ĐỜI SỐNG, VĂN HỌC VÀ LỊCH SỬ
Diễn văn đọc tại Phân khoa Sử, Đại học Stanford, San Francisco, ngày 22-08-1981.
Cái chủ đề tôi được giao phó hôm nay đối với tôi quá lớn, tôi cảm thấy hầu như không đảm
đương nổi và sợ không đủ tư cách để đề cập đến một chủ đề lớn như thế. Tôi chỉ tình nguyện
cố gắng đóng góp cảm tưởng riêng tư về những gì mà 5.000 năm lịch sử Trung Quốc gợi ý
cho tôi.
Trước khi bắt đầu, tôi xin nói đến một cảm tưởng khác về người da đỏ châu Mỹ (chủ nhân
nước Mỹ, cư dân nguyên thủy và chân chính của châu Mỹ).
Tôi đã được đi tham quan những vùng đất hoang phế của dân da đỏ ở Mỹ. Tôi cũng đã đến
thăm những khu biệt lập dành riêng cho người da đỏ và gặp một số người da đỏ. Thời gian tuy
rất ngắn, không nói được nhiều chuyện, nhưng ấn tượng đối với tôi rất sâu sắc. Tôi khám phá
ra rằng các sản phẩm thủ công của người da đỏ ngày nay so với các sản phẩm của người da đỏ
sáu trăm năm trước, không nói về hình thức và hoa văn, chỉ nói về những thủ pháp đan dệt và
chất liệu sử dụng thì không có gì thay đổi. Chỉ từ cái sự kiện nhỏ đó, tôi suy nghĩ và tự hỏi rồi
không biết số mệnh của dân tộc này sẽ đi về đâu?
Chúng ta không thể tưởng tượng được một dân tộc lớn với lịch sử lâu đời như thế lại có thể
đang thoi thóp, ngắc ngoải trong các khu biệt lập tại Mỹ hiện nay. Cảnh ngộ của chính những
người da đỏ này sau khi bị lừa gạt, tàn sát và sỉ nhục, so với cái lịch sử bi thương của người
Trung Quốc chúng ta thì nên nghĩ thế nào cho phải?
Riêng tôi có một ý nghĩ và nó làm cho tôi rất chán nản. Đó là vấn đề trước mắt của người da
đỏ chẳng phải vấn đề đạo đức hoặc kinh tế gì cả nhưng đơn thuần là một đe dọa diệt chủng.
Tôi không phải là một nhà tiên tri hoặc tướng số, tôi chỉ dùng sự suy đoán riêng tư và căn cứ
trên những điều bạn bè cho tôi biết. Chúng ta có thể đoán rằng 100, 500, 1.000 năm sau, có thể
sớm hơn hoặc chậm hơn, một ngày nào đó người da đỏ có thể hoàn toàn bị diệt chủng. Bởi vì
họ không tiếp thu được văn minh hiện đại.
Đương nhiên trước mắt, họ vẫn có những khu vực riêng họ không xâm phạm người khác,
người ngoài cũng không xâm phạm họ. Nhưng những khu này lại là đất của nước Mỹ, có thể
nói là do những người da trắng ban phát cho. Dĩ nhiên, trên vấn đề lý luận hoặc tình cảm
chúng ta có thể nói không phải là ban phát cho, mà do họ tự tranh đấu mới có được một ít đất
cũ vốn của họ. Nhưng nếu cái tình cảm của ta không dính dáng gì đến văn học, thơ ca nhưng
đơn thuần về lý tính thì chúng ta sẽ thấy rằng vài vùng đất riêng này là do ân huệ của nước Mỹ
da trắng. Cho nên, nếu có một ngày nào đó, nước Mỹ đông dân hơn cần lấy lại những khu vực
này thì cái kết cục của người da đỏ sẽ vô cùng thê thảm.
Phải chăng chúng ta cần phải có cách nhìn như thế này: Sự hủy diệt của một dân tộc là một
điều vô cùng lớn lao, nhưng không phải không có thể xảy ra?
Những lúc tôi nhìn thấy những khu hoang phế của dân da đỏ, và cái sự trì trệ về văn hóa của
chúng ta là trong lòng tôi như dao cắt; không thể nào không nghĩ rằng một ngày nào đó dân
tộc Trung Quốc cũng chẳng khác gì dân tộc da đỏ.
Có một người bạn bảo tôi: "Không thể thế được, dân tộc Trung Quốc có một lịch sử lâu đời,
dân lại đông như thế". Tôi nghĩ đấy chẳng qua chỉ là một cách an ủi về mặt tinh thần. Vì đem
5.000 năm lịch sử ra để bảo chứng cho sự bất diệt của một dân tộc thì không hiểu căn cứ trên
cơ sở nào? Vũ trụ mênh mông, 5.000 năm chỉ là một khoảnh khắc, nhân loại sẽ còn tồn tại đến
cả 5.000 ức năm nữa là ít. So với 5.000 ức năm thì 5.000 năm có là bao! Còn nói về dân số
nhiều ít, đó là một điều chẳng quyết định gì trong vấn đề hưng vong của một dân tộc. Thời
Dịch giả: Nguyễn Hồi Thủ 31/116
đầu, lúc người châu Âu đổ bộ lên châu Mỹ, dân số người da đỏ còn rất lớn, lớn hơn nhiều so
với người da trắng.
Cái ý nghĩ hồ đồ này làm tôi rất buồn và thấy rằng người Trung Quốc chúng ta đang gặp rất
nhiều vấn đề. Một vấn đề nổi bật thật khó hiểu là tại sao đến bây giờ người Trung Quốc không
thể hùng mạnh? Trong khi chúng ta thật ra có đủ các điều kiện để trở nên hùng mạnh. Thế thì
nhất định các điều kiện cản trở sự hùng mạnh của ta phải vượt xa các điều kiện giúp chúng ta
hùng mạnh.
Tôi xin nói trước tôi nghiên cứu lịch sử không có bài bản gì cả, cũng giống kiểu luyện thép thô
sơ mà người Trung Quốc làm trong "Bước nhảy vọt lớn", nhưng luyện rất chuyên cần nên bây
giờ rất tâm đắc, xin đóng góp một ít suy nghĩ sau đây để mọi người tham khảo.
Tôi bắt đầu bằng một câu chuyện thế này: ở Mỹ có một công ty phái nhân viên của mình đi Âu
châu khảo sát. Sau mấy tháng người ấy trở về làm báo cáo dầy cả 200 trang cho công ty, nói
rằng về phương diện kỹ thuật cũng như quản lý châu Âu đều lạc hậu kinh khủng, không thể
nào bì được với Mỹ.
Khi ban giám đốc đọc xong bản báo cáo liền ra lệnh khai trừ nhân viên này. Tổng Giám đốc
nói: "Chúng tôi gửi anh đi châu Âu để tận mắt khai thác những sở trường của họ chứ không
phải tìm những sở đoản của họ. Chúng tôi không cần anh phát hiện những gì mình đã làm tốt
rồi. Chúng tôi cần biết những điểm họ mạnh hơn mình và thấy được những khuyết điểm của
mình để sửa chữa. Chúng tôi không cần nghe những lời tự ca tụng, cái đó nghe nhiều sẽ bị ru
ngủ, làm cho phẩm chất sản phẩm của chúng ta xuống thấp, công ty chẳng mấy lúc mà đóng
cửa".
Câu chuyện này có thể xem là một chuyện ngụ ngôn vì từ nó chúng ta rút ra được một bài học
lớn. Cái chúng ta cần hôm nay không phải là phát hiện những thứ hay ho của mình mà tìm ra
những cái ngăn chặn sự tiến bộ của dân tộc Trung Quốc, cho chúng ta thấy được nguyên nhân
đang cản trở sự hùng mạnh của đất nước.
Lúc nãy ăn cơm trưa, có vài người bạn quan tâm đến việc học tập của con cháu chúng ta, sự
tốn kém của học phí đại học. Tôi cũng thấy được rằng người Trung Quốc dù khổ sở nghèo khó
thế nào đi nữa cũng đều cố gắng cho con cháu mình được học hành. Đó là một điểm mạnh,
một ưu điểm của dân tộc Trung Quốc, tôi không cần các bạn nhắc lại quá nhiều nữa. Cái tôi
muốn nói hôm nay là những khuyết điểm của dân tộc chúng ta. Vì chỉ nói ưu điểm thì không
thể tự cứu được mình, muốn tự cứu được mình phải biết nói lên những khuyết điểm của mình.
Điểm thứ nhất:
Trung Quốc có lịch sử 5.000 năm. Trong 5.000 năm ấy, lực lượng phong kiến chà đạp lên
phẩm giá, nhân tính con người không phải ngày càng giảm thiểu mà ngày một gia tăng.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vua và quan còn gần như cùng ngồi ngang hàng nhau, có thể nói
nằm cùng giường ăn cùng mâm. Đến thời Tây Hán, thế kỷ thứ II trước Công nguyên (206 BCAD
25), Thúc Tôn Thông đặt ra nghi lễ triều đình dưới triều hoàng đế Lưu Triệt vào lúc học
phái Nho gia đang nắm quyền. Nghi thức này biến đế vương thành một thứ quyền uy, không
những rất trang nghiêm, cung kính mà còn làm cho mọi người khiếp sợ.
Khi Đại thần vào triều kiến Hoàng đế có vệ sĩ kè kè bên cạnh, bất kỳ ai có thái độ không hợp
quy cách, như kiểu vô tình ngẩng đầu lên nhìn một cái cũng có thể bị xử phạt. Những thay đổi
này làm cho vua chúa xa cách nhân dân, lúc nào cũng giữ một khoảng cách, nhưng dưới
trướng Hoàng đế các Đại thần vẫn còn có chỗ ngồi.
Đến thế kỷ thứ X dưới triều Tống (960- 1279) thì cái địa vị này cũng không còn nữa. Việc Tể
tướng cùng ngồi với Hoàng đế để luận đạo đã vĩnh viễn mất. Cái cải cách rất nhỏ này nhưng ý
nghĩa rất lớn. Nghĩa là giữa vua tôi, quan dân khoảng cách càng ngày càng lớn.
Đến thế kỷ XIV dưới triều Minh (1368 - 1644), cái nhân phẩm còn bị chà đạp đến độ không
tưởng tượng được. Nhà vua đối với thần dân của mình khinh thị như cừu thù. Triều Minh này
lập ra cái quan niệm "vua cha". Vua là cha, Hoàng đế là bố của tất cả mọi người trong nước.
Cái quan niệm này khi được thiết lập rồi lại sinh ra các hủ tục khác không kể xiết. Trong
những thứ ấy, cái đáng sợ nhất là "đình trượng". Từ Tể tướng đến tiểu quan, chỉ cần bị xem là
phạm pháp đều có thể bị nọc ra giữa cung điện, giữa công đường, hoặc ngay tại một chỗ công
cộng, dùng gậy đánh cho đến thịt rơi máu vãi. Cái chế độ "đình trượng" kết hợp với tư tưởng
"vua cha" làm cho lòng tự trọng của người Trung Quốc gần như mất hẳn, làm cho nhân cách
của họ hầu như không còn gì. Cách duy nhất để giữ được lòng tự trọng là cố gắng không kêu
la khi bị đánh. Để khỏi kêu la thường những viên quan kiên cường đã chà xát mặt xuống đất
mạnh đến nỗi sau đó râu rụng không còn sợi nào. Thời đó, phản ứng duy nhất có thể làm được
là như vậy, không có cách phản kháng nào khác.
Chúng ta thường bảo rằng dân Trung Quốc là một dân tộc có sức đồng hóa phi thường, và cho
đến ngày nay vẫn đúng như vậy. Chúng ta có thể thấy bao lần trong lịch sử, sau khi chiếm
được Trung Quốc, những dân tộc ngoại xâm cuối cùng cũng đều bị đồng hóa. Sớm nhất là thời
Bắc Ngụy (368 - 534), Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành (Hoằng) sau khi chiếm được Trung
Quốc lại sử dụng hệ thống chính trị của Trung Quốc để cải cách, canh tân. Triều Mãn Thanh
cũng thế. Hai lần bị xâm lược lớn nhất này lại là hai lần thắng lợi lớn nhất của văn hóa Trung
Quốc.
Nhưng ta phải chú ý điều này: Những kẻ xâm lược cố nhiên đều hấp thụ và kế thừa văn hóa
Trung Quốc, nhưng lại tiếp thu cái phần kém nhất của văn hóa Trung Quốc, nên kết cục cũng
chẳng ra gì. Thay vì trở nên hùng mạnh thì cả dân tộc họ lẫn dân tộc Trung Quốc lại càng suy
thoái. Ví dụ như hoàng đế Bắc Ngụy là Thác Bạt Hoành tuyên bố cấm người Tiên Bi (Ty) nói
tiếng Tiên Bi, nhất loạt đều dùng tiếng Trung Quốc, ngoài ra lại đổi tên họ mình thành tên họ
Trung Quốc, áp dụng chế độ cung đình phong kiến, chế độ gia thế, quý tộc Trung Quốc mà họ
không hề có. Trước kia họ là dân du mục trên các thảo nguyên, đầu óc khoáng đạt. Tôn ty trật
tự, khoảng cách giữa các giai tầng xã hội không lớn lắm. Những thứ tốt đẹp đó đều bị phá hoại
cả.
Thính giả:
- Xin hỏi "đình trượng" là thế nào?
"Đình trượng" là "đánh đít". Người bị đánh nằm sấp, bốn hoạn quan giữ tay chân buộc chặt
vào cọc, sau đó dùng bao tải trùm đầu, hai hoạn quan đè đùi sát xuống đất. Vua ra lệnh đánh
100 trượng là đánh 100. Thông thường không đánh quá 100 trượng, vì 100 là cũng đủ chết rồi.
Bọn tay sai chấp hành lệnh quan sát sắc mặt vua. Nếu vua chỉ ghét thôi mà không muốn giết,
thì đánh xong 100 trượng, kẻ bị đánh vẫn còn có thể sống được. Nhưng nếu ý ông con trời kia
lại muốn giết, thì chỉ cần ba bốn mươi trượng là đủ toi mạng.
Nói chung các quan viên hay người có chức phận khi bị đánh phải đút lót cho bọn hoạn quan,
bọn này sẽ dùng thủ pháp đánh kêu rất to, trông rất đau, máu thịt tơi bời, nhưng lại không
phạm vào gân cốt, không chết người. Bọn này đều được huấn luyện đến độ có thể dùng giấy
bọc một bó rơm, đánh cho rơm bên trong nát mà tờ giấy không hề rách. Ngược lại họ có thể
đánh làm sao không để lại thương tích gì trên da thịt mà bên trong gân cốt đều nát bấy. Chế độ
đánh đòn này làm nhân phẩm hoàn toàn bị phá sản. Thế kỷ XIV, XV tại châu Âu đã là thời
Phục Hưng nhưng tại Trung Quốc, hỡi ôi! vẫn còn là thời kỳ đánh đít.
Xin quay lại vấn đề. Dân Mông Cổ là một dân tộc rất kỳ quái, sau khi đã xâm nhập vào Trung
Quốc vẫn giữ một thái độ chống đối văn hóa Trung Quốc. Trong vòng 180 năm, lúc đến thế
nào thì ra đi thế ấy, không hề bị nhiễm văn hóa Trung Quốc.
Còn nhà Thanh, sau khi được thành lập lại thừa kế cấu trúc xã hội và hệ thống chính trị của
triều Minh, thời kỳ hắc ám nhất, làm cho chính quyền mới đã có mầm mống bị đục ruỗng để
cuối cùng không thể nào cứu vãn được nữa.
Nhân quyền bị chế độ phong kiến, xã hội phong kiến chà đạp trong một thời gian lâu dài như
vậy cơ hồ chẳng còn gì. Cái ảnh hưởng của việc này rất lớn đối với người Trung Quốc, nó làm
người Trung Quốc không giữ được lòng tự trọng nữa.
Cái tự trọng còn lại chẳng qua cũng chỉ là cái tinh thần tự dối mình như AQ trong truyện của
Lỗ Tấn. Cái tinh thần đó và cái lòng tự trọng chân chính khác nhau một trời một vực. Ví dụ tôi
đến thăm anh, thấy anh nhà cao cửa rộng, học vấn uyên bác, trong lòng tôi kính phục, hâm mộ
anh. Trên đường về đáng lẽ tôi nghĩ phải cố gắng phấn đấu, làm việc, học hành để có thể được
như anh. Đằng này lúc ra khỏi nhà anh tôi lại bảo: ở nhà đẹp thế! Không biết ăn cắp hay ăn
cướp ở đâu ra lắm tiền! Cầu trời cho ngày mai có đám cháy thiêu trụi cái nhà nó đi cho rồi!
Tâm lý dân tộc ta bị ức chế lâu ngày chỉ biết dùng cái tinh thần đó để tự thỏa mãn.
Điểm thứ hai:
Trong suốt 5.000 năm lịch sử, Trung Quốc chỉ có ba thời đại hoàng kim. Thời đại đầu là Xuân
Thu Chiến Quốc (770 - 476 trước Công nguyên) - thời này có rất nhiều trường phái tư tưởng,
nhiều lối sống khác nhau cùng xuất hiện. Thời đại thứ hai phải là đời Đường (618 - 907) - từ
Đường Thái tông Lý Thế Dân đến Đường Minh Hoàng Lý Long Cơ khoảng 100 năm (650 -
756). Thời kỳ thứ ba là 100 năm đầu của nhà Thanh (1644 - 1911).
Trong 5.000 năm lịch sử Trung Quốc chỉ có ba thời đại hoàng kim này. Còn hơn 4.000 năm
kia, cơ hồ mỗi năm, thậm chí mỗi ngày đều có chiến tranh.
Một học giả Tây phương đã làm thống kê chứng minh rằng từ khi nhân loại có lịch sử đến giờ,
không năm nào không có chiến tranh. Hiện tượng này đối với lịch sử Trung Quốc cũng chẳng
khác.
Riêng tôi cũng đã làm qua thống kê, lại còn viết thành một bộ sơ cảo: "Lịch biên niên những
thời đại chiến loạn của sử Trung Quốc" (Trung Quốc sử đại chiến loạn biên niên lịch) cho thấy
ở Trung Quốc năm nào cũng có chiến tranh. Nhưng không thể đem Trung Quốc so sánh với
thế giới được. Thế giới là một đơn vị quá lớn so với Trung Quốc, nhất là vào đời nhà Minh thì
bản đồ Trung Quốc chỉ bằng thời Tần ở thế kỷ thứ II trước Tây lịch, nghĩa là bằng khoảng một
nửa bản đồ hiện nay.
Thế mà trong một bản đồ nhỏ như thế, mỗi năm đều có chiến tranh! Chỉ căn cứ trên những
chiến tranh lớn được ghi chép lại, các chiến sự nhỏ không thuộc phạm vi thống kê này, thì
cũng có thể thấy rằng loạn lạc, chiến tranh ở Trung Quốc đáng sợ vô cùng.
Khi một triều vua này thay thế một triều vua khác, cái thời kỳ quá độ đầy hỗn loạn có thể kéo
dài từ 30 đến 50 năm. Từ lúc đoạt chính quyền đến lúc ổn định, lại cần khoảng 20 năm nữa.
Rồi tiếp đó là cái vòng luẩn quẩn bắt đầu bằng sự thối nát của chính quyền vừa đoạt được, các
lực lượng phản kháng lại trỗi dậy, rồi kéo đến những hỗn loạn lớn. Chiến tranh lại bắt đầu, rồi
cái vòng trị loạn, tranh giành, chém giết cứ tiếp diễn.
Có thể nói rằng người Trung Quốc trường kỳ, thậm chí vĩnh viễn, sinh ra và lớn lên trong
tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc, bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác được an
toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu.
Chúng ta có lịch sử lâu đời, lại có đất nước mênh mông, đầu óc tất phải khoáng đạt, lớn lao,
cởi mở, tự tin. Thế mà ngược lại chỉ vì bần cùng, giết chóc, đố kỵ một cách lâu dài thành ra
lòng dạ chúng ta thành hẹp hòi.
Chỉ cần ngày hôm nay có thể qua đi là được rồi, ngày mai thế nào không cần biết. Chiến tranh
sẽ còn kéo dài đến mức độ nào, ai mà thấy trước được! Chiến tranh ảnh hưởng đến thủy lợi,
thủy lợi bị phá hủy rồi thì đến hạn hán lớn, sau hạn hán là đến nạn châu chấu.
Những tai họa này, hạn hán, ngập lụt, châu chấu, rồi đất hoang nghìn dặm. Trong lịch sử, cái
câu "Người ăn thịt lẫn nhau" không biết đã xuất hiện đến mấy chục lần hay mấy trăm lần. Nếu
chúng ta nghĩ rằng chúng ta là một dân tộc có văn minh cao, sao lại có thể có cái hành vi dã
man ấy? Cũng chỉ vì những tai nạn đối với chúng ta quá nhiều, lại bị tai nạn quá lâu!
Chẳng cần nói quốc gia dân tộc gì cả, chỉ nói từng cá nhân, một con người nếu bần cùng quá
lâu ngày, quá ư khổ sở, người ấy rồi đối với bất cứ sự việc gì cũng đều sinh ra cái tâm lý nghi
ngờ.
Mấy hôm trước khi ra tù, một quan chức kêu tôi ra bảo: "Tôi báo cho anh một tin mừng, anh
sắp được thả rồi!". Tôi nói: "Tôi chán thịt thỏ lắm rồi!". Anh ta bảo: "Anh không tin tôi à? Tôi
nói dối anh làm gì?". Tôi phải yêu cầu anh ta đem giấy đến cho tôi xem.
Bởi vì tôi đã từng quá tin, từng bị gạt quá nhiều, mỗi lần như vậy đều thất vọng. Một người bị
nạn quá lâu có quyền không tin vào những tin tức tốt. Một dân tộc cũng vậy. Bị đày đọa lâu
ngày, mọi người cho rằng sang một triều đại mới có thể rồi sẽ như thế này, thế nọ. Kết quả gần
như không có một lần nào là không hụt hẫng.
Có người hỏi: tại sao Trung Quốc không có kiến trúc lớn mà nước ngoài lại có? - ấy là vì các
kiến trúc Trung Quốc thường làm bằng gỗ, dễ bị mục. Tôi cho rằng đó không phải là câu trả
lời đúng mà nguyên nhân là vì cứ sau mỗi một triều đại mới lên là chúng lại bị đem đốt đi.
Nhà Tần để lại những cung A Phòng đẹp như thế, nhưng Hạng Vũ cho rằng đó là mồ hôi nưới
mắt của dân, do chính trị bạo ngược làm ra, bèn cho một mồi lửa. Chỉ mấy hôm sau, Hạng Vũ
lại cho xây một cung điện khác. Rồi qua mấy hôm nữa sẽ có một kẻ khác phê bình cho rằng
đấy là bạo chính, là mồ hôi nước mắt nhân dân, lại thiêu rụi đi. Cứ như thế mà đi đến chỗ mãi
mãi nghèo xơ xác, không có cách nào mở mang được đầu óc, xây dựng được lòng tự tôn.
Lại có câu cách ngôn "Đa nạn hưng bang" (nhiều nạn thì dựng được nước). Trước tiên chúng
ta cần hiểu rằng cách ngôn thuộc về cảm tính, trong một điều kiện đặc biệt nào đó, nó là chân
lý, nhưng nó không hề có tính khoa học. Nếu "nạn" mà quá nhiều thì làm cách nào "hưng
bang" được ? Đối với cách ngôn nhất định cần có nhận thức.
Lại lấy một ví dụ nói "Ai binh tất thắng" (Quân lính đau buồn thì sẽ thắng trận), điều này có
thể không có gì là chắc chắn. Ai binh chẳng đã từng thất bại đầy rẫy! Một đội quân dù lớn mà
rốt cuộc bị tiêu diệt, lúc đó không phải thành ai binh thì là gì? Giống như khi Carthage (Cácta-
giơ ở Bắc Phi) chống lại La-Mã, đến lúc cuối cùng cơ hồ cả nước đều là quân binh, có thể
nói "vừa khóc vừa đánh", kết cục vẫn bị La-Mã tiêu diệt. "Ai binh" chưa chắc đã thắng. "Nạn"
mà quá nhiều chắc gì đã dựng được nước? Phải nói rằng "nạn" nhiều đúng mức, đúng thời
may ra mới có thể "hưng bang" được.
Còn Trung Quốc thì sao ? Dường như cái "nạn" lại quá nhiều. Cũng may là cái quá nhiều đó
chưa đạt đến độ tiêu diệt cả chúng ta, nhưng cũng đã đến cái chỗ đủ nhiều để làm cho chúng ta
mất cả linh tính.
Điểm thứ ba:
Chúng ta phát hiện được trong lịch sử Trung Quốc một hiện tượng kỳ quái mà các nước khác
không có, đó là chế độ khoa cử, hay gọi tắt là "Quan trường".
Nhật Bản hấp thụ văn hóa Trung Quốc một cách toàn diện. Không cái gì Trung Quốc có mà
họ không từng tiếp nhận, từ cái nhỏ như manh chiếu (Tatami), đôi guốc (Geta), đến cái lớn
như chế độ, tổ chức chính trị, v.v.., nhưng chỉ có một điểm mà họ không tiếp nhận, mà điểm
này đã giúp họ trở thành một nước hùng cường rất nhanh chóng trong thời Minh Trị Duy Tân,
đó là chế độ khoa cử.
Chế độ khoa cử Trung Quốc cũng có những tác dụng tốt, nhưng lại đẻ ra "vấn đề quan
trường". Quan trường là một cái mạng nhện kỳ quái, nhìn thì không thấy, sờ không đụng,
nhưng lúc bị rơi vào rồi mới biết. Ta không thể dùng chữ Bureaucrats tiếng Anh để dịch chữ
"quan liêu" trong tiếng Trung Quốc được, bởi chữ này không lột tả hết được cái đặc trưng của
nó. Quan liêu chẳng trung thành với quốc gia, lãnh tụ gì cả, chỉ tận tâm tận lực với kẻ cất nhắc
nó lên làm quan. Các triều đại Trung Quốc có thể thay đổi, song quan trường vẫn thế.
Người Mãn Thanh sở dĩ thống trị được người Tây Tạng, người Mông Cổ, người Hán vì biết
nhắm vào nhược điểm của các dân tộc này.
Đối với người Tây Tạng họ dùng đạo Lạt-ma, mời những tăng lữ lạt-ma đến Bắc Kinh và đối
xử với họ cực kỳ cung kính.
Đối với người Mông Cổ thì họ dùng thủ đoạn hôn nhân, gả những công chúa cho những hoàng
tử Mông Cổ, con cái lai sinh ra thành ra con cháu của mình, đem chúng nuôi dưỡng ở cung
đình nhà Thanh. Các vương tử đó một khi lớn lên không thể nào phản lại chú bác cô dì của
chúng.
Trong khi đó công chúa Mãn Châu không bao giờ lấy người Hán. Người Mãn Châu trị người
Hán bằng phương pháp khoa cử. Họ biết người Trung Quốc có cái khuyết điểm là thích làm
quan. Nếu tôi cho anh cái hy vọng được làm quan thì anh có thể ngoan ngoãn đem giao ngay
hết cả ý thức dân tộc lẫn phẩm giá con người.
Sở dĩ "Quan trường" có cái bộ mặt của các xã hội thần bí vì nó mang những tiêu chuẩn cư xử
và những quan niệm về giá trị rất đặc thù.
Nó không trung thành với vua, vua thay thì nó vẫn làm quan. Nó cũng không sợ mất nước,
nước mất, chỉ cần nó vẫn được làm quan thì nó vẫn làm. Cái xã hội ăn chơi, phù hoa là nơi các
quan ra oai, tự nhiên hình thành một hệ thống tương hỗ bao che giữa các quan với nhau - một
quan hệ vô cùng phức tạp.
Quyển sách "Quan trường hiện hình ký" là một quyển sách phân tích cái cấu trúc của chế độ
quan trường Trung Quốc dưới cặp mắt nghiên cứu những vấn đề xã hội. Bởi vì từ khi quan
trường được thiết lập, những quan hệ giữa người với người tại Trung Quốc càng trở nên tinh
xảo. Các vị ở Mỹ lâu năm có thấy rằng cái quan hệ giữa con người ở Mỹ so với Trung Quốc
thì quá đơn thuần không ?
Ở Trung Quốc có một câu nói: "Làm việc thì dễ, làm người thì khó!". Làm người là thế nào
nhỉ? Tức là làm sao cho cái quan hệ giữa con người với nhau được tốt đẹp.
Có một vở Kinh kịch (kịch Bắc Kinh) nhan đề "Thẩm đầu thích thang" (khám đầu tìm kẻ giết
ông Thang) trong đó có một quan tòa, một vị bồi thẩm và một góa phụ nhan sắc xinh đẹp mà
chồng vừa bị mưu sát. Trong phiên tòa người đàn bà góa ôm một đầu người đứng khóc.
Nhiệm vụ của tòa là phải xác minh xem đấy là đầu của ai. Nếu đúng là đầu của chồng bà ta thì
vụ án xem như có thể kết thúc. Nhưng nếu là đầu của một người khác thì vụ án này còn liên
quan đến rất nhiều người, và có thể sẽ còn nhiều người khác sẽ chết. Ông bồi thẩm có ý thích
người đàn bà góa trẻ đẹp này, và bà này cũng ra ám hiệu cho ông ta biết là bà ta sẽ ưng thuận
tái giá với ông ấy, nên ông này một mực rằng đấy là đầu của chồng bà ta. Nhưng sau khi xem
chừng vụ án có vẻ xong xuôi, bà góa bèn tỏ ý không muốn lấy ông bồi thẩm nữa. Ông này
cũng lập tức quay phắt ra nhất quyết bảo cái đầu ấy lại không phải là của chồng bà ta nữa. Vở
kịch này tiêu biểu cho cái phản phúc trong quan hệ quan trường của người Trung Quốc chúng
ta. Đầu thật, đầu giả cho đến phút cuối cùng cũng không ai có thể biết như thế nào.
Tôi nghĩ rằng trong chúng ta nhiều người đã về làm việc ở Trung Quốc hoặc sẽ về làm việc
trong tương lai, tôi tin chắc khó khăn các vị gặp phải thường không dính dáng đến bản thân
công việc, mà dính đến những người cùng làm việc với các vị.
Nói ví dụ anh làm việc ở một lò nguyên tử. Anh có biết gì về nguyên tử hay không, đó là một
vấn đề thuộc công việc. Nhưng sẽ rầy rà to nếu một hôm anh cần một đinh ốc cho lò phản ứng
mà người quản lý ốc vít lại nghỉ việc. Anh ta bị ốm, đương nhiên xin nghỉ, anh không thể cấm
người ta ốm được. Nhưng sự thật anh ta lại không hề cảm cúm gì cả, chỉ nghỉ để đi đánh mạc
chược? Tại sao?
Bởi vì quan hệ giữa anh và người ấy không được tốt đẹp. Cái lò nguyên tử của anh có hoạt
động được hay không, thậm chí có bị nổ tung đi nữa, cái việc ấy người đó cũng cóc cần. Nếu
anh bảo nước nhà bị thiệt hại thì cũng kệ, tôi cứ việc quan tôi làm.
Đó là cái đầu óc quan trường tích lũy từ mấy nghìn năm, một chứng bệnh vẫn còn duy trì đến
cuộc Bắc Phạt của quân Cách mạng Quốc dân năm 1928.
Về mặt quân sự, trong khi quân đội đánh dẹp các sứ quân ở miền Bắc, thì về mặt chính trị cái
chất độc của quan trường lại tràn xuống miền Nam. Trước kia giữa những đồng chí cách mạng
tình cảm rất trong sáng, nhưng khi đã bị cuốn hút vào giới quan trường bỗng trở thành phức
tạp ghê gớm, phức tạp đến độ một người lành mạnh không thể nào chịu nổi.
Cái quan hệ giữa con người với nhau trở thành một loại keo dính đến độ hễ dán vào rồi là
không thể nào gỡ ra được nữa. Có ai trong các vị thấy điều đó khi về nước không?
Lấy một ví dụ khi anh về nước, bạn bè mời anh đi ăn cơm, anh dám cả gan từ chối thì tình bạn
sẽ từ đó bị sổ toẹt ngay. Đó là đặc tính của quan trường, nó làm cho quan hệ con người trở nên
khúc mắc ghê gớm. Tại sao lại như thế ? Tại sao anh ta phải xử sự như vậy? Bởi vì làm như
thế thì cái địa vị của anh ta mới càng thêm vững chắc.
Tôi có một người bạn về Đài Loan được một người chưa hề quen mời ăn cơm. Sau khi ăn
xong, người này mới nhờ anh đem dùm về Mỹ một món đồ. Người này làm ra vẻ nhờ vả rất tự
nhiên, như thể bạn bè vẫn thường giúp đỡ nhau chứ không phải đánh đổi một bữa cơm để lấy
chuyện đưa đồ.
Cái hiện tượng quan trường là như vậy, giống kiểu anh làm lò nguyên tử, cái lò phản ứng hạt
nhân này rất nguy hiểm không phải ai cũng mó vào được. Nhưng người nọ lại cho rằng đã là
bạn bè với nhau cho anh ta sờ đến một cái thì đã sao.
Thường thường một người trước khi làm quan và sau khi được làm quan là hai loại người khác
nhau. Thật ra nói như vậy không lô-gíc. Chỉ có thể nói rằng hễ cái "quan tính" của một người
càng hưng thịnh thì cái nhân tính của người đó càng biến mất đi. Không còn nhân tính nữa, chỉ
còn cái quan tính lúc làm quan. Cho đến một ngày tất phải về hưu, lúc đó cái nhân tính may ra
mới hồi phục.
Sự tồn tại của quan trường làm cho cách làm việc tại Trung Quốc trở thành rất đặc biệt, khiến
cho quỹ đạo của sự phát triển văn hóa đi lệch hướng.
Điểm thứ tư:
Tôi cho rằng Khổng Khâu (Khổng Tử) là một nhân vật vĩ đại, tri thức uyên bác, lại có một tấm
lòng nhân hậu và những cống hiến lớn đối với xã hội. Cái Nho giáo do Khổng Khâu cùng
những học phái Nho gia sau này lập ra đều đã ảnh hưởng đến người Trung Quốc một cách sâu
rộng, và còn ảnh hưởng ngay cả đến chúng ta ngày nay. Nhưng tinh thần nhà Nho là một tinh
thần bảo thủ, nói một cách nghiêm túc hơn thì nhà Nho không những rất bảo thủ mà còn phản
tiến bộ.
Chữ "Nho" này vào thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ được dùng theo nghĩa sử dụng trong nghi
lễ cúng tế. Một nhà Nho là một người hiểu biết cái trình tự cúng tế. Gặp lúc quốc gia cần các
nghi lễ mới cần loại người này đóng góp ý kiến. Bản chất loại người này vốn nệ cổ. Thời đó
chưa có lễ nhạc mới, phải dùng lễ nhạc thời cổ. Để có miếng cơm nhà Nho phải giữ gìn sao
cho nghề nghiệp của họ được ổn định nên sinh ra thói nệ cổ. Nếu chúng ta không dùng từ nệ
cổ, sùng bái những cái cũ, vì cho rằng nó có nghĩa xấu thì cũng phải bảo là họ rất bảo thủ.
Cái tinh thần bảo thủ này ở Trung Quốc đã trở thành một ý thức bền bỉ, làm cho xã hội mất hết
sức sáng tạo, mất tập quán tự tìm hiểu, tự phê phán.
Bạn bè lúc nói chuyện về nước Mỹ (xin lỗi, tôi cứ múa búa trước cửa Lỗ Ban, tôi muốn nói
chơi thôi, xin quý vị cứ nghe chơi chứ đừng tin thật!), có người nói về việc đàn áp chủng tộc,
nào tàn sát dân da đỏ, ngược đãi da đen, kỳ thị da vàng. Tôi đã từng đi tham quan đảo Angel
(En-giơn), đã được nhìn thấy chữ và những dòng thơ người Trung Quốc để lại nói lên những
sầu thảm và đau khổ của đời họ.
Những khuyết điểm này của nước Mỹ có thật không? Dĩ nhiên là có thật, thậm chí còn hơn sự
tưởng tượng của chúng ta nữa. Nhưng chúng ta phải lưu ý thêm một vấn đề khác, đó là đối với
các khuyết điểm kia họ có khả năng sửa đổi không? Tự họ có ý thức được vấn đề không? Tình
hình hiện nay so với trước có khá hơn không? Nếu không thì tiền đồ của nước này chắc chắn
cũng không sáng sủa gì. Nếu có thì chúng ta phải thấy rằng đấy là một quốc gia vĩ đại, có một
sức sống dồi dào.
Trước kia nước Mỹ có "cây treo cổ người", bây giờ không còn nữa. Xưa kia nước Mỹ đối với
tù nhân có dùng "nhà lao nước". Bây giờ khi bắt bớ người, họ phải đọc điều thứ 9 của Hiến
pháp cho người ấy. Nước Mỹ đã có những điều sai lạc, nhưng lại có năng lực sửa sai.
Nhưng dân tộc Trung Quốc chúng ta lại hoàn toàn không có năng lực này. Tình trạng nệ cổ
lâu dài, không cầu tiến, bảo thủ, đã làm cho cái năng lực này tiêu tan.
Nhìn lại lịch sử chúng ta sẽ thấy Thương Ưởng - một nhà tư tưởng đời Tần - đã dùng luật pháp
biến đổi nước Tần như thế nào. Trước đó dân chúng sinh hoạt trong gia đình, bố mẹ, con cái,
anh chị em, lớn nhỏ đều nằm chung trên một giường gạch lớn (cái kháng, một loại giường xây
bằng gạch hoặc đất, ở dưới có bếp lửa vừa để nấu ăn vừa sưởi ấm vào mùa đông).
Thương Ưởng dạy họ cách sống văn minh bằng cách bắt bố mẹ, con cái không được ngủ
chung phòng, anh trai, em gái cũng vậy. Điều này cho thấy vào thời đó chúng ta là một quốc
gia man rợ và lạc hậu đến dường nào.
Thương Ưởng chẳng phải đã phát minh ra bom nguyên tử, cũng không phải đã cải cách về mặt
vật chất, nhưng đã dùng pháp chế để tạo ra một chế độ mới, một xã hội mới, giáo dục con
người về mặt văn hóa. Và cải cách đó của ông cơ bản đã thành công.
Thương Ưởng là người của thế kỷ thứ IV trước Tây lịch. Hơn 2.000 năm sau đó chưa có ai đột
phá thêm một lần nữa, làm được những cải cách cơ bản như vậy. Cứ mỗi lần có người muốn
đột phá, cuối cùng đều thân bại danh liệt, cửa nhà tan nát, tính mạng không còn. Chính số
phận Thương Ưởng rồi cuối cùng cũng bị ngũ mã phân thây. Nho gia học phái thường thường
vẫn lấy cái kết cục bi thảm của Thương Ưởng để răn đe những kẻ muốn cải cách và uy hiếp sự
tiến bộ của người Trung Quốc.
Trong lịch sử Trung Quốc còn có một nhà cải cách lớn nữa là Vương An Thạch, một người
mà đạo đức, học lực cùng sức làm việc đều không có chỗ nào có thể chê được. Nhưng những
cải cách của ông toàn gặp trắc trở lớn. Trương Cư Chính cũng vậy, ông cũng gặp một kết cục
thê thảm như Thương Ưởng, lúc vừa mất thì nhà bị niêm phong, con bị bỏ đói cho chết. Rồi
đến cuộc cải cách năm Mậu Tuất (1898) của Khang Hữu Vi cũng chẳng khác gì, tất cả đều
thất bại!
Nho gia học phái có một cách nói: "Nếu không có lợi mười phần thì không cần cải cách!" (Lợi
bất thập, bất biến pháp). Đại ý muốn nói rằng nếu lợi ích không đạt 100% thì không nên cải
cách. Cái quan niệm này là một nguyên nhân lớn nhất làm cho dân tộc Trung Quốc chúng ta
không thể tiến bộ, không thể hùng mạnh được. Vì bất cứ một cải cách nào cũng không thể
đem lại mười phần mười lợi ích cả. Chỉ cần đạt lợi ích lấy năm phần rưỡi của mười phần cũng
là lớn lắm rồi.
Tối hôm qua có vài vị nói chuyện về vấn đề phiên âm tiếng Hán, có người đề cập đến khuyết
điểm này, có người nói đến khuyết điểm khác, nhưng trên đời này thử hỏi có cái cải cách nào
mà không có khuyết điểm? Cái thì có vấn đề về mặt tình cảm, cái thì về mặt lý luận. Nếu anh
muốn 100% không có vấn đề thì trên đời này làm gì có được cái chuyện quái dị đó.
Vì tinh thần nhà Nho vốn bảo thủ nên có lần một vị hoàng đế triều Tống hỏi Tư Mã Quang:
"Có nhất định cần cải cách không? Ví như cứ giữ được luật pháp của Tiêu Hà từ triều Tây Hán
mà không thay đổi gì có được không?" Tư Mã Quang đáp: "Đương nhiên là được, bởi vì có
quá nhiều kẻ ngông cuồng, bọn hiếu sự cứ muốn sửa đổi lăng nhăng chỉ tổ tạo dịp may cho
đạo tặc hoành hành. Nếu không muốn thay đổi gì thì những phong tục tốt đẹp từ thời Nghiêu
Thuấn cũng có thể giữ đến ngày nay".
Tư Mã Quang là một kiện tướng trong giới quan trường thời bấy giờ. Cái loại sâu mọt hại
nước, hại dân này là một trở lực cực lớn cho sự tiến bộ của Trung Quốc.
Lúc vừa lên Tể tướng, việc đầu tiên Tư Mã Quang làm là xóa sạch toàn bộ những luật pháp
mới của Vương An Thạch, gồm cả đạo luật rõ ràng mười phần hiệu quả về cách tuyển người
(Mộ dịch pháp). Tô Đông Pha và con của Phạm Trọng Yêm là Phạm Thuần Nhân đều đứng ra
phản đối. Tư Mã Quang liền trở mặt ngay với họ.
Điều này cho thấy ở thời đại Bạn Cước Thạch bọn quan trường chẳng kể thị phi, chẳng nghĩ
đến lợi ích nhân dân, chẳng trung thành gì với nguyên thủ quốc gia, mà chỉ trung thành với lợi
ích bản thân.
Tư Mã Quang thật ra cũng chẳng phải là một nhà chính trị gì cả, bất quá chỉ là một tên quan
trường dơ bẩn thế thôi.
Điểm thứ năm:
Vấn đề cuối cùng tôi muốn nói là cái tác hại của nạn dân số quá đông. Cứ sau các cuộc nội
chiến, thay đổi triều đại là dân số nổ bùng. Thế rồi cái vòng luẩn quẩn bi thảm lại bắt đầu:
chiến tranh, tàn sát, tử vong.
Có người bảo cái đất Mỹ sướng quá, mức sống cao thế! Không biết các vị có chú ý một điều là
dân số Mỹ chỉ có 260 triệu người. Giả sử dân số Mỹ tăng lên một tỷ người hoặc tất cả dân
Trung Quốc lại dọn sang Mỹ ở thì tình hình sẽ ra sao?
Vấn đề dân số là một vấn đề nguy ngập. Nếu Trung Quốc muốn trở nên giàu mạnh tất phải
liều mạng giảm dân số.
Có câu nói "Nhiều người thì làm băng băng, ít người thì ăn bánh mì hấp" (một loại bánh rẻ
nhất). Thời xưa thì có thể như thế thật nhưng thời nay thì không. Người nhiều quá chỉ tổ thất
nghiệp. Một trăm người làm chẳng bằng một cái điện não (máy vi tính).
Câu "ít người thì ăn bánh mì hấp" là một chân lý đã lỗi thời. Thu nhập gia đình nuôi hai, ba
đứa con thì còn đủ để duy trì một mức sống tương đối khá. Nhưng nếu chẳng may không để ý
mà có 200 đứa, thì lấy gì mà nuôi chúng nó? Tiền ăn, ở, tiền học, tiền quần áo,... lấy đâu ra?
Trung Quốc người quá đông, nghèo khổ quá lớn, quan trường quá mạnh, cạnh tranh quá khắc
nghiệt, những lý do này sinh ra nơi người Trung Quốc cái hiện tượng bẩn, loạn , ồn, xâu xé lẫn
nhau. Người Trung Quốc có câu "Khí thế hung hăng" (lai thế hung hung) để nói việc chúng ta
không biết đối xử với nhau một cách có lễ độ.
Lúc tôi ở Los Angeles (Los Angeles) có người hỏi tôi cảm tưởng về nước Mỹ. Tôi bảo nước
Mỹ là một nước trọng lễ nghĩa. Lại hỏi thế Trung Quốc có phải là một nước trọng lễ nghĩa
không? Tôi cho là Trung Quốc là một nước tuyệt đối không trọng lễ nghĩa. Người Trung Quốc
thật thô lỗ, hầu như lúc nào cũng chuẩn bị sẵn một đòn để đánh phủ đầu đối phương.
Các vị chắc chắn có thể thấy người Trung Quốc rất ít cười. Phải chăng vì quá nhiều hoạn nạn,
đau khổ, sầu não quá lâu làm cho họ không thể cười nổi nữa? Cho nên tôi mới thấy dân Mỹ
thật là rất vui sướng, ít nhất đó là nước Mỹ mà tôi gặp, tôi tiếp xúc. Một nước rất hạnh phúc,
lương thiện, hay giúp đỡ người khác. So sánh với người Mỹ thì người Trung Quốc lúc nào
cũng lo âu, lòng đầy những ý tưởng hận thù, chỉ sợ người khác làm cho mình thiệt hại. Trong
cuộc sống lúc nào cũng lo ngay ngáy, đôi mắt để tự vệ lúc nào cũng sẵn sàng long lên sòng
sọc.
Có người nói ở Mỹ người ta kỳ thị chủng tộc. Dĩ nhiên là có, nhưng sự thật là không phải chỉ
riêng ở Mỹ. Ở nước nào mà không có kỳ thị chủng tộc? Nhưng ít nhất nước Mỹ cũng còn bao
dung chúng ta, không những bao dung con người mà còn dung túng cả những cái bất lịch sự,
dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào và sự xâu xé lẫn nhau của chúng ta nữa.
Đấy là những điều tôi đã "khảo sát" được khi đến Mỹ. Tôi rất tâm đắc và nói ra thành thực
không dấu diếm. Còn những ưu điểm của chúng ta, không cần nhắc lại làm gì, vì có nói đi nói
lại nó vẫn còn đó, không nói nó cũng chẳng đi đâu mất. Tôi chỉ nhắc đến khuyết điểm để
chúng ta có thể tự phản tỉnh. Những khuyết điểm này vô cùng nghiêm trọng. Cái hũ tương văn
hóa của chúng ta chứa đựng biết bao vấn đề phức tạp. Phải làm sao bây giờ?
Tôi xin có vài ý kiến sau đây:
Những vấn đề này - nếu là vấn đề - thì đối với chúng ta cái phản ứng đầu tiên như một con
người là phải tự mình tìm tòi, suy nghĩ. Từ mấy nghìn năm nay, toàn những người khác -
thánh nhân, các quan lớn hoặc những loại người như thế - đã thay chúng ta suy nghĩ. Tự mình,
chúng ta thấy không cần suy nghĩ hoặc không dám suy nghĩ xem nên làm thế nào mới đúng.
Người Trung Quốc tựa hồ cứ như kẻ có nhu cầu luyện tập cho mình thành người ngốc đi.
(còn tiếp)
Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông. |