quốc cả ngày cũng chả hiểu họ


muốn gì!"


Nhiều người nước ngoài cũng nói với tôi là giao thiệp với người Hoa rất khó, nói chuyện cả


ngày cũng chẳng hiểu trong thâm tâm họ nghĩ gì. Tôi bảo: "Cái đó thì có gì mà kỳ quặc?


Không phải chỉ người Tây phương các anh, mà ngay cả người Trung Quốc chúng tôi cũng gặp


vấn đề đó".


Nói chuyện với người Trung Quốc anh phải biết quan sát sắc mặt, điệu bộ, cử chỉ, phải biết


quanh co úp mở. Hỏi người nào "Anh ăn cơm chưa?", anh sẽ nghe người đó đáp "Tôi ăn rồi!"


nhưng kì thực anh ta chưa ăn, cứ để ý nghe thì thấy bụng anh ta hiện đang sôi lên sùng sục.


Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: "Tôi cảm


thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!". Còn người Trung Quốc


sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời,


anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là "Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!" Kỳ


thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.


Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: "Không được đâu, tôi chẳng quen nói


chuyện trước công chúng!" Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp


nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.


Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi


của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm


trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.


Có lần tôi đến một trường đại học ở Đài Trung để thăm một vị giáo sư người Anh. Một anh


bạn tôi cũng dạy cùng đại học đó chợt đến. Thấy tôi, anh nói: "Tối nay đến đằng tôi ăn cơm".


Tôi đáp: "Xin lỗi, tôi còn có hẹn". Anh bảo: "Không được, nhất định phải đến". Tôi trả lời:


"Được rồi, ta bàn sau". Anh lại bảo: "Nhất định phải đến đấy, xin chào!" Giữa người Trung


Quốc với nhau chúng tôi hiểu rõ tâm lý của nhau. Nhưng người Tây phương lại hoàn toàn mù


tịt.


Đến lúc làm việc xong, khoảng giờ cơm tối, tôi bảo: "Thôi, tôi phải về đây!" Người giáo sư


Anh nói: "Ê! vừa rồi chẳng phải anh vừa hẹn với anh kia sao? Anh phải tới nhà anh ta chứ!"


Tôi bảo: "Làm gì có chuyện ấy?". Ông giáo sư nói: "Anh ấy nhất định là đã làm cơm chờ anh


đấy!" Người nước ngoài thật khó mà biết được cái kiểu "tâm khẩu bất đồng" này của người


Trung Quốc.


Tình trạng nói trên khiến người Trung Quốc ngay từ thủa lọt lòng đã rất khốn khổ. Bởi vì mỗi


ngày đều phải tìm hiểu ý tứ người khác. Nếu là bạn bè đồng lứa thì còn đỡ, nhưng nếu phải


tiếp cận với những kẻ quyền thế, quan trên, kẻ có tiền, anh sẽ phải từng giây từng phút khổ


công tìm hiểu đến nơi đến chốn, xem họ nghĩ gì. Cái việc này là một sự lãng phí tinh thần kinh


khủng.


Cho nên có câu tục ngữ: "Tại Trung Quốc làm việc dễ, làm người khó".


Nghệ thuật "làm người" thuộc về cái "văn hóa thân mềm" (để dễ uốn cong, chui luồn, nghĩa


bóng đến từ động vật thân mềm). Các vị ở nước ngoài lâu năm về lại Trung Quốc chắc biết cái


sức nặng của câu này như thế nào. Làm việc thì dễ như 2 + 2 = 4, nhưng làm người khó bởi vì


có khi 2 + 2 = 5 , hoặc cũng có khi = 1, hay = 853. Anh nói sự thật, nhưng người ta lại cho


rằng anh công kích và muốn lật đổ chính quyền. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, nó làm cho


chúng ta không thể nào thoát khỏi sự nói khoác, nói suông, nói dối, nói độc.


Cái bản lĩnh ghê gớm của tôi là có thể ngủ trong hội nghị. Ngủ xong tỉnh dậy thì hội nghị cũng


vừa kết thúc. Tại sao thế? Vì trong hội nghị mọi người đều nói những chuyện mà chính bản


thân họ không hề tin, nghe hay không nghe đều như nhau.


Không chỉ ở Đài Loan mới như vậy, ở lục địa còn nghiêm trọng hơn nhiều. Năm nay (1984)


trong "Chương trình các tác gia quốc tế tại Đại học Iowa" có một nữ tác gia nổi danh của lục


địa tên là Trầm Dung tham gia. Cô có một tác phẩm mang tên "Chân chân giả giả" (Thật thật


giả giả) mà tôi muốn thành thật giới thiệu với quý vị.


Hoàn cảnh bắt chúng ta nói láo, bắt chúng ta không thành thật, nhưng ít nhất chúng ta phải


biết cái xấu là cái xấu. Nếu một khi cái xấu lại được chúng ta xem là điều vẻ vang, hoặc vô


thưởng vô phạt, thì đó là lúc mà cái "văn hóa thân mềm" của chúng ta đang bắt đầu xuống cấp.


Nói thí dụ việc ăn cắp, nếu được coi là chuyện vô thưởng vô phạt, hoặc chẳng phải chuyện


quang vinh hay không quang vinh, thậm chí có thể xem là chuyện quang vinh nữa, thì đây là


một nguy cơ, nguy cơ mà người Trung Quốc chúng ta đang phải đối đầu hiện nay. Vì người


Trung Quốc vẫn liên tục dấu diếm những lỗi lầm của mình, vẫn nói khoác, nói suông, nói dối,


nói láo, nói độc, thành thử tâm linh người Trung Quốc hoàn toàn bị phong tỏa, không mở rộng


được.


Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà,


thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.


Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy


được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang


được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút


dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?


Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc


đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết. Tại


sao chúng ta có thể thiếu lòng bao dung đến như vậy?


Không có lòng bao dung, bụng dạ hẹp hòi đưa đến hai điều cực đoan và mất cân đối như sau:


Một đằng tuyệt đối tự ty, một đằng tuyệt đối tự kiêu. Lúc tự ty thì thành ra tôi tớ, nghĩ mình


không bằng đống phân chó. Lúc tự kiêu thì thành ra ông chủ, xem mọi người đều là cứt chó


hết, chẳng đáng cho mình ngó ngàng đến. Riêng bản thân mình lại không hề biết tự tôn là gì.


Sự phân biệt nhân cách kiểu đó biến người Trung Quốc thành một loại động vật kỳ dị.


Tại Trung Quốc nếu muốn làm một kỳ công thì rất dễ, trong một chốc có thể xuất hiện những


thành tích làm mọi người kinh dị. Nhưng người Trung Quốc lại không có khả năng để giữ cho


cái kỳ công này bền vững.


Một người có được một thành tựu nho nhỏ đã hoa mắt, ù tai, đứng không vững, vì lên cơn sốt.


Viết được dăm ba bài văn là đã thành văn hào. Đóng được hai bộ phim đã là ngôi sao sáng của


nền điện ảnh. Hai năm có được ít chức quyền nghiễm nhiên có thể cho mình là cứu tinh của


nhân dân. Qua Mỹ học được hai năm đã trở thành một học giả chuyên gia. Mấy thứ đó đều là


kiểu tự thổi phồng mình.


Ở Đài Loan có xảy ra một tai nạn xe cộ như sau: Trong xe ca sinh viên Đại học Sư phạm vừa


tốt nghiệp đi du lịch, cô hướng dẫn tán dương: "Người cầm lái vĩ đại của chúng ta là tay lái số


một, vừa tài giỏi, vừa đẹp trai, vừa trẻ tuổi". Nghe thấy thế, anh tài hứng chí liền bỏ tay lái ra


quay về phía mọi người gương hai tay chào đáp lễ. Tiếp theo đó sự thể thế nào tôi không cần


phải kể. Đây là một cách tự phô trương, chắc cho rằng kỹ thuật lái xe của mình cao đến độ


không cần cầm tay lái cũng có thể lái được xe.


Chẳng khác nào chuyện 1.000 năm trước trong một bộ phim:


Hoàng đế La Mã một lần mời một người đến biểu diễn bay lượn. Để bay, người này chế ra


một cặp cánh. Trước khi leo lên tháp anh giơ cặp cánh cho mọi người xem, tức thì toàn đấu


trường tiếng reo hò hoan hô vang dội như sấm. Anh bỗng không kiềm chế nổi sự tinh tướng


của mình, cảm thấy mình quá vĩ đại đến độ có thể không cần cánh cũng có thể bay được, vì


vậy vứt cánh leo lên thang. Vợ anh níu anh bảo: "Không có cái đó làm sao anh bay được? Anh


tưởng anh là gì?". Anh ta bảo: "Em thì biết gì!". Vợ anh ta đuổi theo lên, anh ta xéo lên tay


người vợ rồi tiếp tục lên thang, đóng nắp tháp, với vẻ kiêu hùng anh nhẩy xuống.


Chỉ nghe phụp một phát rồi không thấy gì nữa. Quần chúng nổi khùng hét: "Trả tiền để xem


bay lượn chứ có phải để xem ngã chết đâu, bắt vợ nó bay đi!" Người vợ nhìn lên trời như nói


với linh hồn của chồng một cách thê thảm: "Chỉ vì anh tinh tướng mới ra nông nỗi này, tự hại


bản thân mình mà hại cả vợ con nữa!".


Cái gì đã làm cho người Trung Quốc tinh tướng một cách quá dễ dàng như thế? Bởi vì người


Trung Quốc "bụng dạ nhỏ hẹp nên dễ đầy" (khí tiểu dị doanh), kiến thức thấp kém, lòng dạ


hẹp hòi, chỉ cần có một tý gì đó đã tưởng trời đất dẫu to nhưng không chứa nổi mình nữa. Nếu


chỉ có vài người như thế, chắc cũng không quan trọng gì, nhưng toàn dân tộc, đại đa số, hoặc


một số lớn người Trung Quốc như vậy sẽ hình thành một nguy cơ cho dân tộc.


Người Trung Quốc tựa hồ không có tự tôn nên đối với nhau rất khó có được một quan niệm


bình đẳng. Nếu anh không phải là chủ nhân của tôi thì tôi là chủ nhân của anh. Tình hình này


đưa đến một tâm trạng vừa bế tắc vừa không thể nhận sai lầm của mình. Mà sai lầm vẫn tiếp


diễn hoài lại gây ra một não trạng sợ sệt.


Hãy lấy một ví dụ:


Tôi có một người bạn ở Đài loan mắc bệnh nặng phải đem vào nhà thương trung tâm, bác sĩ


tiếp bao nhiêu ống thuốc mới cứu sống được. Hai ba hôm sau người nhà thấy tiền nhà thương


này quá đắt muốn chuyển anh sang một bệnh viện bình dân, đến nói chuyện với bác sĩ điều trị.


Ông này nghe thế nổi trận lôi đình la: "Cứu sống ông ấy chẳng phải là chuyện dễ, bây giờ lại


muốn đổi bệnh viện à?". Nói xong sai người rút hết các ống thuốc ra làm bệnh nhân suýt nữa


toi mạng.


Anh bạn lúc kể với tôi chuyện này trong lòng vẫn còn đầy bi hận. Tôi nói với anh: "Anh cho


tôi biết tên tay bác sĩ ấy đi, tôi viết một bài vạch mặt nó ra". Anh ta giật bắn mình, vội nói:


"Ấy! Anh đừng bộp chộp, hiếu sự. Nếu biết thế này tôi đã chẳng kể cho anh nghe làm gì!".


Nghe thế tôi muốn điên lên. Tôi bảo: "Anh sợ cái gì? Nó giỏi lắm thì cũng chỉ là bác sĩ thôi.


Nếu anh bị bệnh lại, anh không gọi nó đến thì thôi chứ chả nhẽ nó lại cứ đến trị bệnh cho anh


để báo thù à? Nếu có chuyện gì thì tôi đối phó với nó chứ can dự gì anh. Bài viết là do tôi, tôi


không sợ thì anh sợ gì?".


Bạn tôi bảo: "Anh là đồ bạt mạng!".


Tôi tưởng thế nào! Thay vì khen ngợi sự can đảm của tôi thì anh lại đi chê trách tôi. Tôi nghĩ


đây không phải là vấn đề của riêng mình anh, anh lại là bạn rất thân của tôi, anh cũng là người


rất tốt, anh nói thế chỉ vì anh muốn bảo vệ tôi, không muốn cho tôi đi chuốc họa vào thân.


Đấy chính là cái não trạng sợ sệt, sợ sệt đủ mọi thứ trên đời mà tôi muốn nói.


Nhớ lại lần đầu tôi đi Mỹ, ở New York có một vụ án, một người Hoa bị bắn thọ thương, hung


thủ bị bắt, nhưng nạn nhân lại không dám nhận diện.


Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn


biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: "Bỏ qua


cho rồi!"


Mấy chữ "bỏ qua cho rồi" này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến


dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.


Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi


không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.


Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo


quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt.


Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở "Tư trị thông giám" (Một pho sử


của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc


bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo


quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng


ngày càng khốn đốn đến như thế.


Văn hóa Trung Quốc cực kỳ rực rỡ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc (770 - 221 trước Tây lịch),


nhưng từ thời kỳ này về sau, văn hóa Trung Quốc đã bị các Nho gia khống chế. Đến đời Đông


Hán (25 - 220 sau Tây lịch), chính phủ có quy định là tất cả những phần tử trí thức khi phát


ngôn, biện luận, viết văn đều không thể vượt qua phạm vi những gì đã được dậy ở trường, việc


này gọi là "sư thừa" (thừa hưởng của thầy học). Nếu vượt quá chuyện "sư thừa" này, không


những học thuyết của mình không được công nhận mà còn là một việc phạm pháp.


Cứ như vậy mà tiếp tục xuống các đời sau làm cho sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy của


giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng hoàn toàn, chẳng khác nào lấy một cái túi nhựa bịt kín bộ


não lại, không cho một cái gì lọt vào nữa.


Thế nào là không còn khả năng suy xét nữa?


Cứ đọc báo Trung Quốc là phát ngán. Suy xét là một cái gì không phải chỉ có một mặt, hai


mặt, mà nhiều mặt. Tôn Quan Hán thường dùng một ví dụ: Có một quả cầu một nửa trắng một


nửa đen. Người thấy phía trắng bảo nó trắng, người thấy mặt đen bảo nó đen. Cả hai người


đều không sai, cái sai là không nhìn được đến mặt bên kia của nó. Để có thể nhìn được đến


mặt bên kia của nó thì phải có trí tưởng tượng, khả năng suy xét. Cho nên lúc tư duy một vấn


đề cần phải nghĩ đến nhiều mặt của nó.


Có một chuyện hài hước ngắn của Mỹ kể chuyện một thầy giáo tổ chức thi, đưa cho sinh viên


một máy đo khí áp và bảo dùng nó để đo chiều cao của một tòa nhà, đương nhiên ý muốn


dùng khí áp để đo độ cao ở chỗ cao nhất và chỗ thấp nhất của tòa nhà. Nhưng có một sinh viên


lại dùng nhiều phương pháp khác nhau song tuyệt nhiên không sử dụng "khí áp". Thầy giáo


tức mình bèn đánh trượt anh này. Anh ta kháng tố lên hội đồng giám khảo. Hội đồng giám


khảo hỏi thì anh này nói: "Thầy giáo muốn tôi dùng máy đo khí áp đo chiều cao tòa nhà,


nhưng không bảo sử dụng khí áp, đương nhiên tôi được phép dùng những cách đơn giản hơn".


Hội đồng hỏi: "Ngoài phương pháp đó còn có phương pháp nào nữa?" Anh này đáp: "Còn rất


nhiều, ví dụ tôi có thể buộc dây vào máy thòng xuống rồi đo chiều dài của dây để biết chiều


cao tòa nhà". "Thế còn phương pháp nào khác không?", "Vẫn còn nhiều, ví dụ tôi có thể tìm


người quản lý nhà đưa máy cho anh ấy để anh ấy cho tôi biết chiều cao của tòa nhà".


Người sinh viên này rõ ràng không có gì là ngược đời.


Ý nghĩ của anh ta biểu hiện một thứ trí tưởng tượng và tư duy thường làm cho những bộ óc bã


đậu điên lên.


Còn có một loại "Nghệ thuật mua dưa" như chuyện một người chủ bảo nhân viên: "Anh ra


cửa, đi về phía Tây, đến một cái cầu thì có chỗ bán dưa hấu, mua cho tôi hai cân dưa hấu".


Anh người làm ra cửa, rẽ hướng Tây, đi mãi không thấy cầu, cũng chẳng thấy ai bán dưa hấu


lại tay không quay về. Người chủ mắng anh là đồ lú lẫn, chẳng có đầu óc gì cả. Anh ta liền


bảo: "Ở phía Đông mới có chỗ bán dưa". Người chủ nói: "Thế tại sao không đi sang hướng


Đông mà mua?" Anh ta đáp: "Ông có bảo tôi đi về hướng Đông đâu?" Người chủ lại chửi anh


ta là đồ ngu. Kỳ thực người chủ biết anh ta là loại người chỉ biết phục tùng, không có năng lực


suy nghĩ, hoàn toàn có thể tin cậy được. Giá như người này biết phía Tây không có bèn qua


phía Đông mua, dưa vừa ngọt vừa rẻ, thể nào lúc về nhà người chủ cũng khen: "Anh rất thông


minh, lanh lợi! Làm người phải như thế chứ! Tôi rất cần có được người như anh". Nhưng


trong thâm tâm người chủ sẽ nghĩ cái người làm này không thể tin cậy được, có thể tráo trở lúc


nào không biết. Đối với những kẻ nô lệ kiểu này, chủ nhân không giết thì cũng đuổi đi.


Cái văn hóa thai nghén ra những thứ người này làm sao có thể chủ trương được một tư duy


độc lập. Vì vậy người Trung Quốc chúng ta do không được huấn luyện suy nghĩ độc lập nên


rất sợ suy nghĩ độc lập, thiếu năng lực thưởng thức và đánh giá, không có cái gì là không ba


phải, chẳng có cái gì là tiêu chuẩn cả. Trung Quốc ra nông nỗi này tất phải tìm ra nguyên nhân


trong chính cái văn hóa của nó.


Cái văn hóa này trong 4.000 năm - từ Khổng Khâu (Khổng Tử) trở đi - không còn có được


một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Những kẻ biết chữ đều chỉ luẩn quẩn ở học thuyết Khổng Khâu


đã giảng hoặc môn đồ ông giảng lại chứ không hề có ý kiến độc lập của riêng mình. Bởi vì cái


văn hóa chúng ta không cho phép làm như vậy. Cho nên mọi người chỉ cầu sống ở cái vũng


nước ao tù ấy thôi. Cái ao nước tù hãm này chính là cái hũ tương văn hóa Trung Quốc, cái hũ


tương thối làm cho người Trung Quốc trở nên xấu xí.


Cũng chính vì cái hũ tương sâu không lường được này nên đối với biết bao vấn đề người


Trung Quốc đều không thể dùng tư duy của mình để tự giải quyết, mà phải bắt chước, phải


dùng cái tư duy của kẻ khác.


Nhưng cái vũng nước ao tù này, cái hũ tương này dẫu có vứt mứt đào vào rồi cũng sẽ biến


thành cứt khô. Vì những thứ ngoại lai một khi vào Trung Quốc đều nhanh chóng biến chất.


Người ta có dân chủ, chúng ta cũng có dân chủ. Dân chủ của chúng ta là "mày là dân, tao là


chủ". Người ta có pháp chế, chúng ta cũng có pháp chế. Người ta có tự do, ta cũng có tự do.


Người ta có gì, ta có nấy. Anh có chỗ dành riêng cho bộ hành sang đường, tôi cũng có, dĩ


nhiên! Nhưng chỗ dành cho bộ hành của chúng tôi là chỗ để dụ dỗ họ đến cho xe cán chết.


Để biến cải cái hình tượng xấu xí của người Trung Quốc, chúng ta chỉ có thể bắt đầu từ bây


giờ, mỗi cá nhân đều phải nghĩ cách bồi dưỡng năng lực thưởng thức và đánh giá của bản thân


mình.


Chúng ta dù không biết diễn kịch, nhưng lại cần xem được kịch. Người biết ít thì xem ít,


người biết thưởng thức nhiều xem nhiều. Người biết thưởng thức sẽ là một sự thành tựu không


bao giờ có giới hạn.


Nhớ thời kỳ vừa đến Đài Loan, tôi có một người bạn. Anh này sưu tập rất nhiều đĩa hát của


Beethoven (Bít-tô-ven). Anh phải có đến bảy, tám bộ đĩa. Tôi nằn nì xin anh cho hoặc bán lại


tôi một bộ. Anh từ chối ngay tại trận. Bởi vì mỗi một bộ đều do một nhạc trưởng và một dàn


nhạc khác nhau trình tấu, không bộ nào giống bộ nào. Sau khi biết thế tôi rất lấy làm hổ thẹn,


anh quả tình là một người biết thưởng thức.


Lần tranh cử Tổng thống Mỹ trước, chúng ta được xem trên ti-vi Đài Loan cuộc tranh luận của


các ứng cử viên. Không hề có việc lật tẩy các bí mật đời tư của đối phương, bởi vì dân chúng


không ưa những người có trình độ tranh cử như vậy, và nếu làm thế, thể nào họ cũng mất


phiếu.


Nhưng cách làm của người Trung Quốc sẽ không như vậy. Không những chuyên môn đi bới


móc đời tư của đối phương, họ lại còn bịa đặt thêm, dùng những ngôn từ rất ác độc. Không


hiểu cái loại thổ nhưỡng gì đã nuôi dưỡng các loại cỏ như vậy, cái loại xã hội gì mà sinh ra


những thứ người như thế?


Nếu người dân không tự nuôi dưỡng được cho mình cái trình độ phán đoán đánh giá những


lãnh đạo của mình thì chẳng có lý do gì để trách ai cả.


Đi tôn thờ một kẻ không thể tôn thờ được thì còn trách ai một khi kẻ đó cưỡi lên đầu lên cổ


mình?


Cái việc tung tiền ra mua cử tri là một việc chẳng ra gì, thế mà khi xếp hàng đi bầu thấy người


thò tiền ra mua lá phiếu mình cũng chìa tay ra hỏi: "Tiền đâu?"


Cái loại người như vậy mà cũng đòi thực thi dân chủ hay sao?


Dân chủ là một cái gì phải tự mình giành giật được, chẳng ai ban phát cho cả.


Bây giờ thường có kẻ bảo: "Chính phủ lỏng lẻo quá!". Đây là một suy nghĩ rất đáng sợ. Bởi vì


tự do, quyền lợi là của chúng ta, không phải anh cho thì tôi mới được. Cho dù anh không cho


thì tôi cũng vẫn có.


Nếu chúng ta có khả năng thưởng thức thì nhất định cần tranh thủ lựa chọn, nghiêm chỉnh lựa


chọn đối tượng, nếu không biết đánh giá thì giữa một người đẹp và người mặt rỗ cũng không


thể nào phân biệt được, còn đi trách ai nữa?


Nếu Bá Dương tôi vẽ giả một tranh Picasso, có người bảo: "Tranh tuyệt thật!" và trả cho tôi 50


vạn Mỹ kim thì người mua tranh giả đó phải trách ai trước? Ai là kẻ có mắt như mù, không


biết phân biệt, thưởng thức?


Trong những tình huống như thế, tranh giả sẽ tràn ngập thị trường vì chẳng còn ai phân biệt


được thật giả nữa. Lúc đó những nhà danh họa chỉ có chết đói mà thôi. Nếu mua phải tranh giả


thì đừng nên trách người khác, phải tự trách mình trước.


Chẳng khác nào đi thuê một anh thợ may để chữa cửa cho mình, đến khi cửa bị ngược, lại đi


mắng anh thợ may: "Ông mù à?" Thợ may có thể sẽ trả lời: "Không biết ai mù! Ai bảo anh đi


thuê thợ may để chữa cửa?" Cái chuyện xưa này đáng để chúng ta suy ngẫm. Không biết


thưởng thức thì chẳng khác nào người mù.


Có quá nhiều người Trung Quốc mang khuôn mặt xấu xí. Chỉ có nhân tài Trung Quốc mới cải


tạo được người Trung Quốc. Nếu người nước ngoài có nghĩa vụ giúp đỡ chúng ta thì sự giúp


đỡ ấy không phải là giúp đỡ về kinh tế mà phải về văn hóa. Vì con tàu quốc gia Trung Quốc


quá lớn, người quá nhiều, một khi chìm xuống có thể sẽ cuốn theo trong vòng xoáy nước của


nó những kẻ khác.


Tôi xin tất cả những người bạn Mỹ có mặt tại đây hôm nay, các bạn hãy tiếp nhận hai bàn tay


chúng tôi đang giơ ra!


Còn một điểm cuối cùng.


Tôi có cảm tưởng là người Trung Quốc quá đông, mười ức những cái mồm đó mở to ra thì


ngay cả rặng Hy-ma-la-ya cũng có thể bị nuốt chửng. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng khổ


nạn của người Trung Quốc được mặt thật những nhân vật lãnh đạo nước nhà.


Đó là con đường trước mặt chúng ta phải đi, mà cũng chẳng còn con đường nào khác nữa.


Xin cảm tạ.


NGƯỜI TRUNG QUỐC VÀ CÁI VẠI TƯƠNG


Bài nói tại New York ngày 16-08-1981, do ký giả tờ báo tiếng Hoa "Bắc Mỹ nhật báo" ghi lại.


Vừa rồi ông Chủ tịch nói cuộc họp mặt hôm nay là một vinh hạnh của Hội "Tùng Xã", đúng ra


vinh hạnh này là của tôi. Tôi xin cảm tạ quý vị đã cho tôi dịp được gặp mặt các vị ở nơi xa quê


hương này để xin chỉ giáo.


Thực ra Chủ tịch và Chủ báo "Tân Sĩ Tạp Chí", ông Trần Tiến Trung nói với tôi đây là một


cuộc tọa đàm, nên tôi rất vui được đến dự. Nhưng hôm qua từ Bo-xton đến tôi mới rõ là một


buổi diễn giảng, việc này làm cho tôi rất lo vì New York là một đô thị lớn bậc nhất thế giới,


đầy "rồng núp, hổ nằm".


Cho nên tôi chỉ dám nêu lên đây một ít cảm tưởng tản mạn và đó hoàn toàn là ý kiến riêng tư


chứ không dám kết luận gì cả. Xin các vị chỉ giáo và chúng ta cùng trao đổi với nhau.


Chủ đề hôm nay ông Chủ tịch giao cho tôi là "Người Trung Quốc và cái vại tương". Nếu buổi


hôm nay là một buổi thảo luận về học thuật thì trước tiên chúng ta phải định nghĩa người


Trung Quốc là gì? Cái vại tương là gì? Tôi nghĩ tôi không phải định nghĩa nữa, sợ thành vẽ rắn


thêm chân. Bởi vì có một hiện tượng trên đời là cái gì mọi người đều đã biết mà lại đi thêm


cho nó một định nghĩa, việc này vô tình có thể biến nội dung và hình thức của nó trở thành mơ


hồ, biến chân tướng của nó thành khó hiểu, và do đó còn khó bắt đầu thảo luận hơn.


Phật giáo vốn cho rằng con người phải qua vòng luân hồi. Việc này làm tôi nhớ đến một tích


xưa.


Có người đến hỏi một vị cao tăng đã đạt đạo:


"Đời tôi bây giờ là do tiền kiếp mà tái sinh, thế thì kiếp trước tôi là người thế nào? Nếu còn


phải đầu thai một lần nữa, ngài có thể cho tôi biết kiếp sau tôi sẽ trở thành người ra sao


không?".


Vị cao tăng trả lời anh nọ bằng bốn câu thơ sau:


Dục tri tiền thế nhân


Kim sinh thụ giả thị


Dục tri hậu thế quả


Kim sinh tác giả thị


(Muốn biết cái nguyên nhân của kiếp trước


Cứ xem những gì mình nhận được ở kiếp này


Muốn biết cái hậu quả ở kiếp sau


Cứ xem những gì mình đang làm ở kiếp này)


(Tạm dịch thơ:)


Muốn biết kiếp trước thế nào


Cứ xem mình sống ra sao kiếp này


Đầu thai rồi thế nào đây


Hãy nhìn vào việc hiện nay đang làm


Giả sử kiếp này anh được sung sướng, kiếp trước nhất định anh là một người chính trực, độ


lượng. Nếu kiếp này anh gặp nhiều khổ nạn thì phải suy ra rằng kiếp trước anh đã làm những


điều ác. Cái tích xưa này gợi cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa. Các vị ở đây, nếu là con nhà Phật


hẳn cảm thụ dễ dàng, nếu không phải là người theo đạo Phật chắc không tin vào tiền oan


nghiệp chướng, nhưng có thể xin các vị cứ suy nghĩ về cái triết lý của nó.


Ý tôi muốn nói chuyện này làm chúng ta liên tuởng đến văn hóa Trung Quốc.


Các vị ở đây, bất kể quốc tịch gì, đại đa số đều có dòng máu Trung Quốc, các vị thích hay


không thích nó vẫn vậy, chẳng làm sao thay đổi được. Tôi nói người Trung Quốc là theo nghĩa


rộng, theo nghĩa huyết thống chứ không phải nghĩa địa lý.


Người Trung Quốc từ 200 năm gần đây, lúc nào cũng có một ước mong cho đất nước hùng


cường, ước mong cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc ưu tú trong thế giới. Nhưng đã


bao nhiêu năm nay, chúng ta luôn luôn yếu kém, mãi bị ngoại nhân khinh thị, nguyên nhân tại


đâu?


Đương nhiên trách nhiệm là do nơi chúng ta. Nhưng nhìn dưới góc độ văn hóa mà đặt câu hỏi


đó thì có thể nghĩ đến cái tích xưa vừa kể trên. Tại sao có ngày hôm nay? Vì sao nước nhà vẫn


chưa lớn mạnh? Nhân dân vẫn còn biết bao khổ nạn? Từ kẻ cùng đinh không quyền thế đến kẻ


phú quý với đặc quyền đặc lợi đều có một nguyện vọng tha thiết như nhau cho đất nước, cũng


như đều có cùng một đau buồn sâu sắc.


Tôi nhớ thuở bé thầy học bảo chúng tôi: "Hy vọng của nước nhà đặt nơi các em". Nhưng rồi


chúng ta bây giờ thì sao? Lại đến lượt chúng ta hướng về đám thanh niên bảo: "Các em là hy


vọng của tương lai Trung Quốc". Cái kiểu cứ đùn đẩy trách nhiệm từ đời này xuống đời khác


sẽ còn kéo dài cho đến bao giờ?


Những người Trung Quốc ở nước ngoài đối với vấn đề này lại càng nhậy cảm và kỳ vọng của


họ lại càng sâu nặng. Ngoài việc tự thân chúng ta đã không thể mang hết được cái trọng trách


về chuyện nước nhà rơi xuống một mức độ tồi tệ với những khổ nạn như vậy, chúng ta lại còn


phải è cổ vác cái gánh văn hóa truyền thống nặng nề kia.


Đấy là nghiệp báo như đã nói ở trên.


Hôm trước, lúc đi thăm Viện bảo tàng Boston, tôi thấy bên trong có bầy đôi giày cho phụ nữ


bó chân của thời đại các bà nội chúng ta. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết những người phụ


nữ khoảng tuổi tôi thời ấy đều phải bó chân. Ngày nay những người trẻ tuổi nghe đến chắc


không thể nào tưởng tượng nổi. Tại sao trong văn hóa chúng ta lại có thể sinh ra một cái tập


quán tàn khốc thế? Lại có thể áp đặt nó lên trên một nửa dân số trong hàng nghìn năm, làm


cho những người bị bức hại phải tàn phế cả hai chân, thậm chí có khi còn gãy cả xương, thối


cả thịt, không thể đi đứng được. Tại sao văn hóa Trung Quốc lại có thể kéo dài cả hàng nghìn


năm trong lịch sử một yếu tố dã man như vậy? Tại sao lại cho phép trường tồn qua một thời


gian dài như thế mà không có một người nào đứng lên bảo nó phản tự nhiên, hại sức khỏe?


Ngược lại, đại đa số nam nhi còn xem bó chân là hay ho, đẹp đẽ.


Còn nói đến việc bách hại nam nhi thì thế nào? Đó không phải chỉ riêng chuyện các hoạn


quan. Theo ghi chép của lịch sử, từ các triều vua Tống trở về trước, các nhà có quyền và có


tiền đều có thể tự do thiến các nô bộc của mình. Sự việc kinh rợn này kéo dài cho đến triều


Tống - thế kỷ XI - mới bị cấm. Chỉ căn cứ vào hai việc trong biết bao nhiêu việc không hợp lý


và vô nhân đạo của văn hóa Trung Quốc suốt quá trình lịch sử của nước này, ta cũng có thể


thấy là những thành phần không hợp lý của nó đã lên đến một mức độ không thể nào khống


chế được.


Bất kỳ văn hóa của một dân tộc nào đều như một dòng sông lớn, thao thao bất tuyệt trôi đi. Và


với thời gian dần dần biết bao thứ nhơ nhớp bẩn thỉu trong dòng sông lớn ấy, - như cá chết,


mèo chết, chuột chết - sẽ bắt đầu chìm lắng. Lắng đọng quá nhiều sẽ làm dòng sông không thể


chảy nữa, biến thành một cái đầm nước chết, càng sâu càng nhiều, càng lâu càng thối, lâu dần


thành một cái vại tương, một cái đầm bùn bẩn phát chua, phát thối.


Nói đến cái hũ tương có lẽ những bạn trẻ không thể hiểu, tôi vốn sinh ra ở phương Bắc, nơi


quê tôi cái thứ này rất nhiều. Tôi không thể nói chính xác cái chất tương trong vại ấy làm bằng


những chất liệu gì (chất chính là đậu tương và bột mì), nhưng các vị nếu đã ăn qua vịt quay tại


các tiệm ăn Trung Quốc thì chính là loại tương đó. Nó là một chất đặc không chảy được,


không giống nước sông Hoàng Hà từ trên trời chảy xuống một tý nào. (Hoàng hà chi thủy


thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi - thơ Lý Bạch). Nó là một thứ nước ao tù, lại


được để cho bốc hơi, cho lắng đọng nên nồng độ càng ngày càng đông đặc. Cái văn hóa của


chúng ta, cái tiền oan nghiệp chướng như đã nói cũng là như thế.


Trong văn hóa Trung Quốc, cái có thể gọi là điển hình nhất cho cái đặc sắc này là chế độ


"quan trường". Thời xưa mục đích học hành của các phần tử trí thức là làm quan. Cái chữ


"trường" nhìn không thấy, sờ không đụng này được hình thành qua chế độ khoa cử. Một khi


người đọc sách đã lọt vào được chốn quan trường liền ở vào trạng thái đối nghịch với người


thường, với nhân gian.


Dưới chế độ đó người đi học cốt chỉ được làm quan, vì có câu nói rằng trong sách có nhà


vàng, có nhan sắc như ngọc. Đọc sách để có thể làm quan, làm quan ắt có mỹ nữ, kim tiền.


Thời xưa có người nói: "Hàng hàng xuất trạng nguyên", kỳ thực chỉ trong số những người đi


học mới có trạng nguyên, còn những người khác cũng chỉ là thợ thuyền không đáng một đồng


trinh. Thời đó những người của các giai tầng khác bị rất nhiều giới hạn, nào là không được


mặc loại áo quần nào đó, không được đi thứ xe nào đó, ở loại nhà nào đó.


Xã hội phong kiến đặt cái lợi ích của những người làm quan lên trên hết, và vì nó đã khống


chế Trung Quốc quá lâu, nên tạo thành một lực lượng và một ảnh hưởng vô cùng lớn.


Về mặt kinh tế không có gì thay đổi đáng kể, nhưng về mặt chính trị nó đã kìm hãm chúng ta


lâu dài trong cái hũ tương văn hóa đó. Một trong những cái đặc trưng của nó là đặt tiêu chuẩn


của giới quan lại thành một cái chuẩn cho xã hội, biến lợi ích các quan thành cái lợi chung. Vì


vậy nó đẻ ra một thứ ngày nay gọi là "Chính trị thống soái" theo kiểu nói của Mao, làm cho


cái hũ tương văn hóa của chúng ta càng thêm sâu đậm, càng thêm nồng nặc.


Chìm đắm lâu dài trong cái hũ tương đó, người Trung Quốc trở thành ích kỷ, nghi kị.


Tôi tuy đến Mỹ chỉ là du lịch ngắn ngày, nhưng nhìn bề ngoài tôi thấy người Mỹ khá thân


thiện, hạnh phúc, lúc nào cũng tươi cười.


Tôi cũng đã gặp con em các bạn bè người Hoa ở đây, trông tuy có vẻ sung sướng, nhưng rất ít


cười. Có phải là các bắp thịt ở mặt của người Trung Quốc chúng ta cấu tạo không giống họ?


Hay là vì dân tộc chúng ta mang một cái gì vốn quá u ám?


Chúng ta có nghĩ được rằng dân tộc chúng ta sở dĩ như vậy vì thiếu sức sống trẻ, mà điều đó


lại là do chính trách nhiệm của chúng ta không? Giữa chúng ta, chúng ta chèn ép lẫn nhau,


không hề hợp tác.


Tôi nghĩ đến chuyện một người cảnh sát trưởng Nhật Bản, khi huấn luyện các học viên của


mình, bảo thuộc hạ phải nghi ngờ tất cả mọi người, vì họ đều có thể là đạo tặc. Cái trạng thái


tâm lý này dùng để huấn luyện cảnh sát hình sự thì được, nhưng tâm lý phổ biến của người


Trung Quốc lúc bình thường lại cũng như thế, lúc nào cũng nghĩ kẻ khác có thể làm hại mình,


nó hình thành một nỗi lo sợ về bất cứ một cái gì. Cái nỗi lo sợ này làm người Trung Quốc biến


thành "một đống cát rời" năm bè, bảy mảng (như lời của Tôn Dật Tiên).


Một nước lớn như Trung Quốc, có tài nguyên, có nhân khẩu hơn một tỷ người nếu đồng tâm


hiệp lực, trong Á châu này chẳng lẽ không bằng được Nhật Bản?


Mòn mỏi dưới chế độ xã hội phong kiến chuyên chế tự bao đời, đắm chìm ngụp lặn trong cái


hũ tương đó, óc phán đoán cùng tầm nhìn của người Trung Quốc đã bị tương làm ô nhiễm


nặng, không vượt ra nổi cái phạm vi ảnh hưởng của nó.


Qua bao nhiêu niên đại, đa số chúng ta mất dần năng lực phán đoán cái gì đúng cái gì sai, mất


khả năng phân biệt cái gì là đạo đức, chỉ phản ứng bằng tình cảm và trực giác mà không biết


suy nghĩ. Tất cả giá trị của hành động rồi đều bị cái tiêu chuẩn chính trị và đạo đức của cái hũ


tương đó chi phối. Vì vậy thị phi, phải trái, đen trắng không còn có vẻ đối nghịch nữa. Trong


hoàn cảnh này, khi tìm hiểu sự vật, chẳng ai còn đi đến chỗ phân tích cặn kẽ. Cứ qua loa lấy lệ


một cách lâu dài rốt cuộc sẽ đưa đến cái quả báo nhãn tiền, đó là "Chiến tranh Nha phiến"


(1840).


Chiến tranh Nha phiến là sự đột nhập của văn hóa nước ngoài theo chiều ngang. Đối với người


Trung Quốc nó đánh dấu một kỷ niệm "quốc sỉ" (cái nhục của một nước), nhưng nhìn từ một


góc độ khác nó lại là một lần thức tỉnh lớn không thể tránh được.


Nhật Bản trên mặt này đã phản ứng hoàn toàn khác chúng ta. Ở thế kỷ XVIII khi Mỹ đánh


chìm hai tàu Nhật, nước Nhật đã mở cửa. Đối với người Nhật sự kiện này mang lại một cơ hội


tốt, họ biết biến sự sỉ nhục thành một sự thức tỉnh.


Thực ra chúng ta phải cảm ơn Chiến tranh Nha phiến, nếu không có nó thì tình cảnh hiện tại sẽ


như thế nào? Có lẽ các vị ngồi đây không chừng trên đầu vẫn còn cái đuôi sam, phụ nữ vẫn


còn bó chân, còn mặc áo dài, áo ngắn (áo kiểu ngày xưa của người Trung Quốc), trên bộ còn


ngồi kiệu do người khiêng, dưới nước còn ngồi thuyền tam bản.


Ví thử Chiến tranh Nha phiến xảy ra sớm hơn 300 năm, có lẽ Trung Quốc đã biến đổi sớm


hơn một tý; nếu nó xảy ra sớm hơn 1.000 năm thì lịch sử đã hoàn toàn chẳng như ngày nay.


Tôi cho rằng cái "kỷ niệm quốc sỉ" này là một cú đập mạnh vào cái hũ tương văn hóa của


chúng ta. Không có nó người Trung Quốc vẫn còn chìm đắm dưới đáy, có khi còn ngạt thở mà


chết rồi.


Sự đột nhập của văn hóa ngoại lai trong Chiến tranh Nha phiến làm cho chúng ta có thể nghĩ


rằng nhà Thanh là một thời đại quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nếu chiến tranh này


xảy ra vào thời nhà Minh chưa chắc Trung Quốc chịu nổi cú sốc và tình hình đã khác. Văn


minh hiện đại phương Tây đối với nước Trung Quốc già nua thật ra càng đột nhập sớm càng


tốt. Cái sự xung kích lớn lao này chắc hẳn là một sự kiện khiêu chiến nghiêm trọng đối với


lịch sử và văn hóa, nhưng đem lại cho chúng ta cái văn minh vật chất và văn minh tinh thần


mới.


Cái gọi là văn minh vật chất Tây phương như máy bay, trọng pháo, xe hỏa, tàu điện ngầm,


v.v...làm cho chúng ta bỗng nhiên thấy thế giới bên ngoài mới mẻ làm sao, có biết bao nhiêu


thứ không giống chúng ta, làm cho chúng ta có một nhận thức biết coi trọng cái mới, cái văn


minh vật chất. Còn nói đến văn minh tinh thần, những ý thức hệ chính trị Tây phương cùng


các tư tưởng học thuật cũng cho chúng ta bao nhiêu quan niệm và gợi ý mới mẻ. Xưa nay


chúng ta nào biết dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp trị là gì. Tất cả những thứ này đều là các


sản phẩm lấy giống từ phương Tây.


Trước đây người Trung Quốc chỉ biết câu: "Nhân mệnh quan thiên" (số mệnh con người là do


nơi trời). Thực ra số mệnh một con người có phải là do trời hay không cũng còn tùy. Nếu tôi


giết chết một người, có lẽ sẽ do trời thật, nhưng nếu hung thủ là một kẻ quyền thế thì đã chắc


gì? Vì vậy còn phải xem vấn đề là dính dáng đến ai.


Có một nhân vật cổ quái còn nói một câu: "Dân vi quý, quân vi khinh " (Dân là quý, vua là


thường). Đấy chỉ là một thứ lý tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện. Thời phong kiến


xưa, sau một triều vua lại đến một triều vua, chẳng có gì thay đổi. Lật đổ triều đại trước, thiết


lập triều đại mới, cách biểu thị duy nhất về sự bất đồng của mình với triều vua trước là đốt phá


các cung vàng điện ngọc mà triều trước đã xây để làm cung điện mới của mình.


Lý do viện dẫn để đốt phá vẫn được đưa ra là vì triều trước chính sách bạo tàn, triều đại của


mình mới là nhân hậu. Nhân hậu nên mới phải làm cái việc đem chính sách nhân hậu của mình


để tàn phá nhà cửa của chính sách hung tàn.


Cứ đời này sang đời khác như thế, về mặt tư tưởng chính trị chẳng có xây dựng được gì,


nhưng nhà cửa thì cứ tiếp tục đốt phá để biểu lộ sự khác nhau. Chẳng trách ở một nước lâu đời


như Trung Quốc sau mấy nghìn năm các kiến trúc cổ chẳng còn được là bao!


Trong hệ tư tưởng chính trị Trung Quốc, có vài khái niệm lý tưởng gần với Tây phương như


"Vua phạm pháp cũng bị tội như thứ dân" (Vương tử phạm pháp dữ thứ dân đồng tội). Nhưng


điều này chẳng qua cũng chỉ là một hy vọng và ảo tưởng mà thôi. Sự thực cái điều vua và dân


cùng tội này trên căn bản tuyệt đối không thể có.


Người Trung Quốc xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy có người bảo


chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có


hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép. Nhân dân nếu được phép chửi hoàng


đế chắc cũng chỉ dám lén lút chửi sau lưng. Phạm vi của tự do rất hẹp hòi. Đương nhiên có thể


có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị thì hoàn toàn chẳng có.


Dân tộc chúng ta là một trong những dân tộc lớn, đương nhiên trong vấn đề tình cảm không


nói thế thì không xong. Nhưng trên thế giới này còn có một dân tộc vĩ đại khác là dân


Anglosaxon (Ăng-glô-sắc-xân).


Dân tộc này đã thiết lập cho văn minh thế giới những khuôn khổ như chế độ quốc hội, tuyển


cử, tư pháp độc lập, tư pháp bồi thẩm,v.v..., cống hiến cho cộng đồng nhân loại những cơ cấu


văn minh tốt đẹp như vậy, và đó cũng là một nguyên nhân cho phép những xã hội Tây phương


về mặt chính trị hướng đến công bình, hợp lý.


Cái việc tuyển cử dù lãng phí thế nào đi nữa so với việc giết người như núi, máu chảy thành


sông vẫn còn tốt hơn. Đối với những thứ tốt đẹp này của Tây phương chúng ta phải có can


đảm mà tiếp nhận.


Có người bảo tuyển cử kiểu Tây phương không phải tuyển cử nhân tài, chỉ bầu cử tiền, mà cái


loại tiền này thì không phải người bình thường nào cũng có thể bỏ ra được. Dù có thế chăng


nữa, lãng phí tiền bạc vẫn tốt hơn lãng phí đầu người.


Hết thảy những điều tốt chúng ta phải tự đấu tranh mới có được, không giống trong vườn Eden


(Ê-đen) của Thượng đế nơi cái gì cũng đã được an bài một cách tốt đẹp.


Người Trung Quốc sống trường kỳ trong cái hũ tương, lâu ngày quá tự nhiên sinh ra một tâm


lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ.


Tôi nhớ có xem một bộ phim - mà đã quên mất tên - trong đó, một phụ nữ quý phái có hai


nhân cách: một mặt đẹp đẽ, đáng quý làm cho người ta có thể sùng bái, mặt khác lại hoang


dâm, vô liêm sỉ. Cô ta không làm sao hợp nhất được hai nhân cách này lại với nhau. Khi bị


bác sĩ tâm thần bắt phải đối diện với thực tại, cô ta đã tự sát.


Khi tự kiểm hồ sơ bệnh của mình chúng ta có dám đối diện với thực tại không? Có dám dùng


cái tâm lý khỏe mạnh để xử lý bệnh tình của mình một cách hợp lý không?


Chúng ta cần học tự nhận xét mình. Người Trung Quốc thường không có tập quán dùng lý trí


để tự tìm hiểu mình mà chỉ dùng cảm tính. Ví như vợ chồng cãi nhau, chồng bảo vợ: "Bà đối


với tôi không tốt". Vợ bèn vứt thức ăn lên bàn cãi: "Tôi đối với ông không tốt thế nào? Không


tốt mà tôi còn nấu cơm cho ông ăn à?" Cái động tác này cũng đủ nói lên sự đối xử không tốt


của bà ta rồi. Tự xét mình như thế thì thà không tự xét còn hơn.


Từ khi văn hóa Tây phương được du nhập vào (Trung Quốc) dĩ nhiên về mặt tư tưởng chính


trị có thay đổi dần, mặt quan niệm đạo đức cũng vậy. Ngày trước chồng đánh vợ là chuyện


cơm bữa. Bây giờ cứ thử đánh một tý xem sao!


Tuổi trẻ thời nay thật may mắn, rất nhiều thứ văn hóa hủ lậu đã bị đào thải. Không kể đến vấn


đề chính trị và đạo đức, ngay cả trên các lĩnh vực nghệ thuật, thi ca, văn học, tuồng kịch, vũ


điệu đều có ảnh hưởng của sự thay đổi này.


Hễ nói đến văn hóa, văn minh phương Tây, thế nào cũng có người chụp mũ, bảo tôi "sùng bái


Tây phương, nịnh hót nước ngoài".


Theo ý tôi tại sao không thể sùng bái Tây phương? Cái lễ nghĩa của người ta đúng là hơn hẳn


cái thô lậu của mình. Súng ống của người ta đích thực là hơn hẳn cung tên của mình. Nếu như


giữa bạn bè với nhau có người đạo đức, học vấn hơn hẳn mình tại sao lại không có thể không


hâm mộ được?


Người Trung Quốc không có cái can đảm dám khen người khác, chỉ có cái dũng khí dùng để


đả kích kẻ khác. Cũng bởi cái "văn hóa hũ tương" của chúng ta quảng đại tinh thông quá mới


làm cho người Trung Quốc thành "cây quýt bên sông Hoài" tất cả (tích án Tử và vua Sở). Cây


quýt này vốn mọc ở một địa phương nọ thì rất to và ngọt, đem trồng ở một nơi khác, không


hợp thủy thổ, thì vừa nhỏ vừa chua.


Ông Tôn Quan Hán, một người bạn đã tìm cách cứu tôi suốt trong thời gian 10 năm tôi ở tù,


từng đem một thứ cải trắng gốc Sơn Đông trồng tại Pittsburg (Pít-xbơ), nhưng ở đây nó lại


thành một thứ cải hoàn toàn khác.


Người Nhật có biệt tài bắt chước cái gì là giống cái đó, còn người Trung Quốc thì học cái gì


cũng chả giống cái gì. Cái tinh thần này ghê gớm lắm, nó cho phép người Nhật học được


những ưu điểm mà học giống hệt. Người Trung Quốc thường chỉ giỏi tìm lối tránh né, viện cớ


"không hợp với hoàn cảnh nước nhà" để bào chữa cho lý do tại sao mình lại cự tuyệt nó.


Trước chiến tranh Giáp Ngọ (1895) người Nhật đến thăm hải quân Trung Quốc, thấy binh sĩ


đem phơi quần áo la liệt trùm cả lên súng cà-nông, bèn xác định rằng cái loại quân đội này


không thể tác chiến được. Chúng ta căn bản không tính đến chuyện xây dựng và làm mới các


quan niệm, nên khi chúng ta không muốn làm một cái gì, ngay cả như chuyện đừng phơi quần


áo trên trọng pháo, thì chúng ta tìm cách thoái thác, bảo: "Cái đó không hợp với hoàn cảnh đất


nước".


Cũng như vấn đề giao thông ở Đài Bắc, có thể là một vấn đề rất đơn giản, thế mà bấy nhiêu


năm nay vẫn không dứt điểm được. Theo tôi cứ phạt nặng những kẻ phạm luật là xong. Nhưng


có người lại đề xuất nào là phải dậy dỗ sự "lịch thiệp" cho những kẻ phạm luật, bởi vì như vậy


mới hợp lẽ với Trung Quốc. Chúng ta đã lịch thiệp quá lâu rồi, bị giỡn mặt hoài không chịu


nổi nữa, lại còn nhường nhịn đến bao giờ? Chúng ta làm những chỗ qua đường cho người đi


bộ để bảo vệ họ, nhưng kết quả là biết bao người đã bỏ mạng ở đó.


Tôi có một người bạn lúc ở Đài Bắc là loại hay phóng nhanh vượt ẩu, đến lúc sang Mỹ bị phạt


tơi bời, phạt đến đầu tối mắt hoa, cuối cùng không thể không chú ý được. Có mỗi luật đi


đường, một việc thật đơn giản mà tại Trung Quốc vẫn còn là một vấn đề.


Cứ nói đến cái hay của các nước khác là lại bị nghe câu "Sùng bái Tây phương, nịnh hót nước


ngoài" (Sùng dương, mị ngoại). Sự thực nếu các nước Mỹ, Pháp, Anh, Nhật có điều gì tốt thì


chúng ta phải học, cái xấu thì không học, chỉ đơn giản thế thôi!


Có một người Mỹ viết một quyển sách: "Người Nhật làm được tại sao chúng ta lại không thể


làm được?" Thế mà chẳng có ai bảo ông giáo sư này là "sùng bái Đông phương, nịnh nọt nước


ngoài". Vì vậy mới biết cái hũ tương văn hóa đã sâu đậm làm người Trung Quốc mất hết khả


năng hấp thụ và tiêu hóa, chỉ một mực trầm luân trong cái cảm tính của mình.


Một anh bạn tôi lúc lái xe cứ thỉnh thoảng lại đột nhiên bóp còi một cái. Tôi hỏi tại sao. Anh


đùa bảo: "Để cho thấy rằng tôi không mất gốc đấy!". Chúng ta hy vọng chúng ta có đầy trí tuệ


để nhận rõ những khuyết điểm của mình, có đủ năng lực phán đoán phân biệt phải trái, làm


cho, cái hũ tương kia nhạt đi, mỏng đi, thậm chí biến thành một hũ nước trong, hoặc một hồ


nước mênh mông.


Người Trung Quốc bị cảm tính chi phối, chủ quan thái quá, đối với việc gì cũng chỉ nhận thức,


phán đoán bằng các tiêu chuẩn của những gì mình vốn thấy. Chúng ta nên nuôi dưỡng được


cái con mắt nhìn sự vật một cách toàn diện, toàn thể. Rất nhiều sự tình phát sinh từ những góc


độ không giống nhau, nên từ một góc độ càng phải xem xét một cách toàn diện. Từ hai điểm,


đường ngắn nhất là một đường thẳng, đó là theo vật lý. Nhưng trong cuộc đời, cái cự ly ngắn


nhất thường lại là cái quanh co nhất.


Cho nên để trở thành một người biết thưởng thức, chúng ta phải tìm tòi được mục tiêu. Xã hội


có trình độ thưởng thức sẽ đề cao được tài năng và phân biệt được cái tốt, cái xấu.


Trước đây tôi từng được xem Khương Diệu Hương diễn kịch, lúc ấy bà đã ngoài 60, mặt đầy


vết nhăn, chẳng còn cái đẹp của thủa nào, nhưng việc ấy không hề ảnh hưởng đến những thành


tựu của bà. Đương lúc bà hát khúc "Em bé chăn trâu", anh có thể hoàn toàn quên mất cái hình


tượng già nua của bà. Một khi mọi người đều có trình độ thưởng thức cao, những điều ác sẽ


tránh xa.


Chẳng khác nào tranh tôi vẽ và tranh của Van Gogh để cùng một chỗ, có người không phân


biệt được lại bảo: "Tranh của Bá Dương và Van-Gogh cũng như nhau!" Nếu thế thì các nhà


nghệ thuật chân chính phải chết hết và xã hội sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ có được những tác


phẩm nghệ thuật giá trị nữa.


Trung Quốc là một nước lớn, nhưng người Trung Quốc thật nhỏ mọn và hẹp hòi.


Hôm kia tôi đáp máy bay tại phi trường Kennedy ở New York, lên phi cơ ngồi chợp mắt một


tiếng, tỉnh lại vẫn chưa thấy máy bay bay, sau khi nghe ngóng mới biết họ đang đình công. Tôi


rất kinh dị khi thấy hành khách vẫn trật tự bình thường, nói năng cười đùa như không có gì


xảy ra.


Nếu sự việc này mà xảy ra ở đất nước chúng ta cục diện sẽ hoàn toàn khác hẳn. Hành khách


tất nhao nhao nhảy xổ ra hò hét: "Tại sao vẫn chưa bay?". Nhưng hành khách Mỹ lại nhìn từ


một góc độ khác; vì họ nghĩ: Nếu tôi là nhân viên hàng không, không chừng tôi cũng tham gia


cuộc đình công này. Nhìn vào đó người ta có thể thấy được khí độ của một nước lớn.


Ở Mỹ tính khoan dung rất lớn. Không những nước Mỹ có thể khoan dung được các màu da và


chủng tộc, lại còn chứa chấp được cả những ngôn ngữ, phong tục, tập quán khác nhau; thậm


chí còn chịu đựng được cả những người Trung Quốc thô lỗ như chúng ta. Thái độ này nói lên


tính bao dung của một nước lớn.


Cứ nhìn lúc Reagan và Carter tranh luận trên ti-vi, bên này bên kia phát biểu chính kiến của


mình, nhưng không ai dùng những lời lẽ thô lỗ để công kích nhau. Ri-gân không hề nói ông


làm tổng thống mấy năm toàn chỉ dùng những người thân tín của mình. Các-tơ cũng không hề


nói từ trước đến nay ông chưa hề có kinh nghiệm chính trị, làm sao có thể lèo lái được một


quốc gia. Hai bên đều biểu lộ một thái độ cực tốt. Đó cũng là phẩm chất của một nền dân chủ


cao độ.


Đối với chính trị, cá nhân tôi không mấy quan tâm. Tôi cũng không khích lệ mọi người làm


chính trị. Nhưng nếu ai thích thú thì phải tham dự, bất kể đang làm nghề gì, bởi vì chính trị


thật quan trọng. Chỉ cần một điều luật được ban hành, có thể gia sản, tự do và ngay cả sinh


mạng anh cũng có thể bị nó làm tiêu tan.


Chúng ta không nhất thiết ai cũng phải làm chính trị, nhưng đều phải có khả năng đánh giá.


Việc này không kém tầm quan trọng. Đánh giá không phải chỉ trong lĩnh vực chính trị, mà cả


trong văn học nghệ thuật. Chẳng hạn như về tranh vẽ thì trình độ thưởng thức cực kỳ quan


trọng. Nó sẽ bắt những người vẽ tranh như Bá Dương tôi phải thu mình vào một xó. Bởi nếu


bày tranh mình ra người ta chỉ nhìn thoáng một cái đã biết giá trị, có thể nói: "Anh gọi thế này


là vẽ à? Thế mà còn dám đem cho người ta xem ư?"


Một xã hội có trình độ thưởng thức tức biết cái hay cái dở, tức không hồ đồ trước bất cứ một


sự việc gì; chứ mọi người cứ ù ù cạc cạc như ở trong hũ tương, bẩn sạch, cao thấp cũng không


phân biệt thì làm sao tiến bộ và phát triển được?


Tôi chỉ có vài ý kiến này đưa ra xin các vị thảo luận và chỉ giáo cho.


Xin đa tạ!


(còn tiếp)


 


Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.

trieuxuan.info