17.03.2016
Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí (6)



CHẲNG KỂ THỊ PHI, CHỈ BIẾT CHÍNH ĐẠO


Cái nét chính của Chủ nghĩa thế lợi là không phân biệt phải trái. Vì phải trái dưới con mắt thế


lợi hoàn toàn tùy thuộc vào thế lực và tài sản.


Có người bạn kể tôi nghe một chuyện ở quê anh miền Chiết Giang. Bà con anh có một người


trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật in tiền giả vùng địch chiếm để dùng vào việc mua vũ


khí đạn dược cho quân du kích.


Chẳng may anh này bị địch bắt và đem xử bắn vào cái đêm trước khi thắng lợi một hôm. Khi


tin anh bị giết loan về làng, những kẻ gọi là chính nhân quân tử không ai không lắc đầu than:


"Thằng bé đó thật là tốt, không hiểu sao không sống đàng hoàng. Nếu nó chịu đi con đường


chính đạo thì đã không ra nông nỗi ấy!"


Đó là cách đánh giá trong thâm tâm của người Trung Quốc đối với một vị anh hùng chống


giặc cứu nước. Mặc dù trong lòng đầy thương xót, nhưng họ lại bảo: "không sống đàng


hoàng", "không chịu đi con đường chính đạo", tức là hoàn toàn không những không hề có một


ý gì kính trọng cả, mà còn là một sự thờ ơ, tàn nhẫn nữa.


Trong cái "hũ tương" văn hóa Trung Quốc, chỉ có phú quý, công danh, tài lộc mới được gọi là


"con đường ngay thẳng". Còn những hành động không mang đến công danh phú quý thì toàn


là những thứ "không đàng hoàng" và không phải là "chính đạo".


Thật chẳng còn một tý nào nhân tính, chẳng còn tiêu chuẩn phải trái gì nữa. Tất cả hoàn toàn


đảo lộn. Sự khác biệt giữa con người và súc vật hầu như cũng không còn.


Cái duy nhất còn lại - ghê gớm nhất - là con mắt thế lợi mà thôi.


Trích từ tập "Đập tan hũ tương"


PHỐ TÀU - MỘT ĐỘNG QUỶ NUỐT TƯƠI NGƯỜI TRUNG QUỐC


Đa số người Trung Quốc đều cố gắng "không mất gốc", nghĩa là tích cực chia rẽ, xâu xé nhau.


Bất kỳ ở góc biển chân trời nào hễ có người Trung Quốc là có cắn xé lẫn nhau.


Nghe nói tại nước Mỹ có một cơ quan chuyên nghiên cứu những đặc tính này để tìm hiểu tại


sao người Trung Quốc đối với người da trắng lại rất tử tế mà đối với đồng bào mình lúc nào


cũng chỉ như chực muốn giết lẫn nhau.


Từ khi những bang hội ma-phia trẻ Trung Quốc nổi lên hoành hành trong các quán cơm Tàu,


nhiều quán đã phải chi những món tiền lớn để mời một người da trắng đến gác két tiền, như


kiểu một loại bùa trừ tà. Chẳng bao lâu sau những băng đảng này không thấy xuất hiện nữa.


Đó là nói về giới vô học.


Còn giới trí thức - đặc biệt là số người Trung Quốc có học vị tại các trường đại học Mỹ -


giống như gừng càng già càng cay - tự nhiên họ phải biểu hiện cái đặc tính này một cách tài ba


hơn. Cùng dạy tại một trường đại học, lại cùng là người Trung Quốc đáng lẽ họ phải tương


thân tương trợ, hòa thuận với nhau. Nhưng khi chứng kiến tận mắt tôi mới thấy được là không


phải như vậy.


"Những chuyên gia về học" kiêm "học về chuyên gia" đó nếu thuyết trình hoặc giảng dạy về


vấn đề đoàn kết thì có thể hay ho đến thượng đế cũng có thể khóc được. Nhưng trên thực tế


chẳng lúc nào họ muốn đội trời chung với nhau. Ví dụ: giáo sư A mời tôi đi quán nhưng quyết


không mời giáo sư B tham gia. Ông giáo sư C nghe nói tôi ngủ nhà ông giáo sư D, tức khắc


thanh minh không muốn kết bạn với cái loại người trục lợi như tôi. Tôi rời nhà ông E, định


nhờ ông ấy chở giúp đến nhà ông F, thì ông E nói: "Anh bảo thế nào? Gặp thằng đó à? Thôi,


anh đi bộ cho nó khỏe nhé!".


Các phố Tầu trên thế giới đã thành những động quỷ nuốt tươi người Trung Quốc, thành nơi


chứa chấp vô số người ở chui không giấy tờ. ở đó, trẻ con hoặc các bà già nhiều khi không có


cách nào ngoài cách làm việc trong các xưởng quần áo lậu với đồng lương không đủ húp cháo


cầm hơi, chẳng khác gì những nô lệ da đen thuở nào. Họ chôn vùi cuộc đời trong những


xưởng đó mà chẳng ai nghe được tiếng kêu than. Dù có cơ hội để kêu khóc nhiều khi họ cũng


không dám. Những xưởng may lậu này thường chỉ nhắm bóc lột người Trung Quốc chứ không


hề dám đụng đến người da trắng.


Những người Trung Quốc trong giới học đường và guồng máy chính phủ cũng không là một


ngoại lệ. Nếu sếp của anh là người Trung Quốc thì anh hãy coi chừng. Không những anh có


thể quên cái việc thăng tiến đi, mà nếu có chuyện thải người thì anh sẽ là kẻ đầu tiên phải cuốn


gói. Bởi vì sếp anh phải chứng minh cho người da trắng cấp trên thấy anh ta không thiên vị,


rất chí công vô tư. Nhưng sự thực cái óc "tư" của anh ta nếu đem nhét vào con thoi không gian


cũng không đủ chỗ chứa. Để làm vừa lòng ông chủ da trắng, anh ta không ngần ngại mổ thịt


một đồng bào, bước lên cái thi thể đó như một bàn đạp mà tiến thân.


Người Trung Quốc vì đầu óc hãi sợ truyền kiếp nên sẽ vĩnh viễn bị lừa bịp, bắt nạt. Giống


chuyện một phụ nữ Trung Quốc ở Mỹ kể cho tôi nghe hai năm rõ mười những đau khổ của bà


trong vụ bị người ta lừa tiền một vố nặng. Thế mà lúc tôi đề nghị đem chuyện đó viết lên báo,


thì bà thất sắc, vừa khóc vừa bảo: "Ông ơi! Ông ở tận bên Đài Bắc, đối với bọn chó săn đó thì


không có gì phải lo. Nhưng em tôi đang ở Xan Phrăng-xítx-cô. Ông hại nó mất. Ông đúng là


cái thằng chuyên gây ra tai họa thôi!" Nói xong bà chùi nước mắt nước mũi lên người tôi và


bắt tôi thề nếu viết gì về bà thì sẽ chết đuối ngay trong cái cốc nước trà.


Than ôi! Trong thế giới này chỉ có cái thiên tính nhu nhược của người Trung Quốc mới không


dám căn cứ trên lý lẽ để đấu tranh. Nếu có một vài người dám làm vậy thì những con giòi


trong hũ tương cho rằng đấy là những phần tử cực đoan không an phận.


Mọi người đều sống theo cái kiểu: "Thôi! Bỏ qua! Bỏ qua đi! Cái gì đã qua thì cứ để nó qua,


quá khứ thì hãy để cho nó là quá khứ!" Rồi chờ đến lúc Ngọc Hoàng thượng đế đột nhiên mở


mắt phán: "Người ác sẽ gặp quỷ ác!" Và như vậy khác nào đặt ngang hàng những anh hùng


chống bạo lực với loại "côn đồ", còn người lương thiện lại đồng nghĩa với hèn nhát và dễ bị


bắt nạt, thiếu can đảm và phẩm cách.


Tại sao những băng đảng trẻ người Hoa không dám động đến cái người da trắng gác két ở các


tiệm cơm Tầu ? Bởi vì họ quá biết rằng ăn hiếp một người Trung Quốc thì cũng dễ như đối với


một con kiến. Y sợ sệt nhút nhát đến chết được, đối với bất kỳ việc hung bạo gì cũng đều quen


thói cúi đầu nhẫn nhục, miệng câm như hến. Nhưng nếu ăn hiếp một tay da trắng, luật sư xuất


đầu lộ diện, thì không biết sự thể sẽ ra sao?


Trước khi tôi đi Mỹ, một người bạn đến chia tay bảo: "Khi nào anh trở lại Đài Loan tôi hy


vọng rằng anh sẽ không bảo người Trung Quốc ở đâu cũng là người Trung Quốc nữa!" Nhưng


giờ đây dù có dằn lòng ép dạ thế nào đi nữa tôi vẫn phải bảo: "Người Trung Quốc ở đâu cũng


vẫn là người Trung Quốc". Chao ôi! Cái căn bệnh thâm căn cố đế làm cho tương lai của người


Trung Quốc thật mù mịt!


Tại nước Mỹ - một xã hội đen trắng lẫn lộn - người Trung Quốc phải đơn độc chiến đấu vì


thiếu sức mạnh tập đoàn, dẫu có thể đạt đến một trình độ nào đó nhưng rồi cũng rất bị giới


hạn. Không những họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với người Do Thái, chỉ cần so


sánh với người Nhật, người Đại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.


Số người Nhật di cư sang Mỹ so với Hoa kiều chỉ bằng một nửa, thế mà họ bầu lên được hai


Đại biểu Quốc hội. Tôi có thể nói trước rằng: cả trăm năm nữa đám di dân Trung Quốc vẫn


không thể bầu nổi một đại diện của mình.


Người tù trưởng da đỏ "Thượng úy Giắc" có nói một điều rất đau thương như sau: "Những


người da trắng các anh có tiêu diệt chúng tôi đâu. Kẻ tiêu diệt chúng tôi là chính chúng tôi


đó!" Không phải người da trắng bài xích người Trung Quốc tại Mỹ; tự thân người Trung Quốc


đã làm như vậy, khiến cho chính người Trung Quốc mới bị lâm vào cảnh khốn khó.


Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"


NÓI CHUYỆN VỀ "NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ"


Trần Văn Hòa viết cho Bá Dương


Cái bài báo "Người Trung Quốc xấu xí" của ông trong "Tự lập vãn báo làm tôi không cầm


lòng được. Nếu không thổ lộ với ông thì tôi không thể nào chịu nổi.


Tôi nghĩ những ý kiến dưới đây của tôi có thể giúp ông tham khảo thêm chăng?


Về việc ông nói rằng "phải biết thưởng thức và phải có năng lực thưởng thức", tôi hoàn toàn


đồng ý với ông. Nhưng trước khi nói đến người thưởng thức, và năng lực thưởng thức, tôi


nhận thấy người Trung Quốc rất bủn xỉn trong vấn đề ca ngợi người khác. Chỉ có bản thân


mình là đáng khen, còn những người khác đối với họ đều là cứt chó hết. Trong tiếng Trung


Quốc các thành ngữ kiểu: "Trí thức hay khinh nhau" (Văn nhân tương khinh), "Cùng nghề hay


ghen nhau" (Đồng hành tương kỵ), "Cùng tính thì hay khích bác nhau" (Đồng tính tương


xích),v.v... nhiều không kể xiết. Cho nên nếu mọi người đều dám ca ngợi, mà ca ngợi một cách


công khai, thì tự nhiên sẽ có sự thưởng thức và đánh giá.


Ngạn ngữ phương Tây bảo: "Cái kẻ địch mà lòng dạ hẹp hòi là loại kẻ địch đáng sợ nhất". Đặc


biệt người Trung Quốc thường không chịu được người khác khá. Người khác mà khá, y sẽ bảo


làm gì có chuyện đó. Người ta có thật sự tốt đi nữa thể nào y cũng phải đi bảo với tất cả mọi


người rằng không phải vậy.


Vì sao người Trung Quốc không thích ca tụng, thưởng thức? Tôi nghĩ điều này cũng có liên


quan đến việc ông bảo: "Người Trung Quốc không thích nói sự thật"


Ngoài chuyện này ra, người Trung Quốc còn không dám tức giận trước mặt người lạ. Vì


không dám công khai tức giận nên cũng không dám công khai ca tụng, không dám yêu mà


cũng không dám ghét. Tôi cho rằng người Trung Quốc còn có thêm đặc tính là ít khi biểu lộ


sự biết ơn chân thành. Nếu một người Trung Quốc thành công, anh ta sẽ nghĩ đấy là kết quả


của sự cần cù nỗ lực của riêng mình chứ chẳng liên quan gì với xã hội, nhân quần. Chẳng phải


ơn huệ gì đối với cái cơ hội đã giúp anh ta thành công cả. Việc này giải thích thái độ vô trách


nhiệm đối với xã hội của người Trung Quốc.


Ngoài ra, sự thành công của người Trung Quốc chỉ mang lại huy hoàng cho một gia đình, một


họ tộc. Những người bên ngoài không thể chia xẻ được cái vinh dự đó. Cái thành công của anh


là việc riêng của anh. Cái thành công của tôi là việc riêng của tôi, chẳng có gì liên can đến


người ngoài, người khác cả.


Không chịu khen ngợi, không dám tức giận, thích những lời giả dối, bịa đặt, những thứ này có


thể đều do kết quả của tính "nội quan" quá trớn trong văn hóa Trung Quốc. Người Trung Quốc


dưới sự hun đúc của văn hóa Trung Quốc mang một tâm địa cực kỳ mù mờ, tăm tối. Cái tâm


địa này làm cho người ta không dám yêu, ghét, không dám biết ơn và hy sinh.


Không ai muốn hy sinh, vì hy sinh tức tạo nên sự thành công cho kẻ khác. Nghĩa là "chỉ có lợi


riêng cho một người nào đó mà không thể có lợi cho mọi người". Vì vậy không những chẳng


ai muốn hy sinh, mà còn tệ hơn nữa là tự bản thân mình không muốn hy sinh, nhưng lại muốn


người khác hy sinh cho mình.


Tôi gọi đó là cái "mặc cảm liệt sỹ".


Bao khổ nạn của người Trung Quốc đều từ cái vòng luẩn quẩn đó mà ra.


Gửi Ông Trần Văn Hòa:


Sự phân tích của ông làm tôi rất cảm phục. Đúng là nghe được một tiếng khen từ mồm người


Trung Quốc khen một người Trung Quốc khác cũng khó như đi lên trời.


Dĩ nhiên không phải hoàn toàn không có sự khen ngợi người khác nơi người Trung Quốc.


Nhưng những sự ngợi khen đó thường mang tính chính trị - không phải là lời nói thốt từ đáy


lòng. Nó là cái thứ "tình hư, ý giả". Mà thực ra không ai biết nó muốn nói gì, chẳng khác nào


đối với một con ngựa lại khen cái sừng nó đẹp.


Đa số người Trung Quốc đều sống một cuộc đời đầy tình cảm tự ty đến độ bệnh hoạn, không


làm sao có khả năng thấy được ưu điểm của người khác, càng không thể đánh giá được sự


khác biệt giữa mình và người.


Nếu một người Trung Quốc vô tình tán dương một người khác, tức thì phát sinh ngay những


tình huống sau đây:


1- Nếu người được tán dương có tý địa vị, thì sẽ nghe người ta nói: " - Sao? Lại đi bợ đít nó


à?"


2- Nếu người đó địa vị thấp kém, thì: " - Sao? Lại mua bán nhân tâm à?"


3- Người đó là họ hàng hay bè bạn của anh, sẽ có câu: " - Dĩ nhiên! Quan hệ của các anh là


đặc biệt rồi! Đương nhiên anh phải bốc thơm anh ta chứ!"


4- Người đó hoàn toàn xa lạ, tức khắc : " - Anh có biết đếch gì về người ta đâu! Nếu biết rõ


chắc anh cũng chẳng dám nói mò như thế!".


Dù thế nào đi nữa, tán dương người khác là một sự không thể chấp nhận được. Cái mà có thể


chấp nhận được là chửi bới sau lưng.


Người Trung Quốc hễ cứ tụ tập lại một nơi, nếu không ngồi lê đôi mách về chuyện người khác


thì không thể nào là con cháu của "ông vua vàng", của "rồng thiêng" được. Có câu: "Đại Hán


thiên thanh". Thiên thanh là gì? Đó là tiếng nói của người Trung Quốc khi tụ tập lại với nhau


để công kích, bới móc đến không còn một cái gì về đời tư của kẻ khác. Kỳ thực chuyện này


không nhất thiết lúc nào cũng hàm chứa ác ý nhưng là một thứ phản ứng tự nhiên của sự phát


bệnh do vi-rút Tầu.


Chắc anh phải biết ông Chó chứ ? Ông Chó mỗi lần gặp mặt một đồng loại tức thì ngửi ngửi


đít lẫn nhau. Hễ mùi xông lên tới não thì cả hai đều rất lấy làm thỏa mãn lắm. Cái động lực


đẩy người Trung Quốc tụ họp lại với nhau là cái nhu cầu phê bình kẻ khác. Một khi có người


vỗ tay bảo anh phê bình đúng, tức là đã ngửi được đít anh và lấy làm thỏa mãn về cái mùi của


anh rồi, tức là hai người đã cảm thấy đồng điệu với nhau đấy.


Nhà văn Lỗ Tấn cổ động chúng ta phải dám thương, dám ghét. Yêu và ghét là hai khả năng


mà vì lo sợ một cách bệnh hoạn thành ra người Trung Quốc đều đã đánh mất cả. Yêu thì sợ


chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Thế là yêu và ghét quện với nhau thành một thứ lực lượng


gian ác.


Chính sức mạnh này đã nổ bùng lên trong cái tai họa lớn 10 năm tại lục địa qua cái gọi là


Cách Mạng Văn Hóa. Tất cả những dã man, hung bạo, xảo trá, đố kỵ, tàn nhẫn tiềm tàng trong


nội tâm sâu thẳm, thâm nhập vào xương cốt người Trung Quốc đều đã được biểu hiện qua nó,


làm cho nhân cách người Trung Quốc càng thấp hèn.


Đừng nói đến hướng thượng, đi lên. Chỉ để khôi phục cái mức độ của những năm 30 sợ rằng


phải mất đến năm mươi năm nữa. Bởi vì xây dựng bất cứ một cái gì thường phải mất gấp năm


lần thời gian dùng để phá hoại nó.


Cứu vớt cả một dân tộc, cái trọng trách này chúng ta không thể để trong tay một vài quan chức


cầm quyền, mà mỗi người Trung Quốc chúng ta phải chia ra mà tự đảm đương.


Một quốc dân hạng ba không thể nào sinh ra được một chính phủ hạng nhất, cũng như một


chính phủ hạng ba không thể nào có được một quốc dân hạng nhất cả.


Chúng ta, anh bạn trẻ và tôi - một người đã già nua; chúng ta phải bắt đầu việc ấy. Chúng ta


không thể nào chỉ trong chốc lát mà thay xương đổi thịt. Nhưng nếu thay đổi được - dù chỉ


một tế bào - thì chúng ta cũng phải làm ngay.


Anh có nghĩ rằng việc đấy là một việc nằm trong tầm tay chúng ta không?


Trích từ "Quảng trường Thông giám"


KIÊU NGẠO HÃO


Có một số người như bị mắc cái bệnh làm cao, hễ cứ nói đến nước Mỹ thì lại lên mặt sổ toẹt:


"Văn hóa của nước Mỹ nông choẹt!" (Có người lại cho là loại văn hóa "chẳng có nền tảng


gì!"; người thì cho là "không có chiều sâu!"; đại khái là một thứ lăng nhăng không ra gì).


Văn hóa nước Mỹ có thật nông cạn không? Đó lại là một vấn đề khác. Nhưng cứ giả sử cho là


nó nông cạn đi thì chúng ta lại càng phải thấy xấu hổ, thay vì lên mặt. Chẳng khác nào chuyện


một anh chàng dòng dõi thư hương bị phá sản, áo quần rách rưới, ngồi xổm trong một ngôi


miếu đổ, sống nhờ vào cơm thừa canh cặn mà còn gào lên: "Ông nội tao làm đến tể tướng!


Còn bố nó bất quá chỉ là một tên đào cống mà thôi!".


Không những không biết tự lấy làm hổ thẹn vì sao mình lại bần cùng đến thế, lại còn dương


dương đắc ý về chuyện đối phương xuất thân bần tiện.


Cái câu này đáng lẽ phải để cho người khác nói về chúng ta mới đúng. Nhưng nếu có người


nói như vậy chắc chắn sẽ không khỏi xảy ra một vụ đấu khẩu kịch liệt. Khi tuyên bố không


khống như thế thì rõ ràng cái kiêu ngạo kia đã che lấp hết sự sáng suốt của mình rồi.


Kiêu ngạo hão chỉ là một thứ tự mãn làm cho hoa mắt - Tự mình say sưa, tự mình ý dâm, trùm


chăn lên đầu rồi nghĩ ngợi bậy bạ.


Ông Khổng Khâu thuở xưa đã phí công tìm ra bao nhiêu thứ "tích cổ" cho người sau lấy đó


làm gương sửa mình. Ngày nay đồng bào Trung Quốc không phải tốn một tý công sức nào mà


vẫn có một nước Mỹ trước mắt để có thể nhìn vào, sờ vào, tìm tòi nghiên cứu, thể nghiệm.


Không hiểu vì sao người Trung Quốc vẫn còn đem cái lòng kiêu ngạo hão của mình để chối


bỏ cái kiểu mẫu sống đó, viện cớ rằng nó là một thứ ngoại lai từ nghìn dặm?


Chúng ta cũng không thể ca ngợi nước Mỹ là một đóa hoa được. Nếu thật tình nó đẹp như một


đóa hoa thì người Mỹ đã không phải dùng đến những nhà lao. Nhưng có một điểm nhất định


có thể giúp cho chúng ta học tập, đó là lối sống của người Mỹ, một thứ vũ khí rất lợi hại để


người Mỹ chống những phê bình của các lưu học sinh đến từ bất cứ nước nào (kể cả những


người từ cái hố lưu huỳnh chui lên).


Chỉ cần hỏi một câu: "Anh thấy nước Mỹ là không được, không hay. Vậy theo anh cái phương


thức sinh hoạt của người Mỹ thì thế nào?" Nhìn một cách tổng quan ai cũng phải công nhận


nước Mỹ là một xã hội tự do dân chủ, có một nền công lý rất vững mạnh và rộng rãi.


Cái tệ hại nhất của lòng kiêu hão là tự mình xây lên cho mình một bức tường. Tự mình cô lập


mình vào trong một cái thùng chứa nước, uống nước vào phình cả bụng lên, chẳng khác nào


cái bụng phệ của Bá Dương tôi đây, phình lên đến nỗi không còn cách nhét thêm một thứ gì


nữa, cùng lắm chỉ thêm được vài khẩu súng Tây, mấy khẩu cà-nông và dăm chiếc tàu bọc


thép. Còn những thứ văn hóa ghê gớm, cơ bản hơn kia - giáo dục, nghệ thuật, lễ nghĩa, đạo lý


cá nhân, tinh thần xử thế - không những không thể nhét thêm vào mà chỉ cần nhìn đến một cái


cũng đã thấy nổi da gà lên rồi.


Thật ra để tự cứu lấy mình, chúng ta không nhất thiết cần phải noi gương nước Mỹ, nước Đức,


nước Nhật. Nhưng cũng không nên quên rằng sau Chiến tranh Thế giới Lần thứ II nước Đức


và nước Nhật đã phục hưng nhanh chóng đến độ đáng sợ. Người Trung Quốc khi tìm hiểu về


vấn đề chỉ thấy nguyên nhân của nó nào là ở Kế hoạch Marshall Lần thứ IV, nào là Chiến


tranh Hàn Quốc, nào là cơ sở công nghiệp vốn vững mạnh của hai nước này. Nghe ra dường


như tất cả chỉ là vấn đề vận may mà thôi.


Than ôi! Mọi người đều quên một điều là sau khi bại trận, hai nước này đã trở thành một thứ


quốc gia hạng ba, nhưng dân của hai nước này vẫn là loại dân hạng nhất với cả tiềm lực văn


hóa thâm hậu. Chẳng khác nào một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục


xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh đứng dậy phủi quần bước đi, vẫn đường đường là một


hảo hán.


Còn cái anh Trung Quốc bị lao phổi đến thời kỳ thứ ba kia, nhất thời đứng trên vũ đài thế giới


dương dương tự đắc, nhưng rồi một cơn gió lạnh thổi đến lập tức hắt hơi ba bốn cái thật to,


mũi dãi ròng ròng. Có người bảo uống átx-pi-rin đi, thì lại bảo người đó có tư tưởng quá


khích, làm lung lay đất nước. Kết quả giống một củ hành trồng ngược, hai người đỡ cũng


không nâng lên được.


Hễ cứ có ai nói nên bắt chước người khác là có một chút gì đó không thể nhịn nhục được - đại


trượng phu tất phải đạp đất chống trời, oanh oanh liệt liệt, làm cho những đứa nhãi ranh phải


khâm phục, ghen tị chứ ai lại đi bắt chước! Vấn đề là cái mẽ ngoài này ở đời Đường, đời Hán


thì đích thực là có. Song thời thế đã đổi thay rồi!


Cái ông phương Tây kia đã nổi lên quá mạnh, đánh không nổi, chửi cũng không thắng, thôi thì


những chuyện cũ kia cũng chỉ như mây khói. Hiện tại phương pháp duy nhất có thể làm là học


hỏi họ. Mà cũng không còn con đường nào khác.


Nếu như cứ một mực kiêu ngạo hão, giống một bà lão già lúc nào cũng giơ cái chân bị bó vừa


kinh vừa thối của mình lên khoe nào là bó đẹp, bó khéo, thì không tránh được sẽ đi vào cái


ngõ của sự diệt vong. Kiêu ngạo hão làm chúng ta có cảm tưởng hão huyền là người Trung


Quốc không thể nào bị diệt vong, vin vào cớ dân tộc Trung Quốc có thừa sức đồng hóa. Bằng


chứng là chúng ta đã hai lần bị mất nước rồi, một lần về tay Mông Cổ và lần thứ hai về tay


Mãn Châu. Nhưng kết quả chẳng qua chỉ như một con diều đảo cánh, kẻ xâm lược chả đã cúp


đuôi bỏ chạy rồi ư? Đối với Mãn Châu còn tệ hại hơn, nghĩa là chẳng còn đường nào mà cúp


đuôi chạy nữa!


Cái lý luận và bằng chứng này tuy làm chúng ta càng tự tin hơn, nhưng chúng hoàn toàn


không thể bảo đảm rằng trong tương lai chúng ta sẽ không còn có thể bị mất nước nữa.


Có một điều cần chú ý là bất kể một quốc gia, dù lớn thế nào chăng nữa, lúc chưa bị diệt vong


vẫn nghĩ mình sẽ không bao giờ bị diệt vong. Mà một dân tộc trước khi bị tuyệt chủng, dĩ


nhiên cũng là một dân tộc chưa bao giờ bị tuyệt chủng. Song, nếu cuối cùng chẳng may bị diệt


vong, ắt cuối cùng cũng bị tuyệt chủng.


Cái kiêu ngạo hão kia chỉ che lấp tầm nhìn, mê hoặc con tim, làm cho không thấy được những


nguy cơ ở bên trong cũng như bên ngoài. Lúc nguy cơ đến thật thì chỉ có đám dân đen và con


cháu sau này lại phải khóc mà thôi.


Khi đến Peloponnese (Pê-lo-pô-ne-dơ), người Hy-lạp còn ở trong tình trạng ăn lông ở lỗ, đít


còn đóng khố, thì dân ở đảo Crê-tơ (Crète) đã có một nền văn minh xán lạn huy hoàng, không


chỉ biết luyện thép mà còn có những thành tựu kỹ thuật cao độ khác. Nhưng sau đó, chỉ trong


một khoảng thời gian 200 năm, người Crê-tơ đã bị người Hy-lạp chinh phục đến không còn


dấu vết gì cả.


Năm nghìn năm trước ở Nam Mỹ đã có những cung điện của đế quốc In-ca, hiện tại vẫn còn


tìm thấy di tích trong vùng núi hoang của Pê-ru. Chỉ cần căn cứ vào các kiến trúc tráng lệ đó


chúng ta cũng đủ thấy trình độ văn hóa của họ cao như thế nào (Vào lúc người In-ca xây


những lâu đài này thì người Trung Quốc chúng ta còn là một dân tộc dã man ăn lông ở lỗ).


Nhưng bây giờ người In-ca ở đâu?


Bá Dương, người viết những điều này, không phải là kẻ chuyên môn đi làm mất tinh thần


người khác. Nhưng chúng ta cần thấy rõ rằng cạnh tranh là một thứ rất vô tình. Ông trời kia


không thể vì anh Trung Quốc có 5.000 năm văn hóa mà phái thiên binh xuống bảo hộ như


Đường Tăng được.


Vì vậy nhân lúc còn đang sống trên thế gian này, chúng ta cần phải cấp tốc rèn luyện, làm sao


nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột, ăn vào được những thứ có chất dinh dưỡng


tốt. Hiện tại chúng ta thương tiếc những quốc gia đã bị tiêu vong trong lịch sử, những dân tộc


đã bị tuyệt chủng, nhưng đừng hy vọng trong tương lai hậu thế sẽ lại thương xót chúng ta như


vậy.


Có thể tóm lại trong một câu như thế này chăng: "Đừng để cho người đời sau lại bị người đời


sau nữa khóc".


Trích từ tập " Đập tan hũ tương "


NOI GƯƠNG TÂY PHƯƠNG NHƯNG KHÔNG LÀM NÔ LỆ


Trong "Truyện Phong thần", một thứ Iliad (I-li-át) của Trung Quốc, thì thần tiên như mây, yêu


quái như mưa, tuy rằng rốt cục đều quy về chuyện tà không thể thắng chính, nhưng trong quá


trình hai bên đấu với nhau có những màn rất gay cấn, rất oanh liệt.


Trong số thần thánh của "Truyện Phong thần", lợi hại nhất phải kể tới Ân Giao với cái Phiên


Thiên Ấn - một loại bửu bối vô địch thiên hạ. Chỉ cần ông ta niệm thần chú rồi hô lên một


tiếng tức thì cái vũ khí ấy bay vút lên không. Lúc nó hạ xuống, đừng nói đến xương thịt con


người, ngay cả ngọn núi Hy-ma-la-ya kia cũng có thể bị bửa làm đôi.


 


Dịch giả: Nguyễn Hồi Thủ 69/116


Phải kể đến cái hay nữa của nó là chính ngay Quảng Thành Tử, sư phụ của Ân Giao, cũng


không có cách nào chống cự được vũ khí này, nên khi thấy học trò mình trở mặt, trắng trợn


vứt bửu bối ấy lên, thì cũng bay hồn bạt vía, vội vàng tháo chạy.


Bá Dương tôi đang lúc được yên thân, bỗng nhiên cũng bị cái vũ khí vô địch này giáng xuống,


nhưng vì thời đại đã đổi thay, bây giờ vì hiện đại hóa nên Phiên Thiên Ấn không còn gọi là


Phiên Thiên Ấn nữa mà đổi tên đổi họ, gọi là "Sùng dương, mị ngoại" (Tôn sùng Tây phương,


nịnh nọt nước ngoài). Chỉ cần bị ông Ân Giao hiện đại giáng cho một câu "Sùng dương, mị


ngoại" này thì so với cái "Phiên Thiên Ấn" 3.000 năm về trước còn nặng hơn cả nghìn cân.


Ở Los Angeles, lúc tôi đang nói chuyện trong buổi hội thảo, bỗng có thính giả chuyển đến một


tờ giấy, trên ấy viết thế này: "Lão già kia! Không ngờ nhà ngươi lại thờ Tây, nịnh ngoại như


vậy, cứ nhất thiết cho rằng nước Mỹ là hoàn mỹ, nhưng thực ra nước Mỹ lại không phải hoàn


mỹ như ngươi tưởng đâu!".


Sau đó ít lâu, một tờ báo ở Los Angeles tên là "Nam Hoa thời báo" có đăng một bài của Đạc


Dân tiên sinh với đoạn viết thế này:


"Phải kịch liệt phê bình cái quan niệm "Thờ Tây nịnh ngoại". Ông Bá Dương cũng giống như


bao nhiêu người Trung Quốc khác, lúc vừa mới đặt chân đến đất Mỹ, bị lầm lạc giữa những


biểu tượng xã hội tốt đẹp của nó, bỗng thấy xấu hổ vì cái nhơ bẩn của mình đâm ra có mặc


cảm tự ti. Ví thử ông Bá Dương cứ ở đây thêm vài ba năm nữa, tôi tin rằng cái quan niệm của


ông ấy về Mỹ tất chẳng còn giống như bây giờ".


Cái vũ khí ghê gớm "Thờ Tây, nịnh ngoại" này đại khái đã được hình thành trong những năm


40 của thế kỷ thứ XIX sau Chiến Tranh Nha Phiến (1840) để hại người đời. Muốn hiểu rõ nội


dung của nó ta có thể đọc những lời mạt sát sau đây của một ông bạn già người Trung Quốc: -


"Những kẻ "Sùng dương, mị ngoại" như các người [một cách nói rất khách sáo đấy, còn không


sẽ thẳng thừng gọi là Hán gian, bồi Tây (dương nô), đồ bán nước (mãi quốc tặc) - BD]. Trăm


câu nghìn chữ nói gì đi nữa chẳng qua cũng chỉ để ca ngợi rằng nước Mỹ là tốt đẹp. Nếu nói


các nhà khoa học Mỹ giỏi, cái đó có thể cho là đúng, còn lại đi bảo là văn hóa Mỹ hay hơn văn


hóa Trung Quốc thì không ai ngửi được. Ai dám nói rằng chúng ta lại phải đi học làm người


theo kiểu Mỹ?"


Cái cách nói này không phải chỉ riêng của ông bạn già đó mà còn là giọng điệu của quá nhiều


người Trung Quốc khác, quá nhiều đến độ nó làm cho huyết áp của tôi tăng lên ghê gớm!


Sự kiện này đưa ra ánh sáng một vấn đề rất quan trọng: Có một số người hay đem hai sự kiện


hoàn toàn khác nhau, hai hành vi không liên hệ nhân quả gì với nhau mà dán dính vào nhau;


không dùng đầu não nhưng dùng nước bọt để dán, đúng là những kỹ thuật viên cao cấp!


"Thờ Tây" và "nịnh ngoại" là hai thứ cách nhau cả mười vạn tám nghìn dặm, chẳng có gì dính


dáng với nhau, nhưng nếu một khi đem dán dính vào với nhau, chúng có thể dùng làm công cụ


để "đánh vỡ đầu" và có thể "tặng thêm" cho vô số những tai họa khác.


Thật ra kẻ bị tổn thương nhất trong chuyện này không phải là những kẻ bị chửi là "thờ tây,


nịnh ngoại", mà chính là những kẻ vì sợ bị gọi là nịnh ngoại nên không dám "thờ Tây", nghĩa


là không dám nhận rằng mình tán thưởng những điều hay của Tây phương. Tôi không bảo


không có những người đích thực là "Sùng dương, mị ngoại". Cái loại động vật này nhiều


không biết bao nhiêu rổ đựng cho hết. Nhưng tôi chỉ muốn nói rằng còn có rất nhiều bạn bè


khác tuy là "thờ Tây" nhưng không "nịnh ngoại" tý nào.


Tại hội trường ở Los Angeles hôm đó, trong chốc lát, vì quá căng thẳng mà tôi quên mất cái


thân phận làm khách của mình đi, mới bộc lộ chân tướng bằng những câu hỏi sau đây đối với


thân hào nhân sĩ trong buổi họp:


Các vị hôm nay đến đây bằng gì? Bằng xe ô-tô hay xe cút-kít? Nếu dùng xe ô-tô tức là thờ


Tây rồi đó. Tại sao trên đầu các vị không tết đuôi sam, hoặc vấn tóc lên đỉnh đầu mà lại rẽ


ngôi bên phải, bên trái? Rẽ ngôi như thế chẳng phải là thờ Tây à? Tại sao các bà không bó


chân đi rón ra rón rén mà lại đi giầy cao gót? Không bó chân mà đi giầy cao gót là thờ Tây rồi.


Tại sao đàn ông không mặc áo thụng, áo cánh, áo lương tay rộng mà lại mặc âu phục? Mặc âu


phục tức là thờ Tây vậy. Sao, các vị không hút thuốc lào (điếu nước) mà lại hút thuốc lá thơm?


Hút thuốc lá cũng là thờ Tây. Sao các người không nấu cơm bằng than, củi, rơm và thổi lửa để


nhóm bếp mà lại dùng lò điện, bếp ga? Lò điện, bếp ga cũng là thờ Tây. Sao các người không


ngủ trên cái kháng (một loại giường xây bằng gạch hoặc đất, ở dưới có bếp lửa vừa để nấu ăn


vừa sưởi ấm vào mùa đông ở miền Bắc Trung Quốc ) mà lại ngủ trên giường nệm, giường lò


xo? Ngủ trên giường lò-xo, giường nệm không phải là thờ Tây hay sao? Tại sao khi các người


gặp sếp của các người, các người không quì mọp, đập đầu xuống đất cho kêu lên binh binh,


mà lại chỉ bắt tay nói "Hai!" [Hi]? Bắt tay rồi chào "Hai!" không phải thờ Tây là gì? Tại sao


các người không thắp đèn dầu để đọc sách thay vì dùng đèn điện? Dùng đèn điện cũng là thờ


Tây đấy. Vì sao lúc gửi thư lại không nhờ bạn bè đi đưa hộ mà lại dán tem bỏ vào thùng thư?


Dán tem và bỏ thư vào thùng không phải là thờ Tây à? Tại sao các người không đi xem chiếu


bóng ảnh bằng da lừa, mà lại đi xem xi-nê? Xem xi-nê không phải thờ Tây là gì? Tại sao các


người không gân cổ lên mà kêu gọi, la hét thay vì đi gọi điện thoại? Gọi điện tức là thờ Tây


chứ còn gì nữa. Tuy nhiên tôi không tin rằng tất cả các ông, các bà lại đi nịnh ngoại.


Sau đó, lúc trở về Đài Loan, tôi càng cảm thấy nặng nề như đeo một quả cân, cảm thấy sự việc


cần được làm sáng tỏ để cho lòng được thanh thản. Cuộc duyệt binh lớn ngày Quốc khánh Đài


Loan (mồng 10 tháng 10) vừa qua, chắc vẫn còn trong ký ức các vị những hình ảnh nóng hổi,


nào súng tây, pháo tây, trống tây, kèn tây, dao tây, kiếm tây, dàn nhạc tây. Những thứ ấy phải


chăng đều là những sản phẩm thờ Tây, nhưng có phải chăng vì thế đều là nịnh Tây hết? Từ


những thứ đi trên mặt đất cho đến những thứ bay trên không trung đều là những sản vật thờ


Tây. Có thể nào nghi rằng vì có một sự cấu kết, nịnh bợ nước ngoài nào đó chăng?


Nhìn vào bên trong một gia đình, hiện tượng trên đúng là càng trầm trọng hơn. Tất cả những


người viết văn viết báo, viết thư nặc danh để chửi tôi là kẻ làm hại đến tình cảm tốt giữa "nhân


dân" và "nhà nước" thường vẫn dùng bút nguyên tử, bút máy, mà không dùng bút lông. Dùng


bút nguyên tử, bút máy, rồi đánh máy, sao chụp, những người này nỗ lực thờ Tây thế có nịnh


ngoại không ?


Trong phòng khách, phòng làm việc, các công sở toàn thấy những ghế sô-pha, ghế bành mà


không thấy dùng trường kỷ. Tuần trước tôi đến thăm một người bạn. Anh ta chỉ mặt tôi quát


bảo: "Đồ thờ Tây, nịnh ngoại!". Tôi bị quát thành thử mới điên lên, tìm được một cái búa đã


định đập cho tan nát cái nhà xí bệt ở nhà anh ta. Vợ anh ta ra năn nỉ, tôi cũng cóc cần, tôi thề


không đội trời chung với cái loại nhà xí bệt giật nước "thờ Tây, nịnh ngoại" này.


Tôi mà đập xong cái nhà xí thì thế nào cũng sẽ đập tiếp đến cái vô tuyến, cái đài, cái tủ lạnh,


bếp ga, điện thoại, đèn điện,.v.v...Cuối cùng, cô con gái của anh ta - nữ sinh tốt nghiệp đại


học, bị trúng độc thờ Tây rất nặng, chẳng còn biết kính lão, tôn hiền, cũng không biết gì là lễ


nghĩa - bèn gọi cảnh sát đến để đuổi tôi ra khỏi nhà. Thế là chấm dứt cuộc xung đột đó. Nếu


không, với cái búa của tôi, mà họ lại ở tầng 12, cả gia đình họ chưa chắc còn chỗ để đặt đít


ngồi.


Sau đó suy nghĩ mãi, tôi cũng không thể nào hiểu được tại sao con gái anh ta lại có thể hành


động như một kẻ nịnh ngoại kiểu đó được. Than ô ! Không thể tưởng tượng nếu thượng đế nổi


trận lôi đình, tịch thu tất cả những thứ mà người Trung Quốc tích lũy từ ngày thờ Tây đến giờ,


không biết sẽ còn lại được gì?


Anh bạn tôi với cái Phiên Thiên Ấn chắc chắn sẽ nói: "Ai bảo chúng ta để làm người, để xử


thế lại phải đi học Tây phương?"


Ái dà! Anh này đúng là dớ dẩn, thế mà còn phải hỏi! Về mặt làm người, xử thế đương nhiên


lại càng phải thờ Tây, học những cái ưu điểm của họ chứ, nhưng như thế không có nghĩa là


phải đi nịnh họ.


Về phương diện chính trị, chúng ta lại không phải đã thờ Tây đến ngập đầu rồi hay sao? Đầu


tiên chúng ta đã vứt cái hệ thống vua quan từ 5.000 năm để nhất quyết học theo lối bỏ phiếu


bầu cử của họ. Tiếp theo là đã cho cái truyền thống phong kiến một cái đá đít để học theo con


đường chính trị dân chủ.


Về chế độ kinh tế, chúng ta cũng đã bỏ cái 5.000 năm trọng nông khinh thương, học theo


người Tây phương trọng công nghiệp và buôn bán. Như vậy là đã vứt đi cái nhân sinh quan


5.000 năm xem việc làm quan là con đường tiến thủ duy nhất để học người Tây phương cái


kết cấu xã hội nhiều tầng lớp rồi còn gì.


Về mặt văn hóa, tất cả những công cụ truyền bá đại chúng, kể cả báo chí, vô tuyến; tất cả các


nghệ thuật, sáng tác, kể cả tiểu thuyết, thơ, kịch nói, hội họa, âm nhạc có cái nào mà không bắt


chước Tây phương đến chóng cả mặt? Nhưng tất cả những thứ này có làm cho cả nước trên


dưới đều thành những kẻ nịnh hay vọng ngoại không?


Cái Phiên Thiên Ấn "Sùng dương, mị ngoại" này đem dùng cho con người, chỉ là một sự sai


lầm về ngữ nghĩa học, thật không thể nào hiểu và phân tích nó được.


Ông Đạc Dân bảo: "Nếu tôi ở lại Mỹ thêm vài ba năm nữa, cái lòng tin của tôi chắc chắn sẽ


không còn như thế nữa". Đó là một điều có thể có mà cũng có thể không.


Nếu chúng ta mong mỏi vũ khí của Trung Quốc được tinh vi hơn, tất nhiên cần phải học hỏi


phương Tây. Nếu chúng ta mong mỏi việc quản lý công thương nghiệp được hiệu quả hơn,


cũng phải học phương Tây. Nếu chúng ta muốn xã hội Trung Quốc được văn minh hơn, tất


phải học cái cách nói "xin lỗi", "cảm ơn" của người phương Tây. Nếu chúng ta muốn người


Trung Quốc xếp hàng, tôn trọng chỗ qua đường của bộ hành, đi qua cửa lò xo biết từ từ thả


cửa ra thì chúng ta phải học tập người phương Tây.


(còn tiếp)


Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.


trieuxuan.info