Ký
24.11.2016
Lê Văn Thảo
Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm (4. Tiếp và hết)



Sáng hôm sau, chúng tôi nấu nướng, ăn uống xong rồi các anh đưa tôi về Ban chỉ huy. Một người ngồi trên chiếc ghế đẩu nhờ một người lính hớt tóc. Đó là anh Mười Xưởng, tiểu đoàn trưởng. Tôi được giới thiệu với anh Tư Ấp, chính trị viên tiểu đoàn, chưa nói chuyện được gì một trái pháo nổ ầm trên đầu, một miểng pháo phạt đứt chiếc chân ghế đẩu anh Mười Xưởng đang ngồi, khiến anh té nhào. Anh ngồi dậy quát tháo: “Đã nói rồi, mấy đứa điện đài cứ hay chọc phá, chúng dò được tầng số bắn trúng thấy không?”. Tôi báo với anh Tư Ấp chuyện về tôi, nói tôi muốn theo tiểu đoàn viết phóng sự. Anh Mười Xưởng tiếp tục hớt tóc, nói sang: “Hay lắm. Mai tôi đi rồi, có công tác đặc biệt, anh với anh Tư lo việc tiểu đoàn”. Anh Mười Xưởng tưởng tôi ở cơ quan cấp trên là cán bộ chỉ huy. Đúng ra tôi còn chưa được là người lính nhưng tôi không nói gì, anh Tư Ấp cũng gật đầu đồng ý.


Đó là lần đầu tiên cũng là cuối cùng tôi gặp anh Mười Xưởng. Sáng hôm sau anh đi mất, không biết công tác đặc biệt gì. Năm sau, 1969 tôi nghe tin anh hy sinh, được phong anh hùng, cũng không biết với công trạng gì. Nhưng tôi cũng tự hào đã quen biết anh, dù chỉ trong vài giờ ngắn ngủi, nhưng đã nghe danh anh nổi tiếng con người can trường, dũng cảm.


Tôi bắt đầu ở chung thời gian dài với anh Tư Ấp ở tiểu đoàn 1, trong chiến dịch đánh vào thành phố. Thời gian ở đây, nói như nhà thơ Chế Lan Viên “Thời gian trôi đi như chảy máu”, hoặc như Nguyễn Văn Bổng nhại vui theo câu Kiều “Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”. Một ngày ở đây bằng ba năm ở chỗ khác.


Các trận đánh thường ngày là như thế này: buổi sáng trời nắng lên một chút trực thăng đổ quân, tụi cá lẹp (trực thăng chiến đấu) quần đảo, xả súng bắn, phóng lửa đốt nhà, bộ binh địch từ ngoài đồng trống bắn áp vào. Chúng tôi cố thủ trong những bờ đất, ven lá dừa nước, các rặng tre nổ súng đánh trả. Trận đánh lúc rộ lên, lúc thưa thớt, dai dẳng, xế chiều nghỉ một chút, tối đến chúng thả pháo sang đánh tiếp, có khi tới giữa đêm. Quân Mỹ làm việc theo giờ hành chánh, và làm thông tầm.


Cú đánh vỗ mặt hôm mùng Một Tết khiến thằng địch hoàn toàn bị bất ngờ, choáng váng, chúng đã định bỏ Sài Gòn chạy ra cố thủ ở Vũng Tàu. Sau lúc hoàn hồn, chúng gần như bỏ rỗng thành phố, tổ chức đánh chặn bên ngoài, và chúng đã tính đúng. Tôi có lần vào tới đường Hậu Giang ở quận 5, suốt đoạn đường dài chỉ thấy nhà cửa im ỉm, không thấy bóng dáng lính tráng gì cả. Nhưng ngoài vùng ven thì trực thăng, bộ binh dày đặc. Như tôi đã nói, bất ngờ với địch cũng bất ngờ với ta. Nhiều đơn vị ta không kịp chuẩn bị gì cả. Sau đợt nổ súng ban đầu, ta bắt đầu gặp khó khăn về đạn dược, tiếp tế không tới được, quân tiếp viện cũng không đến, lực lượng biệt động chiến đấu đơn độc, bị tiêu hao 80%, một số đơn vị chiến đấu hy sinh đến người cuối cùng, cơ sở nội thành bị lộ và tổn thất nặng, lương thực cất giấu bí mật đã hết. Trong lúc đó, các sư đoàn chủ lực miền Đông còn mãi trên rừng xa. Rất nhiều chuyện bất trắc khác. Trận đó ta đưa vào sử dụng loại tên lửa cầm tay H12 do Liên Xô viện trợ, trái đạn phải có bệ phóng, nhưng người vác trái đạn tới nơi người vác bệ phóng không thấy đâu hoặc ngược lại. Mấy năm trước, tôi có sang Nga, gặp một vị đại tá chuyên chuyển vũ khí H12 cho ta, tôi có nói vui chúng tôi tiếc không sử dụng được công lao của anh.


Tôi không biết kế hoạch cấp trên thế nào, được phổ biến xuống dưới chúng tôi là phải đánh dứt điểm, thần tốc, tạo thế nhân dân khởi nghĩa, giải quyết mọi chuyện trong hăm bốn tiếng đồng hồ. Không hề nghĩ đến chuyện trường hợp phải rút lui, củng cố lực lượng. Từng ngày trôi qua khiến chúng tôi thấy nôn nóng, có cái gì đó không đúng như đã được phổ biến. Trong lúc lực lượng cứ hao hụt dần, vẫn cứ phải tổ chức đánh vào, bị đánh thối trở ra lại tiếp tục đánh vào.


Trước đó và sau này, tôi chưa khi nào dự những trận “đánh gần” như thế. Chúng tôi ở trong một ngôi nhà vắng chủ, bom pháo trốc hết mái. Đám lính ngoài ruộng, bám lấy những bờ đất. Đôi bên nổ súng vào nhau, đạn rà sát. Một chiếc trực thăng sà tới, bụng gần chạm mái nhà, tôi nhìn thấy thằng Mỹ thò tay rút chốt trái lựu đạn thảy xuống mái nhà, thấy rõ cánh tay lông lá, chiếc đồng hồ ở cổ tay. Với khoảng cách chừng vài sải tay như thế, có khẩu tiểu liên trong tay tôi không thể nào bắn trật.


Một lần khác cũng giống như thế, không trực thăng, không đạn bộ binh, chỉ có pháo dập liên hồi, vào đúng ngay “địa hình”, tức những khóm cây, chúng biết chúng tôi núp trong đó. Không thể chịu nổi, một tổ chúng tôi bàn nhau đội rơm chạy ra núp ngoài đồng trống, pháo không bắn ngoài đó. Quả là chúng tôi được yên một lúc, nhưng rồi bỗng nghe ầm ầm, một đám trực thăng đổ quân sà xuống trút ngay một đám lính cạnh chỗ chúng tôi, từng tên lính nhảy ton xuống từ chiếc trực thăng đậu lưng chừng, quạt cánh vù vù. Chúng tôi hoảng hồn vía đội rơm tốc chạy trở vô, gần như cùng với đám lính. Nhưng có lẽ trong cơn hoảng loạn, cũng không ngờ có chuyện kỳ cục như thế, đám lính không nhìn thấy chúng tôi. Sau này tôi kể lại chuyện đó trong cơ quan, không ai tin đó là chuyện thật.


Không thiếu những chuyện khó tin như vậy trong chiến dịch Tết Mậu Thân ta đánh vào Sài Gòn.


Một lần đánh sâu vào trong nội thành, không có bản đồ, người tiểu đoàn trưởng phải dùng bản đồ xé ra từ trong quyển sổ tay của học trò, không lớn hơn bàn tay. Rồi nghĩ cách khác, tìm bắt được hai người cảnh sát công lộ của chính quyền Sài Gòn, bắt họ dẫn đường đi. Cảnh sát công lộ thì thông thạo đường sá rồi, nhưng ngặt nỗi họ không phải là quân giải phóng, đi đầu hứng đạn. Được vài ngày hai người cảnh sát công lộ gặp người tiểu đoàn trưởng thưa rằng họ “vừa” rồi, cho họ về với vợ con. Người tiểu đoàn trưởng nói: “Tôi đi làm cách mạng hai mươi năm rồi còn chưa “vừa”, mấy anh mới mấy ngày “vừa” cái gì?”. Anh tiểu đoàn trưởng nói liều, hai chuyện đâu có dính líu gì với nhau.


Có một tốp chiến sĩ bị lạc, không tìm được đơn vị cũng không tìm được đường ra ngoài. Thường trong trường hợp như vậy xé ra từng người dễ đi hơn, nhưng có người bị thương, họ muốn đi chung hỗ trợ nhau. Họ đi ban đêm, ban ngày tìm nơi nào đó ẩn náu. Một buổi, trời vừa rạng sáng, nhìn thấy một nhà hé mở cửa họ liền chen đi vào. Nhà chỉ có hai ông bà già. Họ nói thật, họ là quân giải phóng, nhờ được giúp đỡ. Hai ông bà đồng ý, thậm chí còn tìm được bác sĩ tín cẩn điều trị cho người bị thương. Nhưng họ không thể đi tiếp nếu để tóc tai bờm xờm, thuở ấy Sài Gòn chưa có mốt tóc dài. Vợ chồng chủ không tìm được người hớt tóc tín cẩn, do đó họ đã bị lộ. Mấy bữa sau cảnh sát địch ập vào, họ kịp trốn dưới nhà hầm, nghe chủ nhà bị tra khảo, bị dẫn đi. Sau đó họ thoát đi, không biết số phận hai ông bà già như thế nào.


Một người trong tốp chiến sĩ ấy kể tôi nghe chuyện đó. Sau đó, các anh đi xé lẻ, chính anh cho tới lúc đó không biết các bạn mình như thế nào.


Sài Gòn cũng như rừng, chuyện bị lạc như vậy rất nhiều. Có một người tên Út Mười Hai kể chuyện đi lạc của mình, ly kỳ như chuyện phim. Anh bị lạc, không biết phương hướng gì cả, thay vì đi ra ngoài theo hướng Tây, anh lại đi ngược vào hướng trung tâm. Thấy phố xá sang trọng, yên tĩnh, anh biết mình đã bị lạc. Nắn lại tiền trong túi, anh đi vào một quán. Xin mở ngoặc, thời ấy quân giải phóng không có sắc phục riêng, ăn bận như mọi người, người Sài Gòn cũng không mấy quan tâm tới chuyện ăn bận của người khác. Anh chọn một bàn ở một góc vắng uống ly cà phê, quan sát mọi người. Đang có chiến sự, dân chúng ở nhà, đa số khách trong quán là binh sĩ sĩ quan. Anh để ý thấy có một sĩ quan ngồi một mình như anh, trông âu sầu, buồn bã. Anh quyết định tới làm quen, nghĩ có thể có cách nhờ vả. Hai người chuyện trò tâm đầu ý hợp, anh sĩ quan còn mời anh về chơi nhà. Anh sĩ quan ở nhà một mình, gia đình đã tản cư. Hai người tổ chức ăn uống nhậu nhẹt, càng thân thiết hơn. Giữa đêm, đang ngủ chung anh làm một cú quyết định, đánh thức người sĩ quan dậy nói sự thật, rằng anh là “Việt Cộng”, nhờ đưa ra ngoài. Anh sĩ quan suy nghĩ một lúc rồi đồng ý, vì lẽ gì không biết. Vì tình bạn ngẫu nhiên kỳ lạ, tính thích phiêu lưu, hoặc anh ta cũng có cảm tình với cách mạng hoặc tất cả những cái đó cộng lại. Sáng hôm sau, anh sĩ quan tìm được chiếc xe Jeep tự lái theo lộ Bốn đưa anh chiến sĩ ra ngoài, thả xuống mạn Gò Đen, anh ta biết có quân giải phóng trong đó. Quay xe rồi, anh ta còn dừng lại vẫy tay một lúc.


Tôi cũng có nghe một chuyện kỳ lạ về một toán chiến sĩ bị lạc, đi luồn dưới đường cống nhiều ngày, ăn toàn vỏ chuối và rau củ un thối, trồi ra một đoạn sông nào đó không biết chỗ nào.


Từ hồi còn ở Sài Gòn, tôi đã ngạc nhiên về tính chai lỳ với bom đạn của người dân ở đây. Năm 61, đảo chánh Ngô Đình Diệm không thành, đôi bên bắn nhau ở Dinh Độc Lập, người dân bu ra coi, có người chết kẹt đầu còn thò vào chấn song bờ rào. Ở một chỗ khác, người ta leo lên cột điện nhìn vào, có người bị trúng đạn rớt xuống, lát sau lại thấy có người khác leo lên. Không thể gọi đó là dũng cảm. Và người Sài Gòn quen bom đạn hồi nào, chẳng lẽ điều đó có tính chất di truyền?


Trong chiến dịch này cũng có chuyện như vậy. Một quán ăn khách khứa tấp nập, một trái pháo nổ rầm trên nóc nhà, có người chết, người bị thương. Vậy rồi lát sau quán vẫn tấp nập.


Trên tôi có kể lúc đội biệt động số 4, cụm 1, đánh vào Đài phát thanh, chỉ trong ba phút đã chiếm được đài, nhưng nhân viên kỹ thuật và bộ phận chính trị phụ trách phát thanh bị chặn ở Phú Thọ Hòa, công việc tuyên truyền gây tiếng vang bị phá sản. Chính một người của Đài phát thanh giải phóng cầm chiếc băng ghi lời hiệu triệu của Mặt trân dân tộc Giải phóng đang ở trong quán đó, không kịp đến Đài phát thanh trao chiếc băng.


Trong một lần đánh sâu vào trong Sài Gòn, một đêm chúng tôi đóng quân ở một dãy phố sang trọng, Ban chỉ huy đại đội đóng ở một căn phố cao ba từng. Vùng chiến sự, dân chúng tản cư đi hết, nhưng đêm đến, bỗng thấy một phòng trên lầu sáng đèn. Đại đội trưởng cho lên coi thế nào, được báo đúng là có người, cô gái con chủ nhà, vì lý do nào đó không kịp tản cư. Chuyện chỉ vậy thôi, một cô gái ở trong nhà mình, không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nhiều ngày sau tôi vẫn nghĩ về cô gái, vẫn thấy có cái gì đó bí ẩn. Sao cô không đi tản cư? Muốn thử thách lòng can đảm, hoặc tò mò muốn biết Việt Cộng “người rừng” như thế nào. Tôi có viết một truyện ngắn về chuyện đó. Cô gái không là mật vụ chỉ điểm, điệp viên quốc tế hai mang, cô chỉ là người dân bình thường, việc cô ở lại là chuyện riêng của cô: cô giấu người tình dưới nhà hầm, chúng tôi tình cờ đánh vào, cô phải ở lại với anh ta. Không có chuyện “địch ta” ở đây. Hầu hết “người Sài Gòn” đều là những người bình thường như thế.


Người Sài Gòn còn như thế này nữa. Một bữa, chúng tôi phục kích gần cầu chữ Y, cạnh bờ sông, bên kia là quân địch, suốt mấy ngày đôi bên nổ súng vào nhau. Vậy rồi, một hôm nhìn sang chúng tôi thấy một đám cưới đi ngang, đủ lễ bộ nhang đèn, mâm quả.


Nhớ đến trận Mậu Thân là tôi nhớ đến Nguyễn Thi, tuy tôi không đi cùng cánh với anh, chỉ nghe kể lại. Nhưng ký ức về trận đánh luôn có hình ảnh Nguyễn Thi, anh là nhà văn tài năng, cái chết của anh hào hùng. Sinh thời anh là người “im lặng”, nhưng thời gian trôi qua cuộc đời anh nói lên nhiều điều.


Theo ghi chép của nhà văn Thanh Giang, Nguyễn Thi theo một đơn vị thuộc Đoàn 10 của phân khu 2 đánh vào mạn đường Hậu Giang và đường Hùng Vương, thuộc quận 6 và quận 11, đánh vào đường Minh Phụng. Ngày 9-5, đơn vị bị đánh lùi ra đến Vườn Lài, độ 9 giờ tối, đụng một đoàn xe tăng phục kích xả súng bắn, cùng với các bốt gác gần đó, lính truy kích bắn đuổi theo. Bỗng mọi người nghe tiếng hô: “Ở lại tổ chức chiến đấu, sao chạy như vịt vậy?”. Đó là “anh Bảy”, tên gọi Nguyễn Thi trong chiến khu. Chính anh sau đó lo tổ chức mọi chuyện, bố trí các mũi chiến đấu, chuyện hậu cần ăn uống, cắt đặt công việc người này, người kia. Anh vào nhà dân xin được nồi cơm nguội, mọi người ăn không hết đòi đem trả, anh nói: “Đừng, mình còn chịu đựng thằng địch cả ngày”. Hai cô gái biệt động đến giao trả hai khẩu súng để cải trang vào bên trong, mọi người không nhận, anh nói: “Nhận đi, súng chiến đấu không dư đâu”. Rồi chính anh cầm lấy một khẩu. Anh là nhà văn, nhưng lúc đó anh là người lính thực thụ.


Và đây là hình ảnh cuối cùng của Nguyễn Thi: “Anh cùng chiến đấu với đơn vị cả ngày tại một vuông tre, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch đông gấp bội… Một trái hỏa tiễn trúng ngay hầm anh, một miểng đạn xuyên qua phổi, anh thở phều phào, sủi bọt máu, thều thào chỉ tay lên chiếc bồng, không biết nói gì. Tôi lên đạn khẩu AK từ tay anh, đặt ngón trỏ của anh vào vòng cò súng, nói tụi tôi rút đi, là những người cuối cùng, xuất hiện trước mặt anh sắp tới là kẻ địch, anh cứ nổ súng. Rồi quân địch tràn vào, tôi chỉ kịp mang bồng chạy đi…”  (nguồn trích).


*


Nói đến trận tổng tấn công năm 68, không nói đến dân là một thiếu sót lớn. Đối với chúng tôi, đó là dân vùng ven thành phố mạn Tây Nam, suốt mấy tháng trời chúng tôi quần đảo ở đó. Đó là một vùng đồng ruộng xen kẽ những ven lá dừa nước, những khóm tre, vườn cây ăn trái, đất nhiễm mặn cằn cỗi. Những khóm cây ấy dân chúng gọi là “địa hình”, nơi quân giải phóng, dân quân du kích bám trụ đánh trả quân địch thường đổ quân ngoài đồng trống đánh vào.


Quân Mỹ bắt đầu đánh chặn, vùng ven thành chiến trường chính, bom pháo, bộ binh địch tập trung vào đó, đánh từ sáng sớm đến chiều tối, nghỉ một chập rồi pháo sáng giăng lên, đánh tới giữa đêm. Sau lúc thoát chết, quân Mỹ đánh như điên cuồng. Tiểu đoàn chúng tôi đánh trả, quân số hao hụt, đạn dược thiếu, ăn ngủ tạm bợ, đúng ra không biết có ăn ngủ hay không. Ai nấy đều gầy sọp đi, quần áo rách bươm. Tôi chỉ có bộ quần áo bận trong mình, lâu lâu giặt phơi chiếc áo rồi bận vào. Anh Tư Ấp ưu tư ra mặt, không thấy đùa giỡn nữa, nói chuyện cũng ít đi. Tôi ở cạnh anh suốt ngày đêm, anh chỉ nói nhát gừng mấy câu. Một bữa, bom đạn tạm thời lắng xuống, quân Mỹ có lẽ cũng mệt đứt hơi, anh kêu tôi cùng sang chỗ ông Tư Thân. Hai chúng tôi và một tổ bảo vệ ba người ra đi từ chập tối, đến một nhà dân “cơ sở” ở bờ sông Vàm Cỏ Đông, tổ bảo vệ bàn bạc với chủ nhà rồi báo cáo với anh Tư Ấp, không có ghe máy, phải đi ghe chèo, và như vậy nên lội sông an toàn hơn, từng người lội với bọc đồ làm phao, trông xa giống giề lục bình. Anh Tư Ấp đồng ý. Dân đồng bằng chúng tôi ai cũng lội giỏi cả, thậm chí ở rừng miền Đông tôi còn lội qua sông nước chảy cuộn xoáy, ào ào như thác, không phải phẳng lặng như hồ bơi như thế này.


Hai con sông Vàm Cỏ là lằn ranh chỉ mức độ ác liệt của chiến sự trong chiến dịch ấy. Phía Đông sông Vàm Cỏ Đông, sát Sài Gòn, quân địch dội bom pháo, càn bố ác liệt nhứt đến mức có thể. Phía Tây sông Vàm Cỏ Đông, xa Sài Gòn hơn, lại cách sông, mức độ ác liệt giảm một chút. Bên kia sông Vàm Cỏ Tây, giảm hơn chút nữa. Anh em chiến sĩ thường nói: “Tôi ngại qua sông, yên bình rồi trở lại chỗ ác liệt đâm ngại”. Thật ra, không có chỗ nào là yên bình, nhưng nghe anh em nói mà thương.


Chúng tôi qua sông yên lành, đến chỗ ông Tư Thân gần nửa đêm. Ông vẫn còn thức, hình như ông không hề ngủ. Tôi không nhớ năm đó ông bao nhiêu tuổi, nhưng do lúc đó tôi chưa tới ba mươi nên coi ông như một ông già, có lẽ do dáng đi phục phịch của ông.


Ông nhìn chúng tôi với ánh mắt hiền từ, không ra vẻ người chỉ huy mà như người anh lớn trong gia đình. Ông hỏi chuyện anh Tư Ấp. Anh Tư Ấp báo cáo, nêu những khó khăn, vô cùng khó khăn. Ông lắng nghe, trán nhăn lại, vẻ khổ sở. Nhưng ông không nói gì, không một lời khuyên. Như để lảng sang chuyện khác, ông hỏi chuyện tôi. Ông nói, có biết hôm chạy càn tôi đi luôn xuống tiểu đoàn một, hỏi tôi có giúp gì được cho tiểu đoàn không? Tôi nói không giúp gì được, chỉ làm phiền mấy anh. Ông không hỏi gì về chuyện viết lách, không ai ở đây biết chuyện đó. Rồi ông nói sang chuyện khác nữa, nói ông nấu nồi cháo đãi chúng tôi. Vịt đồng chết nhiều lắm, vùng này dân nuôi nhiều vịt đồng, ăn không hết cho bộ đội, còn mấy con nấu trong nồi kia. Ông không đánh thức lính tráng dậy, một mình ông lụm cụm nấu nướng.


Trong lúc ông nấu nướng, anh Tư Ấp kể tôi nghe một chuyện về ông. Ông có đứa con trai đi bộ đội, anh em thương tình đưa về làm bảo vệ, để được ở gần ông. Nhưng chiến tranh không có trận tuyến, không đâu là sau trước. Một hôm, đi hành quân bị phục kích, đứa con đi trước bị trúng đạn té chết trước mặt ông. Ông bước tới ôm xác con, không khóc, nhưng nước mắt tuôn dài trên mặt.


Ông bưng ra hai tô cháo, ngồi coi chúng tôi ăn. Rồi lại hỏi chuyện anh Tư Ấp, rồi nói:


“Ăn xong rồi lội sông qua bên kia đánh tiếp, không có rút gì hết. Qua đây định xin rút chớ gì? Đây là trận quyết chiến, đánh đến chết hết thì thôi”.


Tôi không nghe anh Tư Ấp nói muốn rút, nhưng tôi cũng ngờ anh định như thế. Anh cũng là người chỉ huy, không thể không khổ tâm khi thấy tiểu đoàn bị hao hụt từng ngày, thiếu đạn dược, gạo nước, thấy cần phải được bổ sung, củng cố. Nhưng anh chưa hề nói ra, ông Tư Thân đọc điều đó trong đầu người cấp dưới của mình.


Sau này, đọc tài liệu tôi biết có chuyện tranh cãi trong chuyện “cay cú” muốn đánh “dứt điểm”, chuyện rút hay không rút, ông Trần Bạch Đằng là một trong những người quyết liệt một trong hai phe tranh cãi ấy. Nhưng tôi không muốn nói nhiều đến chuyện quá tầm hiểu biết của tôi.


Chúng tôi ăn xong tô cháo, chào từ giã ông Tư Thân, lội sông ra về.


Mấy ngày sau anh Tư Ấp thấy tôi bị thương đi đứng khó khăn, gợi ý tôi về ít ngày ở văn phòng Tỉnh đội, bom đạn ít hơn một chút, tôi có thể viết lách được gì. Thế là tôi bắt đầu một mình lang thang, đoạn đường ngắn nhưng phải đi dài lâu, lòng vòng qua lại, có khi lộn về chỗ cũ, mỗi đêm ở một nhà, tính ra gần tháng trời tôi chu du khắp các xã Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ tỉnh Long An.


Ban đầu, tôi đi theo đường dây giao liên, đi suốt ngày, chiều tối được gởi vào một nhà, sáng hôm sau trận càn nổ ra. Tôi nghe tiếng trực thăng quần đảo, tiếng súng nổ, chờ người giao liên đến đưa tôi đi ẩn nấp, chun hầm bí mật hoặc “chém vè” dưới ven lá dừa nước. Nhưng không thấy người giao liên đâu. Nhà chỉ có bà già hơn bảy mươi tuổi. Súng đã nổ rất gần, bà già dẫn tôi xuống dưới ven lá mỏng chỉ vài sải tay, bị bom pháo xơ xác, bà nói sẽ đi lên xuống giả như làm cỏ vườn, thông báo với tôi mọi chuyện. Đi càn là lính Mỹ, chúng vào nhà, sục sạo ra ngoài vườn. Tôi ngồi núp sau một bụi lá không che kín được bao nhiêu, chỉ còn cách giương khẩu súng ngắn chờ đợi, nghe tiếng bà già ho khúc khắc gần đó. Rồi tôi nghe tiếng giày nặng nề dẫm lên cành cây khô, một tên Mỹ đen hiện ra, nón sắt không cài quai, khẩu M.16 lăm lăm trong tay. Tôi thấy rõ nó nhìn về hướng tôi, chỉ chờ nó giương súng lên là tôi bắn. Nhưng có lẽ nó không chú tâm nên không nhìn thấy tôi, nó đứng rất lâu rồi quay đi, nghe tiếng bọn chúng xì xồ gì đó, tiếng bà già đáp lại, chắc không ai hiểu ai. Lúc đó, chỉ khoảng mười giờ, tôi còn phải ngồi đến trưa rồi xế chiều, bọn Mỹ đi đâu rồi trở lại, lâu lâu lại nghe tiếng chúng xì xồ. Chúng rút khoảng bốn giờ, bà già xuống đám lá dẫn tôi lên kể mọi chuyện.


Đây là xã Mỹ Lệ huyện Cần Đước, vùng có tiếng gạo thơm rượu ngon. Nhà bà già cũng cất rượu, mỗi ngày một táo (hai mươi lít) nếp, vừa đủ tám lít rượu chia cho bà con, bà chỉ lời khoản hèm (bã rượu) để nuôi heo. Đám lính Mỹ vào nhà lôi mấy chai rượu ra uống, ra sau vườn để tìm bà già hỏi còn rượu không.


Tôi hỏi bà nói chuyện làm sao, tôi nghe đám Mỹ xì xồ bà cũng đáp trả?


Bà nói có nói gì đâu, thằng Mỹ cầm theo chiếc chai không chỉ chỏ, ra dấu hỏi còn chai nào như vầy nữa? Bà lắc đầu xua tay nói hết rồi, hết rồi, bà chỉ cất rượu lấy hèm nuôi heo, đâu phải người bán rượu.


Tôi ở lại đó thêm hai ngày, ngày nào cũng chạy càn như vậy. Bà già buổi sáng dẫn tôi xuống dưới đám lá, chiều dẫn tôi lên, ăn cơm ngày hai bữa, sáng sớm và tối đỏ đèn. Bà có đứa con trai đã chết từ lâu, đi làm đồng bị trúng bom chết. Chồng cũng bị bịnh chết. Thửa ruộng bà giao cho đám cháu, lâu lâu chúng đem gạo nếp đến cho bà, bà còn đủ sức cất rượu nuôi heo, có thể sống qua ngày, chừng già nữa nằm một chỗ rồi sẽ tính.


Tôi nói tôi phải đợi người giao liên, không có anh tôi sẽ không biết đi đâu. Bà biết họ ở đâu không? Bà không biết. Bà chỉ thấy họ đi lại, còn đi đâu làm gì bà không hỏi. Bà có đứa cháu là cán bộ xã bà sẽ giới thiệu cho tôi.


Người cán bộ xã là một thương binh, đi cà nhắc, nhưng vẫn còn lanh lẹ. Anh nói mấy ngày rày xã cũng không còn hoạt động gì, tất cả dành hết cho chiến dịch. Tốt nhứt tôi bám theo đội du kích, có súng ống che chắn, không phải chun hầm bí mật ngột ngạt. Tôi lại được đưa sang người xã đội trưởng, dáng người cao to, nói năng rổn rảng. Đội du kích ở trong một ngôi nhà hoang, mái ngói đã tốc hết, cột cũng gãy gục. Các anh vui vẻ chấp nhận, tuy rằng vai trò của tôi thật kỳ lạ, không làm gì khác ngoài chuyện chạy quấn theo, thỉnh thoảng giúp đỡ nấu nướng, mang vác đồ đạc. Đội du kích ăn ngủ tập trung, chỉ trong chiến dịch này, súng ống có mấy khẩu AK, bá đỏ, các-bin, ga-răng, lựu đạn cũng lẫn lộn “địch ta” như thế. Có một anh có khẩu súng ngắn, nói là tự chế, nhưng tôi không tin. Ở Hội văn nghệ của tôi trên R cũng có một anh tự chế khẩu súng ngắn, bắn một phát khẩu súng rã ra, phải lượm từng món lắp lại, lần nào cũng thiếu một món, anh không bắn nữa nhưng vẫn mang, nói “cho oai”. Ở R cán bộ trung cấp mới được mang súng.


Hằng ngày, đội du kích chia thành nhiều mũi đánh quấy phá là chính, chặn đánh các cánh quân địch đánh vào xã, lợi dụng việc thông thạo địa hình nổ mấy phát vào chính diện rồi luồn ra sau đánh vào sau lưng chúng. Tôi chạy theo sau, chủ yếu để tránh đạn, cũng để có người dẫn chạy thối lui trường hợp chúng đánh tràn tới. Các anh chỉ bắn từ xa nên ít bị thương vong, bọn địch cũng không “chấp” lực lượng du kích nên không cho dội bom pháo. Nhưng chuyện bom đạn không thể lường. Một hôm có một chuyện thật đau lòng và cũng thật phi thường. Do lực lượng ít, các anh chiến đấu rời rạc, một anh bị thương không ai hay, anh không đủ sức kêu cứu hoặc sợ địch phát hiện. Anh một mình bò, lết, đi bằng hai gối, băng qua những khu vườn, những thửa ruộng, gai góc bụi bờ, từ sáng đến chiều tối, đến hết đêm, sáng ra nằm chết trước cửa nhà, không nói lời nào chỉ để lại một vệt máu dài.


Ngày nào tôi cũng nhắc anh đội trưởng tôi chỉ ở tạm đây, tôi cần phải về chỗ văn phòng Tỉnh đội, lần nào anh cũng nói anh biết rồi, anh sẽ tìm người giới thiệu đưa tôi đi. Nhưng ngày nào cũng có giặc càn, ngày nào cũng đánh trận, đội du kích chia nhau chạy đầu này đón đánh một cánh lính, nổ súng một chập rồi chạy đầu kia. Tôi thông cảm cho anh, trong tình hình rối bời này, đội du kích gần như chiến đấu độc lập, du kích tự bổ sung tại xã, đạn dược khó bề được trên cấp, tìm kiếm xin xỏ bất cứ đơn vị chủ lực nào đi ngang qua, trong lúc chính họ cũng thiếu vũ khí nghiêm trọng.


Tôi không ngủ chỗ các anh du kích. Tôi ngủ nhà bà già cất rượu rồi sang nhà khác, sáng mới đến ngôi nhà hoang, lính Mỹ ngủ trễ chín giờ mới đi càn. Tôi ngủ mỗi đêm một nhà, không phải để giữ bí mật, mà để chia bớt sự “gánh vác”. Dân chúng nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ là cả một gánh nặng, không ai than phiền nhưng tôi phải hiểu điều đó.


Bà già cất rượu níu kéo tôi mãi, nói ở đâu cũng vậy thôi, bà ở một mình mong có người ở chung cho vui. Buổi sáng, bà nấu nồi cơm buổi chiều còn nguyên, tủi thân cả đêm bà nằm thao thức. Bà kể, hôm tụi Mỹ uống rượu của bà rồi còn hỏi còn nữa không, bà tức nghẹn ở cổ. Rượu bà nấu từ gạo nếp, hột gạo dành cho con cháu, đâu phải dành cho nó. Bà kể, con trai bà chết mất xác không còn gì để chôn, hố bom là mồ chôn. Nhiều nhà trong xóm cũng có những mồ chôn như vậy. Nhiều người chết trên sông không biết đâu là mồ chôn, cả con sông Vàm Cỏ là một mồ chôn. Bà sống ở đây cạnh bờ sông nhưng chưa một lần qua sông, cũng chưa ra khỏi xã này. Bà không đi đâu cả, chưa từng biết chiếc xe hơi, Sài Gòn ở đâu bà cũng không biết. Thằng con trai bà có lần đi vào Sài Gòn nói thấy người ta ngồi trên xe xích lô, con gái bận áo dài, tiệm quán đèn rất sáng và mọi người uống nước bằng những ống hút. Bà kể lan man không đầu đuôi, tôi ngủ rồi bà vẫn kể. Tôi ở với bà hai ngày, một anh du kích đến cho bà mấy lon gạo, dẫn tôi về với anh. Anh du kích có vợ hai con, nhà có chiếc hầm núp lớn choán chật hết gian giữa, từ Tết tới giờ pháo bắn liên hồi, hai đứa con chưa đến mười tuổi toàn ở trong hầm, chị vợ nấu nướng, giặt giũ rồi cũng chun vào đó. Anh du kích kể, một hôm, giặc càn vô làng bất ngờ, anh chỉ kịp chạy ra vườn, bọn lính vào nhà lôi hai đứa nhỏ ra tra vấn, ba có đi đu kích không, có thấy du kích không? Hai đứa nhỏ một mực lắc đầu, trẻ con ở đây chưa biết nói đã biết đối phó với giặc.


Anh du kích trải tấm đệm cùng ngủ với tôi cạnh hầm. Anh nói thường ngày anh cũng ngủ bên ngoài, biệt kích có thể đi ruồng ban đêm. Ta không chỉ đánh với lính Mỹ mà còn đánh với lính người Việt, cũng con cái nông dân ở đây, thói quen tính nết đều hiểu nhau. Chúng tôi nói chuyện một lúc trước khi ngủ. Anh không nói gì về chuyện chiến đấu, những người chiến sĩ khác cũng vậy, căng thẳng trong ngày đủ rồi. Anh nói chuyện thửa ruộng trước nhà, trừ trong chiến dịch này, trước đây anh vẫn có những lúc rảnh rỗi cày cấy. Anh nói về hai đứa con, đứa này mọc răng, đứa kia đi lẩm đẩm, rồi chúng lớn lên hồi nào không hay, bom đạn đầy trời chúng vẫn lớn lên. Anh nói trong làng có người điên, đang có pháo bắn vẫn đi băng đồng cười nói một mình, không hiểu sao không trúng miểng bom, miểng pháo nào. Vừa nói xong, nghe tiếng pháo hú qua đầu, tiếng nổ, anh lắng nghe rồi nói: “Nổ đằng ấp Bốn, vườn bà Tư nuôi vịt đồng”.


Không thể nhớ hết những nhà tôi ở trong mấy tháng đó. Ngoài chuyện cùng tham gia với những đơn vị chiến đấu, đó là những kỷ niệm sâu sắc của tôi, niềm tự hào của tôi. Mỗi đêm tôi ngủ một nhà, gặp gỡ những con người bình thường, nghe chuyện của họ, thấy họ sống và chịu đựng, tôi thật sự thành người của họ.


Rời đội du kích, tôi đi một mình, với tờ giấy giới thiệu của anh Tư Ấp trong tay, theo lời chỉ dẫn mơ hồ của những người du kích, qua xã nào ấp nào, đến bến sông nào tìm cơ sở đưa qua sông. Nhưng tôi không đi đến đâu. Liên tiếp những trận càn nổ ra, tôi chạy lòng vòng, bám theo những đội du kích, những đơn vị thanh niên xung phong, thậm chí cả một trạm quân y dã chiến. Tối đến, tôi được những người du kích giới thiệu, hoặc tự mình tìm nhà ở. Có một đêm, tôi ở một nhà của chị phụ nữ làm nghề buôn gạo với hai đứa con nhỏ, về gần sáng lúc chị thức dậy nấu cơm cho tôi ăn để ra đi, tôi mới biết chị là vợ của một sĩ quan biệt kích của Sài Gòn. Chị kể trước đây vùng này là vùng “xôi đậu”, là vùng tranh chấp giữa hai bên, ban đêm là của du kích, ban ngày là của quốc gia. Từ ngày tổng tấn công đồn bót rút hết, chỉ có những trận càn của lính quốc gia, chồng chị theo đó về thăm nhà, chơi với hai đứa con một chút rồi ra đi. Chị nói về chồng chị một cách thản nhiên như nói về tôi, về những người du kích, không coi là hai phe chống đối nhau. Chuyện đó chị không biết, chị chỉ là người phụ nữ nuôi con. Tôi biết ý không nói gì tới anh chồng biệt kích, chỉ hỏi thăm chuyện buôn gạo và chuyện học hành của hai đứa nhỏ.


Tôi chạy lòng vòng, lại sa vào một đại đội của huyện, ngày nào cũng đụng trận, khi bị tìm đánh, khi chủ động đánh truy kích, giống như khi ở với tiểu đoàn 1 của anh Tư Ấp. Nhưng có câu “Ở nơi tâm bão lại là nơi bình yên”, tôi nghĩ thà đi theo các anh súng chọi súng, đối mặt trực tiếp với kẻ địch, còn hơn chạy lông bông, chịu nguy hiểm một cách thụ động. Nói đại đội chớ chừng hơn trung đội, quân số đáng ra phải vài ba trăm chỉ có chừng hơn trăm, từ đầu chiến dịch tới giờ hao hụt mất gần nửa. Do ít quân, mỗi chiều sau trận đánh đơn vị tập trung lại một chỗ, tôi chứng kiến sự thiệt hại ghê gớm của chiến dịch: ngày nào cũng có người chết, người bị thương, người ngồi lại thưa dần, buổi kiểm điểm rút kinh nghiệm cũng trở nên buồn bã, căng thẳng.


Tôi đã hết sốt ruột về trận chiến kéo dài. Ngày đầu nổ súng, do được phổ biến quyết tâm của ta đánh chiếm thành phố trong 24 giờ, tôi đã đếm từng giờ. Qua thời gian đó rồi tôi đếm từng ngày. Giờ đã mấy tháng rồi, tôi mặc cho ngày tháng trôi qua. Tôi cũng không được tin tức gì từ cơ quan ở R. Quân Mỹ nỗ lực đánh chặn từ xa, đường lộ 4 là ranh giới chúng quyết giữ, chia cắt hai miền Nam Bắc tỉnh Long An. Tuy vậy đường giao liên vẫn được nối, tôi vẫn có thể đi về nhà, không ít điều tai nghe mắt thấy tôi có thể viết. Nhưng tôi đã “say” trận chiến đánh vào Sài Gòn này mất rồi. Sau này, đọc lại tài liệu tôi thấy nhiều vị tướng lĩnh cũng mắc bịnh “say” như tôi.


Quân Mỹ có đợt ngưng chiến ngắn hạn, không biết âm mưu gì, anh đại đội trưởng cho người đưa tôi ra bến sông. Chúng tôi ra đi vào giữa đêm, là giờ yên bình nhứt. Anh đại đội trưởng tiễn tôi ra ngoài bờ ruộng, vỗ vai tôi cười cười không biết ngụ ý gì. “Thôi đi đi, không cần phải hẹn gặp nhau làm gì”, tôi đoán anh muốn nói như thế. Đúng vậy, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chúng tôi khó bề gặp lại nhau. Hai chúng tôi đi trong bóng đêm vẫn thấy cảnh làng xóm xơ xác, mặt ruộng đầy lỗ bom pháo bị bỏ hoang, những bờ lá, bụi tre gãy gục, những căn nhà tốc mái, đổ sụp. Độ ba tiếng đồng hồ tới bờ sông, anh bộ đội huyện giới thiệu người đưa qua sông, rồi trở về ngay cho kịp trước sáng, có thể có nổ súng. Nhà người đàn ông đưa ghe rất đông con khiến tôi rất ái ngại, nghĩ bụng sẽ đưa anh món tiền kha khá để anh đưa tôi sang sông. Không phải tiền của tôi, tôi đang giữ tiền của cơ quan. Hôm rời cứ “xuống đường” chị Hương thủ qũy đoàn mang số tiền lớn, cả một ruột tượng đầy, dự trù có chuyện chi xài bất thường cho chiến dịch ở nội thành. Hôm bị càn ở Tân Nhựt, trong cơn nguy khốn chị chia ra cho chúng tôi mỗi người giữ một ít. Rồi tôi cũng bị mất liền sau đó, vào Sài Gòn anh Hoài Nam ở Thông tấn xã cũng mang nhiều tiền chia lại cho tôi, suốt mấy tháng trời tôi ăn ở nhà dân, không chi xài gì, cọc tiền vẫn còn nguyên.


Mặt sông vắng lặng, không thấy có bóng ghe xuồng, tàu giặc cũng không. Pháo sáng lập lòe xa xa. Người đàn ông không nói chuyện, cho ghe chạy cặp theo sông một đoạn rồi băng qua, con sông bỗng trở nên rộng mênh mông. Chưa tới giữa sông bỗng nghe tiếng tàu xa xa, chỉ có thể là tàu chiến của giặc. Người đàn ông hơi một chút lưỡng lự, nhưng rồi vẫn quyết định thẳng tiến, và không hiểu sao chiếc tàu vẫn nổ máy nhưng không thấy tiến tới. Ghe cặp bờ, tôi đưa anh ít tiền, anh cầm lấy không nói gì, cũng không cất vào túi, tôi lên bờ quay nhìn lại vẫn thấy anh cầm mấy tờ tiền trên tay như thế.


Vậy là tôi đã cách xa vùng chiến sự một con sông, cũng có nghĩa mức độ ác liệt giảm đi một ít. Qua tiếp con sông nữa, sông Vàm Cỏ Tây, chiến sự sẽ giảm thêm nữa. Hai con sông là hai lằn ranh chỉ mức độ ác liệt của chiến sự.


Tôi đi băng đồng. Không nghe tiếng pháo, gần cũng như xa. Không hẳn là vùng yên bình, chỉ là đang đợt chúng nghỉ quân.


Tôi về đến chỗ văn phòng Tỉnh đội lúc gần sáng, gặp anh Nguyễn Văn Thể, anh hùng quân đội, tôi đã quen năm trước ở Đại hội anh hùng ở Bù Đốp. Tôi không viết về anh, chỉ do cùng quê Long An tôi tìm đến anh làm quen hỏi chuyện. Là “vốn quí”, không phải ra trận, anh quản lý đám các cô gái văn thư, đánh máy trong văn phòng Tỉnh đội. Trông anh bứt rứt, không tự nhiên hồ hởi như hồi Đại hội anh hùng. Tôi hiểu anh, không nhắc gì tới chuyện chiến đấu, chỉ kể chuyện Bù Đốp, bạn bè quen thân người này người kia như thế nào. Sáng hôm đó nổ ra trận càn. Bộ phận văn thư chỉ có vài khẩu súng, vài trái lựu đạn, anh hùng Nguyễn Văn Thể dẫn các cô gái chun hầm bí mật, thêm tôi cũng thuộc loại chân yếu, tay mềm. Đó là vùng đất thấp, nước lớn ngập hết các bụi bờ, nền nhà đều đắp cao, hầm bí mật chỉ có thể đào ở những gò cao. Nguyễn Văn Thể lợi dụng điều đó, nói đúng ra không có cách nào khác, đào ngay một hầm bí mật lớn dưới nền nhà, đồ đạc dụng cụ đều cũng tuôn hết xuống đó. Lần đầu tiên chun hầm bí mật ngay trong nhà, nghe bọn lính lùng sục la hét chung quanh, tôi sợ đến phát run, hơn hẳn lúc nhìn thấy thằng Mỹ trên trực thăng thò tay ném trái lựu đạn sát trên đầu. Một lần khác, chúng tôi chun xuống một chiếc hầm ngoài vườn cách vài chục thước, đắp giả làm giàn trồng hành, nghe rõ đám lính lùng sục trong nhà bắt gà nổi lửa nấu cháo. Cháo chín, chúng kêu cả bọn vô cùng ăn, riêng tên lính ngồi canh ở cửa hầm chúng tôi vẫn ngồi không chịu ăn. Đến chiều chúng rút, chúng tôi trồi lên thấy ra tên lính không tốt lành gì, nó luộc ăn nguyên cả ổ trứng gà bỏ vỏ trắng cả miệng hầm.


Chúng tôi gặp may, hoặc đám lính cũng ngại khui hầm. Chun hầm là bước đường cùng, ai cũng thủ vài trái lựu đạn, bị khui trúng không dại gì để bị bắt, sẽ tung lựu đạn để chạy thoát, hoặc ít nhứt cũng thí mạng với chúng. Bọn lính đi lính chỉ để ăn lương, liều chết làm gì. Có nhiều chuyện chứng tỏ điều đó. Hồi năm 63, học ở trường Giáo dục tháng Tám, một bạn gái cùng học tên Cúc kể tôi nghe một chuyện. Hồi ở dưới địa phương Mỹ Tho, một lần chạy càn, chị chun xuống một hầm bí mật, không chịu được ngột ngạt lâu lâu chị lại giở nắp hầm trồi lên, một người nào ở gần đó chạy đến lấy tay đè xuống. Nhiều lần như vậy, cho tới chiều giặc rút hẳn chị giở nắp hầm thấy có miếng giấy nhét ở đó, dặn bảo lần sau hãy cẩn thận. Vào nhà hỏi chuyện, người trong nhà nói có tên lính không hiểu sao ngồi lỳ ở đó, hóa ra hắn canh hầm cho chị.


Tôi nhớ Nguyễn Công Hoan có viết một truyện ngắn “Ni-xơn, buồn nhỉ!”, cốt truyện tương tự như vậy, nhưng ông đã khái quát thành vấn đề bản chất của cuộc chiến tranh, đâu là chính nghĩa, đâu là phi nghĩa.


Chính tôi cũng có một chuyện tương tự. Tôi ở chỗ Nguyễn Văn Thể viết được bài bút ký “Chuyện hậu phương” không lớn hơn bàn tay, rồi lại tiếp tục đi lang thang, lại đến với một đội du kích. Nhưng chạy càn tôi không chạy theo các anh, tôi chun hầm bí mật, chiếc hầm “công cộng” dành cho khách lỡ đường, đào dưới một bụi tre gai. Buổi chiều theo dấu hiệu người trong nhà gọi đám nhỏ về ăn cơm, tôi trồi lên vào nhà. Chị chủ nhà kể chuyện, có một tên lính ngồi trong nhà nhìn ra nói: “Tôi nói thật, tôi không thù oán gì! Nếu không tôi đào dưới chỗ kia thế nào cũng có một chiếc hầm bí mật”. Rồi nó chỉ ngay vào bụi tre có chiếc hầm tôi đang chun trong đó.


Vết thương ở chân của tôi sau một thời gian lại sưng tấy. Thấy tôi đi cà nhắc, đội du kích đưa tôi đến một trạm quân y dã chiến. Trạm quân y chỉ có tính chất tượng trưng, có một y sĩ vài y tá, mấy bảo vệ với vài khẩu súng. Hằng ngày, tôi được rửa vết thương băng bó, chích thuốc kháng sinh, ngoài ra cũng chạy càn “xà đùa” như mọi người. Do chỉ là trạm tạm bợ, giữ những thương binh nhẹ như tôi, có thể tập tễnh chạy càn được. Ngoài tôi và mấy người bảo vệ, trạm quân y toàn nữ, kể cả người trưởng trạm. Tuy đã cách sông, bom đạn có giảm bớt, chuyện càn bố cũng xảy ra gần như thường ngày. Buổi chiều sau trận càn từ dưới ven lá chui lên, chúng tôi còn ngồi thừ ra một lúc lâu, các cô đã vui vẻ bá vai nhau chải tóc, ríu rít chuyện vãn, cười đùa. Trong chiến bom đạn căng thẳng, người nữ giỏi chịu đựng hơn nam.


Cô y tá trẻ nhứt trong các cô, chưa tới hai mươi, đêm nào cũng khóc, nói nhớ nhà, nhớ má, trạm đành phải đưa cô về nhà. Mấy hôm sau cô trở lại, lại khóc, nói nhớ chị em, nhớ đơn vị. Chuyện đó xảy ra trước đây, tôi nghe kể lại. Sau mấy ngày trong một trận càn, chúng tôi chạy núp dưới một ven lá dừa nước, không biết để lộ cái gì, địch xả súng bắn, mấy người bảo vệ bắn trả. Một người bảo vệ bị trúng thương ở tay, khẩu súng văng ra xa, cô y tá trẻ xông lên cầm lấy khẩu súng bắn tiếp, từng phát một, một cách thành thạo, không biết cô học bắn từ hồi nào. Đôi bên cứ đấu súng như vậy, bọn lính không tiến thêm một bước, cho đến chiều rút quân.


Chúng tôi ở mấy nhà kế cận nhau. Tôi vào một nhà, bà chủ nhà nhìn tôi đi tập tễnh, nói giọng cảm thán: “Thằng Mỹ thật ác độc! Thằng nhỏ bị thương vậy chúng vẫn rượt đuổi”. Tôi thấy tức cười, bà chủ nhà coi tôi như trẻ nít trong nhà. Nhưng tôi cũng cảm động, nghĩ thương cho người dân mình, trong bom đạn ác liệt vẫn có được tình cảm chân chất, ngây thơ.


Tôi ở bịnh viện cả tuần lễ rồi tìm đường về chỗ Hội văn nghệ Sài Gòn- Gia Định của anh Viễn Phương. Nhà văn Lữ Phương từ trong Sài Gòn ra ở với chúng tôi. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng đang hoạt động trong Sài Gòn, cũng thỉnh thoảng ra gặp chúng tôi. Ông vốn đẹp người, lớn tuổi nhưng trông rất trẻ, hoạt động “hợp pháp” nên diện như công tử Sài Gòn. Ông quan hệ rộng rãi, đi tới đâu làm quen tới đó, chỉ mấy ngày trong xóm ông quen hết các nhà chung quanh. Chúng tôi ở nhà một “bà má chiến sĩ”, chúng tôi cũng gọi luôn “má” như thế. Một đêm, nằm lắc võng ông Bổng hỏi tuổi bà má. Bà đáp, ông nói: “Vậy là má cùng tuổi với con”.


Chúng tôi ở cùng với đơn vị của ông Trần Bạch Đằng, nương tựa vào đội bảo vệ hùng mạnh của ông, cạnh một đồn địch để tránh pháo. Bọn lính đồn biết rõ chúng tôi nhưng yếu thế, không dám động tịnh gì. Đêm bắt đầu đánh đợt hai, các mũi tiến công đồng loạt nổ súng. Không có nhiệm vụ chiến đấu đáng lẽ phải giữ yên, ông Trần Bạch Đằng kêu đội bảo vệ cũng hưởng ứng diệt đồn, chúng có bắn pháo thì ông chạy, báo hại chúng tôi bị một trận pháo kinh hoàng. Tính cách ông Trần Bạch Đằng là như vậy.


Nhà chúng tôi ở cách lộ Bốn không xa, chỉ qua một cánh đồng. Nhà có một cô gái hằng ngày đi học trong nội thành. Đội bảo vệ ông Trần Bạch Đằng có anh chiến sĩ “ngưỡng mộ” cô, hằng ngày xách súng đưa cô đi. Nhưng không dám đi xa hơn, ngoài lộ Bốn có anh chàng thiếu úy của Sài Gòn đậu xe Jeep đón, đưa cô gái đi tiếp. Chuyện cứ tiếp diễn như vậy, mỗi người một đoạn đường, sau đó tôi ra đi không biết kết cục ra sao. Mà làm gì có “kết cục” trong những ngày tháng ấy.


Lúc đó là giữa tháng năm, đã hơn ba tháng tôi đằm mình trong trận chiến này, “cõng” trên lưng không biết bao nhiêu bom pháo. Tôi đã mệt mỏi, muốn về cơ quan nghỉ ngơi, viết cái gì. Nhưng bỗng có tin nhắn tôi ra trạm giao liên gặp Lê Anh Xuân.


8 –Lê Anh Xuân với Dáng đứng Việt Nam


Lê Anh Xuân về Nam năm 64, là giáo viên dạy sử, thuộc ngành giáo dục, về ở B3 (tiểu ban giáo dục) một thời gian rồi chuyển sang B2 chúng tôi, lúc đó đóng quân bên bờ suối Cây. Cùng trạc tuổi, cùng là sinh viên, khát khao tương lai, lý tưởng, chúng tôi nhanh chóng kết bạn với nhau, đi rừng cưa cây đốn củi lúc nào cũng có đôi, có cặp. Chị Liên vợ anh Ngô Y Linh nói: “Hai đứa trông như vợ chồng”. Anh tính tình hiền lành, hòa nhã, dáng gầy yếu thư sinh, quan tâm đến mọi người, không hút thuốc, nhưng lúc nào cũng có gói thuốc trong túi mời bạn bè. Sau hơn năm đi công tác ở Bến Tre, trở về anh cặm cụi viết. Anh có tác phong làm việc cần cù, như một thầy giáo, sáng ăn cơm xong 7 giờ anh ngồi vào bàn viết. Anh nói học điều đó ở Nam Cao, cũng là một giáo viên. Năm 66, bom B52 nhiều, chúng tôi phải ngủ hầm, tôi và anh đào một chiếc hầm lớn có thể giăng võng, phải cưa cây lớn làm cây đà đắp nắp hầm. Tôi vốn thạo rừng, khỏe mạnh, thường dành khiêng đầu gốc nặng hơn. Vài lần như vậy, biết tôi có ý nhường nhịn, anh nói: “Không được! Nặng nhọc cực khổ cũng phải tập cho quen”. Rồi anh giành khiêng đầu gốc.


Hôm đó, nghe tin nhắn của Lê Anh Xuân ở trạm giao liên, tôi ngạc nhiên quá đỗi. Đã mấy tháng rồi, trận chiến đang gặp khó khăn, đợt hai đang bắt đầu nhưng chắc cũng “yếu” đi nhiều, anh còn xuống làm chi? Nghĩ như vậy tôi càng nôn nóng muốn gặp anh, coi sự thể như thế nào. Tôi nói với anh Viễn Phương tôi phải đi ngay. Suốt mấy tháng trời quần đảo vùng Tây Nam Sài Gòn, mọi đường đi nước bước tôi đều thông thuộc, có thể tự đi một mình bất cứ đâu. Tôi ra trạm giao liên gặp anh và Hồng Tân ở đó. Anh nói xuống tới đây anh mới biết tin tôi, biết tôi còn sống, ở nhà mọi người được tin tôi đã chết. Do hầu hết mọi người “xuống đường” đã trở về, chỉ vắng mình tôi. Tôi hỏi anh chuyện nhà, anh kể vắn tắt ai đi đâu làm gì. Tôi cũng hỏi về cô người yêu của anh ở miền Bắc. Anh có cô người yêu, bạn từ tuổi ấu thơ, cùng tập kết ra Bắc. Anh đáp, trông có vẻ buồn, không hiểu sao lâu rồi anh không nhận được thư. Tôi không biết rằng lúc đó mối tình của anh đã tan vỡ, nhưng tôi vốn ngại chuyện tình cảm riêng tư, không hỏi gì thêm. Anh cũng nói sang chuyện khác, nói anh muốn vào Sài Gòn, cần tôi đưa đi. Tôi nói anh nhờ tôi đúng rồi, nhưng sao lại vào Sài Gòn, anh có biết là khó khăn lắm không? Anh nói biết, chính vì thế anh muốn đi. Mấy tháng trời ở R anh nóng ruột không chịu được. Bao nhiêu mất mát, người chết, còn anh thì đứng ngoài.


Anh nói anh phải vào Sài Gòn, bước một bước cùng với nhân dân, chiến sĩ. Tôi phải đưa anh đi.


Nghe anh nói vậy tôi cũng thấy hăng hái, bao mệt mỏi tự dưng biến mất. Tôi cũng muốn vào Sài Gòn, những người quen biết, tiểu đoàn 1 của tôi đang ở trong đó.


Các anh đang ở trong một chiếc chòi của trạm giao liên dưới một ven lá dừa nước. Tôi nói các anh cứ ở đó, tôi trở về báo với các anh chỗ anh Viễn Phương rồi trở ra đưa hai anh đi.


Tôi về báo mọi chuyện với chỗ anh Viễn Phương và mọi người rất băn khoăn, cảm giác được sự nguy hiểm, nhưng không thể bàn xa hơn được nữa. Chỗ anh Viễn Phương không phải là cơ quan chủ quản chúng tôi, tôi không thể liên hệ được với R để hỏi ý kiến. Cuối cùng, rồi tôi cũng quyết định ra đi, phó mặc cho sự may rủi. Hình như số mệnh định như thế, những ngày tháng đó chỉ phải đi tới.


Tôi nhớ hôm đó là ngày 19 – 5, đêm hôm đó, ông Bổng từ trong Sài Gòn ra khui chai rượu Tây đãi chúng tôi. Anh Viễn Phương nói vui: “Anh Tám (Tám Nhàn, tên ông Bổng ở R) cho chúng ta uống rượu Tây để học đức cần kiệm liêm chính của Bác”. Anh Sáu Vinh (Viễn Phương) là người có tài hóm hỉnh.


Sáng hôm sau, tôi ra trạm giao liên gặp Lê Anh Xuân và Hồng Tân, tối hôm đó chúng tôi qua sông, tiếp tục đi băng vào Sài Gòn. Lê Anh Xuân có chiếc radio hiệu “Nec”, quà tặng của người cha đang làm đại sứ ở Campuchia, anh coi như kỷ vật luôn đeo sát bên mình, cũng là nguồn tin quí giá chúng tôi có được. Đợt hai đã nổ ra, tin chiến sự dồn dập, nhưng tôi hiểu tuyên truyền động viên là chính. Tôi nói chúng tôi không thể đi lẻ ba người như thế này, cần phải tìm đoàn người đi ghép vào. Tôi biết có một chỗ nhiều đoàn tập kết đến đó trước khi vào Sài Gòn. Mọi chuyện Lê Anh Xuân và Hồng Tân đều nghe theo tôi. Tôi dẫn hai anh đến đó, quả nhiên gặp được đoàn người do ông Tám Yến, tức Nguyễn Hộ dẫn đi. Tôi không biết ông Nguyễn Hộ đi đâu làm gì, không ai được biết công việc của người khác. Chỉ biết ông là cán bộ cao cấp, công việc quan trọng, có đội bảo vệ mạnh, chúng tôi đi ghép vào vô cùng thuận lợi. Nhưng tối hôm đó, chúng tôi chỉ được đưa tới ở với một đội du kích, đoàn của ông Nguyễn Hộ biến mất. Tôi hiểu công việc bí mật của họ là quan trọng, không vì việc riêng của chúng tôi khiến họ bị ảnh hưởng.


Chúng tôi ở trong một ngôi nhà hoang, nền đúc, cột đá cao ngất, mái bị tốc mất, vách nhà đổ sụp hầu hết. Có thể đoán nhà của một bậc giàu có nào đó, một địa chủ chẳng hạn. Trời đã tối, chúng tôi nấu cơm, nấu nước. Đây là vùng nước mặn, chúng tôi cần có bi đông nước cho ngày mai, có thể có trận càn. Những người du kích có nguồn nước mưa, chúng tôi quen ở rừng luôn uống nước nấu chín. Hai cô du kích ngồi bên kia bờ tường cũng đang nổi lửa, một cô tên Mười.


Pháo hú qua đầu, nổ chỗ này chỗ kia. Chúng tôi không thể ngủ, ngồi dựa tường nói chuyện. Lê Anh Xuân tâm sự với tôi nhiều điều. Anh kể chuyện tình yêu, muốn là người chung thủy. Bắt đầu đi vào với bom đạn, anh cố gắng giữ mình để làm cách mạng, làm thơ, nhưng anh không muốn tỏ ra hèn nhát. Sau này tôi đọc thấy trong nhật ký của anh: “H. (Ca Lê Hiến) cảnh giác với B.52 là đúng. H. bảo vệ tính mạng của mình tức là bảo vệ cho cách mạng. Sống và chết. H. suy nghĩ nhiều. Dù có chết mà vẫn giữ được tư thế dũng cảm của người thanh niên, của một chiến sĩ. Trong đợt này, H. phải luôn xung phong đi đầu. Chính B.52 thử thách lòng cũng cảm của H.  H sẽ làm được bất kỳ công tác khó khăn nguy hiểm nào. So với khó khăn của các anh bộ đội, H. có thấm vào đâu (6/1966)” .(nguồn)


Tôi thấy những suy nghĩ của Lê Anh Xuân thật trong sáng, nhưng cũng có phần ngây thơ. Tôi nói anh không phải bận tâm về chuyện “nhát gan”, đó là phản xạ tự nhiên của con người, một cành cây gãy còn khiến ta giật mình. Bảo vệ mình là điều cần thiết. Tôi có mấy năm ở Sư đoàn 9 dự nhiều trận đánh lớn, mấy tháng trời quần ở đây trong “trận đánh lớn nhứt” này, tôi dày dạn thêm nhưng cũng “lưng mật” đi, nghe tiếng pháo hú tôi giật mình chạy vô hầm núp nhanh chân hơn những người khác.


Chúng tôi rì rầm đủ thứ chuyện, năm đó chúng tôi chưa tới ba mươi, nói chung cũng chỉ là những chuyện bông lông, tầm phào của tuổi thanh niên.


Tôi kêu Lê Anh Xuân cùng ngủ, không biết ngày mai như thế nào. Nhưng tôi ngủ một chập, thức dậy thấy Lê Anh Xuân vẫn còn nói chuyện rì rầm với cô du kích tên Mười. Cô chừng hai mươi tuổi, da ngăm đen, dáng gọn gàng, thon thả, cầm khẩu AK trong tay nhẹ tênh. Lê Anh Xuân có kiểu nói chuyện thủ thỉ rất dễ đồng cảm, thỉnh thoảng xuýt xoa như tiếc nuối điều gì. Nhưng anh không tiếc nuối điều gì, anh kể tất cả, trải lòng mình ra với tất cả mọi người. Tôi thức dậy, nằm một lúc lắng nghe. Lê Anh Xuân đang kể chuyện hồi nhỏ ở quê Bến Tre, đi học, hái dừa, câu cá dọc theo con đường làng. Anh kể về những cơn mưa ở quê hương, anh nhớ nhứt kỷ niệm đó, có làm một bài thơ về đề tài đó. Anh kể chuyện đi học tiếng Việt, tiếng Pháp. Ba anh làm đốc học, anh được học với thầy Tây. Mười hai tuổi theo cha vào chiến khu, làm ở nhà in, vẫn công việc dính tới chữ nghĩa. Anh kể, thỉnh thoảng thấy thú vị anh cất tiếng cười. Người ta nói tiếng cười không thể giả, thể hiện rõ bản chất con người. Tôi nhớ mãi tiếng cười của Lê Anh Xuân, hiền từ, chân thành, hòa đồng với mọi người. Tôi ngủ lại thức dậy, vẫn nghe Lê Anh Xuân rì rầm, cô du kích chống súng lắng nghe, đống lửa cháy bập bùng cạnh bên.


Từ chiều chúng tôi đã phân công nhau, chúng tôi và đội du kích thay nhau gác mỗi người một tiếng, canh chừng biệt kích cùng các chuyện khác. Nhưng Lê Anh Xuân và cô du kích đã tình nguyện thức luôn, từng chập tôi thức dậy rồi ngủ tiếp. Trong cơn mơ màng tôi hình dung Lê Anh Xuân biến thành anh nông dân, thành người du kích, giống như hình anh bận quần áo bà ba đen quấn khăn rằn chụp mấy năm trước ở quê Bến Tre.


Ngày hôm sau bình yên, một tiếng pháo nổ cũng không. Không thấy người của ông Tám Yến kêu đi tiếp vào Sài Gòn. Tôi không quan tâm, tôi đã biết “chảo lửa” ấy là như thế nào. Lê Anh Xuân chưa biết, nhưng anh yên tâm đang trên đường đi. Chúng tôi vẫn ở trong ngôi nhà hoang ấy. Hai cô du kích thỉnh thoảng tạt qua chỗ chúng tôi, cô Mười cười với Lê Anh Xuân rồi chạy đi, không biết làm công chuyện gì. Chúng tôi nấu cơm, nấu nước, ngồi dật dựa, chặt mấy tàu lá dừa nước che nắng. Lê Anh Xuân giở sổ ra ghi chép. Anh rất siêng ghi chép, có một cuốn sổ dày, cần cù tỉ mẩn đúng tác phong của một thầy giáo. Tôi ước gì có được phần nhỏ của anh. Tôi là người không ghi chép, đó là thất bại lớn trong đời tôi. Hai cô du kích đem cho chúng tôi gói xôi nếp của bà con trên xóm “ủng hộ”. Chỗ chúng tôi ở là “địa hình”, không có người ở, địch tự do dội bom pháo, bà con trên xóm thường gởi cơm nước phòng hờ có càn bố. Tôi nói gói xôi nhỏ xíu, ai ăn ai nhịn? Hồng Tân nói hay cô du kích chỉ gởi riêng cho Lê Anh Xuân? Lê Anh Xuân chỉ ừ è, theo kiểu của anh.


Đêm hôm đó lại diễn ra cảnh chuyện vãn rì rầm bên đống lửa, sáng hôm sau trận càn nổ ra. Đoàn của ông Tám Yến quả là một đoàn quan trọng, tổ chức chu đáo, ngay từ đầu đã cho người sang bố trí HBM (hầm bí mật) cho chúng tôi, do địa phương cung cấp. Đó là vùng đất thấp, nước lên ngập hết các bờ bãi, hầm bí mật phải đặt chiếc lu nhỏ, gọi là khạp, vừa đủ một người ngồi bó gối. Theo nguyên tắc, cánh ông Tám Yến biến mất, chuyện ai nấy biết, một người tên Tám Nghệ liên hệ với chúng tôi. Đó là một ông già vui tính, thông thạo mọi chuyện, chỉ dẫn cho chúng tôi từng chi tiết nhỏ nhặt. Thấy tôi làm rớt một mẩu giấy nhỏ ông vội lượm lên vo tròn cất đi, trợn mắt nói: “Đây là lông ngỗng của Mỵ Châu! Biết không?”. Ý muốn nói là dấu vết để lộ sự có mặt của chúng tôi.


Chúng tôi chuẩn bị đủ cả, ba lô cực kỳ gọn nhẹ, khẩu súng ngắn, gói cơm vắt muối mè, bi đông đầy nước, tất cả phải được đưa xuống hầm. Không việc gì phải vội, bọn lính còn xa, đi tới đâu bắn tới đó, nghe tiếng súng nổ gần hãy xuống hầm. Ông Tám Nghệ chạy tới lui dặn chúng tôi vậy, báo tình hình bọn lính, đang ở đâu, còn cách bao xa. Bao giờ trong trận chiến cũng có một vài người tháo vát nổi trội. Đội du kích cũng thỉnh thoảng xuất hiện, hai cô du kích không còn là hai cô gái xinh xắn, quần áo ướt đẫm, tóc rối, mặt mày căng thẳng. Lê Anh Xuân cũng căng thẳng không kém, lần đầu tiên đối diện với trận càn, chun hầm bí mật. Tôi cũng chỉ có vài lần chun hầm chỗ anh Nguyễn Văn Thể, không gọi là có kinh nghiệm. Nhưng tôi vẫn bình tĩnh, tin tưởng đội du kích, tuy chỉ đủ sức quấy rối là chính, nhưng cũng khiến bọn lính phải đối phó, không còn tâm trí đâu tìm khui hầm.


Tôi đến kiểm tra hầm của Lê Anh Xuân và Hồng Tân, chỉ là để động viên hai anh. Chúng tôi tiếc không có lựu đạn, súng ngắn rất khó xoay trở trong hầm. Tiếng súng đã gần, ông Tám Nghệ hiện ra khoát tay. Tôi trở về chỗ hầm của mình, chun xuống hầm nhưng để mở nắp, ló nửa mặt nhìn chung quanh. Súng đã nổ sát bên, đạn bay trên đầu, cùng tiếng la thét, tiếng giày giẫm lạo xạo, thoáng thấy bóng bộ đồ vàng của lính Cộng Hòa, tôi liền thụt đầu xuống nhẹ nhàng đưa hai tay bưng chiếc nắp hầm đậy lại, canh chừng thật vừa khít, cơn ngột ngạt liền nổi lên khiến tôi muốn ngộp thở. Tôi chưa khi nào chun hầm chật chội như thế này, biết cơ thể chưa quen với sự thiếu dưỡng khí, cần phải có thời gian. Quả nhiên sau đó tôi thấy đỡ hơn, nhưng rồi không lâu cảm giác váng vất, tức thở càng nặng nề hơn. Tôi biết ngay do thán khí tôi thở ra, nặng hơn không khí chìm xuống dưới đáy hầm, đẩy dần không khí ra ngoài. Tôi không màng tới đám lính đang chạy lạo xạo bên trên, đang làm gì, nổ súng bắn ai. Tôi đang lo đối phó với nguy cơ chết ngạt của tôi. Vùng ngập nước đất ướt nhão, kể cả phía trên mặt, tôi lấy ngón tay xoi thử một lỗ, thấy không ăn thua, nhanh như chớp tôi nhớ ra ngay nguyên tắc bình thông nhau. Tôi học toán, ham thích khoa học, hàng ngày tự bồi bổ cho mình những kiến thức tự nhiên: cái này là cái gì? tại sao lại như vậy? Tôi biết chính hôm đó kiến thức khoa học đã cứu mạng tôi. Tôi có xoi bao nhiêu lỗ đi nữa, thán khí vẫn cứ chìm bên dưới dần dâng lên đầy hầm, tôi sẽ chết ngạt. Tôi cần xoi hai lỗ đối xứng nhau, càng xa nhau càng tốt, quạt đẩy không khí lên từ lổ này, lổ kia không khí sẽ được hút vào. Tôi kể thì lâu nhưng nghĩ thật mau, tức thời làm y như vậy, bít lại lỗ vừa xoi, xoi hai lỗ khác sát mí hầm đối xứng nhau, bụm tay quạt thử lỗ bên này, kề mũi vào lỗ bên kia, tức thời nghe có hơi mát lạnh. Tôi mừng rỡ biết mình sẽ sống. Điều may thứ hai cứu giúp tôi. Mấy tháng trời ở đồng bằng tôi đã mất đôi dép râu từ lâu, toàn đi dép Thái Lan. Tôi nghĩ ngay đến chuyện dùng chiếc dép thay cho tay quạt, quả nhiên hơi mát hút vào tăng lên gấp bội.


Cũng không dễ dàng gì, mỏi rụng rời tôi vẫn phải cứ đung đưa chiếc dép, nghển cổ dí mũi vào chiếc lỗ đối diện, nhưng tôi biết chắc không bị chết ngạt. Tôi yên tâm theo dõi bọn lính bên trên.


Lúc đó vào gần trưa. Bọn lính sau khi lùng sục bắn phá, có vẻ chúng muốn chọn chỗ chúng tôi làm chỗ nghỉ quân, điều không may và cũng là điều may. Chúng sẽ không sục sạo gì thêm nữa, nghỉ ngơi ăn uống, nếu không có chuyện điều quân nào khác, sẽ chờ đến chiều rút quân. Chúng không nghĩ ở đây có hầm bí mật, hoặc có nghĩ cũng lờ đi, chiêu tung lựu đạn “cưa đôi” chúng thừa biết.


Khu vườn có nhiều mương nước, hầm của tôi được đào trong một khóm cây cách hai đầu của một bờ đất, hai bên đầu có nước, người đào hầm đã tính điều đó, đám lính khó bề bước qua. Nhưng chúng ở cách đó không xa, bờ đất bên phải bên trái đều có chúng, tôi nghe chúng nói chuyện rõ mồn một. Đám lính nói chuyện nhiều không thể tưởng tượng được, để khoe mẽ, che giấu căng thẳng, hoặc gì nữa không biết, tôi lắng nghe chúng có nói chuyện khui được hầm nào không, hoặc bắn chết ai nhưng chúng không nói chuyện đó. Chúng nói chuyện ăn nhậu ở trại, chơi gái, lương tháng, hàng hóa, mua bán đổi chác. Một tên lính luôn đi tới lui trên bờ đất sát bên tôi, dộng báng súng xuống đất thình thịch, nói chuyện với một tên lính khác về chuyện bắn chết một con trâu trong trận càn trước. Con trâu rất hung dữ, tự dưng nổi điên lên xông vào, nó xả súng bắn nhưng con trâu tránh được, rẽ ngoặt sang một bên hất tung một tên lính văng ra xa, không trúng mũi sừng tên lính lồm cồm bò dậy được, nhưng khẩu súng lại vướng vào sừng đung đưa qua lại trong đà chạy điên khùng của con trâu. Trời đất quỉ thần ơi, con trâu mang súng AR15, chỉ thiếu điều nổ súng bắn nữa thôi! Đám lính thấy ra là một trò vui, chạy ào theo xả súng bắn, con trâu chạy tránh được hết, chạy cắm vào chỗ có đông đám lính, những bộ quần áo màu vàng khiến nó không ưa, đám lính sợ bắn nhầm vào người mình chỉ bắn bổng lên trời. Cuối cùng rồi con trâu cũng bị lùa ra đồng, bị xua xuống một bãi lầy, một cuộc tàn sát khủng khiếp diễn ra, cả chục khẩu súng châu vào bắn chỉ một con trâu, con trâu rống lên chồm dậy tung cú húc cuối cùng, một tên lính ngã văng, trước khi nằm chổng vó, đầu vỡ toác, bụng tuôn máu thành vòi…


Tôi đổi tay quạt liên tục, bên phải bên trái, mũi ghếch lên cũng đổi theo, trong bản năng giành sự sống. Đám lính lặng đi một lúc rồi lại nói chuyện, hò hét giành nhau cái gì đó, rồi lại vắng lặng như bỏ đi đâu. Bỗng tôi thót tim nghe một tên lính nói sát bên, ngay trên miệng hầm, tôi nín thở dừng tay quạt chờ đợi, nòng súng chĩa thẳng, nhưng vẫn khóa cò. Nhưng nó chỉ hỏi giờ một tên lính khác, đồng hồ của nó tự dưng không chạy nữa.


Tôi cũng có đồng hồ, soi lên lỗ thông hơi thấy đã một giờ. Tôi còn chịu đựng ít nhứt ba tiếng đồng hồ nữa. Vẫn không ngừng quạt, tôi ăn miếng cơm, uống miếng nước, cốt để bớt căng thẳng. Bụng no ảnh hưởng tới thần kinh. Buồn ngủ kinh khủng, nhưng tôi biết đó là mối nguy hiểm hạng nhứt. Tôi cũng không suy nghĩ chuyện gì khác ngoài chuyện lắng nghe bọn lính bên trên.


Thời gian như không trôi đi đâu cả. Người tôi tê cứng, không cục cựa nổi mình, tay quạt và mũi hít thở như một cái máy. Tôi để cho mồ hôi chảy tràn xuống mắt cay xè, chống trả lại cơn buồn ngủ như ma quỉ cướp lấy hồn tôi.


Bốn giờ rồi cũng đến, bọn giặc rút, rất đúng giờ. Tôi nghe yên ắng một lúc lâu, vẫn chưa vội mở nắp hầm. Rồi nghe tiếng người vui vẻ, không phải giọng cộc cằn của bọn lính, tôi vẫn ngồi yên. Cho đến khi nghe chính tiếng ông Tám Nghệ: “Lên đi! Chúng rút hết rồi”. Tôi mở nắp hầm nhưng bị cứng người, không thể bước lên được, ông Tám Nghệ phải nhảy qua mương nước giúp tôi. Tôi hỏi: “Lê Anh Xuân, Hồng Tân đâu?”. Ông Tám Nghệ nói chưa thấy, ông đến đây trước. Tôi bảo chạy mau đến chỗ đó. Tôi cảm thấy lo lắng. Và điều tôi lo lắng là đúng: Lê Anh Xuân đã chết cứng người. Tôi chạy mau đến hầm Hồng Tân. Anh cũng chết y như vậy.


Trong đoàn chúng tôi có một anh bác sĩ. Anh nói đó là trường hợp trong y học gọi là bị choáng, đầu óc căng thẳng kết hợp với thở thiếu oxy, nhiều thán khí, người mê muội dần đến không cử động được. Hôm đó không biết anh đi làm công chuyện gì, lại dẫn theo đứa con trai mười lăm tuổi. Hai cha con anh chun hầm cũng bị ngộp, trồi lên ngồi trên bụi lá dừa nước, chờ bọn giặc đi tới nổ súng thí mạng với chúng. Nhưng bọn giặc đi rẽ ra hai bên, không nhằm chỗ hai cha con.


Đội du kích có hai người chết trong chiến đấu. Tối hôm đó. chúng tôi chôn cất những người đồng đội. Không có thời gian, cũng không có phương tiện, chúng tôi chỉ định chôn cất sơ sài bằng quần áo. Nhưng thật bất ngờ trên xóm dân đưa xuống bốn chiếc hòm, do một ông già dẫn đầu, cùng với rơm bó để tẩm liệm. Ông già nói nghe súng nổ, biết trận càn xảy ra, nghe bom pháo biết mức độ ác liệt của trận càn, sẽ có thương vong, đã cho bà con gom ván đóng hòm trước. Thật không thể tưởng tượng có dân tộc nào trên thế giới có được “kinh nghiệm xương máu” như thế.


Tôi quấn thân thể Lê Anh Xuân bằng chính chiếc võng thân thiết của anh, đã cùng anh vượt Trường Sơn, về Bến Tre, rong ruổi trên rừng, về tới sát bên Sài Gòn. Tôi nhớ tôi còn nói như thế này: “Hiến nằm với chiếc võng, nhưng tôi xin lại cặp dây dù, anh em ở cơ quan có khi cũng cần”. Ở rừng dây dù là thứ quí giá. Nhưng tôi nói vậy rồi tôi vẫn không lấy cặp dây dù, sau này năm 75 về lấy hài cốt anh, cặp dây dù vẫn còn nguyên. Thân xác con người trở về với đất mau hơn các vật thể khác.


Chúng tôi lấp đất. Du kích bắn ba phát súng. Ông già ở trần, bận quần cụt, quấn khăn mỏ rìu cất giọng sang sảng đọc mấy câu kinh, rồi đưa tay chào theo kiểu quân đội.


Tôi ghi nhớ thứ tự mồ chôn các anh: theo hướng Bắc, bắt đầu từ bên trái: Lê Anh Xuân, Hồng Tân, hai anh du kích. Sau này tìm mộ tôi thấy đúng như thế.


Tôi mang ba lô, khẩu súng của Lê Anh Xuân trở về ngôi nhà hoang. Hai cô du kích đợi chúng tôi ở đó. Nhìn thấy tôi mang hai khẩu súng, cô Mười hiểu chuyện gì đã xảy ra, bật khóc òa lên. Tôi biết suốt đời tôi sẽ không quên tiếng khóc ấy.


Cô du kích thứ hai tên Hoàng kể cho tôi nghe, đội du kích chiến đấu từ sáng tới chiều với một cánh quân Mỹ, hai cô quần với mấy tên Mỹ ở một cụm lá dừa nước, nhảy thoăn thoắt từ bụi này sang bụi kia, tụi Mỹ bắn như điên nhưng hai cô vẫn tránh được, cuối cùng chúng đành thu quân.


Ba lô Lê Anh Xuân chỉ có bộ quần áo, quyển sổ tay, vài vật dụng cá nhân. Tôi viết vào dòng cuối cuốn sổ nhựt ký, cốt ghi nhớ chỗ chôn cất:


“Ngày 24/5/1968, (thứ sáu)


“Hôm nay là ngày Hiến hy sinh. Khoảng trưa. Hiến không còn nữa. Hiến chết dưới HBM. Lạ thật. Đến tối, Thảo và anh em chôn cất Hiến ở ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước”.


Sau này nhiều người hỏi tôi chữ “Lạ thật” là như thế nào? Tại sao tôi viết như vậy? Thật ra tôi ghi mấy dòng ấy chỉ cốt ghi ngày giờ, địa điểm để ghi nhớ. Chữ “Lạ thật” có thể hiểu biểu lộ sự ngạc nhiên, bàng hoàng của tôi, tôi không tin chuyện Lê Anh Xuân có thể xảy ra. Đúng như vậy, nhiều ngày sau tôi vẫn cứ bàng hoàng, tưởng như chuyện trong mơ. Tôi đã từng lăn lộn, chuyện sống chết không lạ gì, riêng chiến dịch Sài Gòn tự tay tôi chôn cất không biết bao nhiêu người. Nhưng Lê Anh Xuân với tôi quá thân thiết, bao nhiêu đêm chúng tôi giăng võng nằm bên nhau chuyện trò như hai người anh em.


Tôi trở về. Tôi chỉ có nhiệm vụ đưa hai anh vào Sài Gòn, hai anh không còn nữa. Anh Viễn Phương có viết chuyện những ngày cuối cùng của Lê Anh Xuân, có đoạn kể chuyện tôi trở về như sau:


“…Bỗng một bóng người lách qua cửa, bước vào. Con Mực hực một tiếng nhưng không sủa, chạy theo ngoắc đuôi mừng rỡ.


- Ủa, ai như Lê Văn Thảo? Sao về sớm vậy? – Tiếng ai đó hỏi.


Thảo không trả lời mà hỏi lại:


- Chú Tám (Tám Nhàn – Nguyễn Văn Bổng) đâu rồi?


Tôi chỉ ra bệ cửa sau. Anh Tám đang ngồi im lặng nhìn ra cánh đồng xa. Lê Văn Thảo đến nói gì nho nhỏ. Chỉ nghe anh Tám kêu lên: “Trời ơi!” – rồi hai người dắt nhau ra bờ dừa nước. Anh Rum Bảo Việt lật đật chạy theo. Tôi nghĩ ngay đến một việc chẳng lành.


 


Mười phút sau các anh trở vào. Anh Tám Nhàn đến kề tai tôi nói nhỏ:


- Lê Anh Xuân và Hồng Tân hy sinh rồi!”.


Tôi xin mở dấu ngoặc nhỏ. Bạn đọc thắc mắc tại sao tôi không báo tin ngay cho anh Viễn Phương, phải đi gặp ông Nguyễn Văn Bổng. Tôi lúc đó chưa tới hai mươi, lại nhiều năm ở quân đội, chuyện “kỷ cương” rất “nghiêm túc”, chuyện hệ trọng tôi phải báo thủ trưởng, tức ông Bổng.


Sau này nhớ lại về trận đánh Tổng tấn công năm 68, tôi gọi đó là trận đánh hào hùng và bi thảm. Tôi không ngại nói từ thứ hai đó. Có quá nhiều chết chóc, không nói đến điều đó là xúc phạm đến những người đã hy sinh. Riêng với tôi, cái chết của Lê Anh Xuân là giọt nước tràn ly. Tôi cần phải trở về R, tìm một góc riêng để suy nghĩ.


Tôi kể thêm một chút chuyện sau này tôi đi tìm mộ Lê Anh Xuân. Năm 75, chỉ trong nửa đầu tháng 5 về Sài Gòn, tôi đã tìm về đó. Nhưng tôi đã chủ quan, cảnh vật đã thay đổi, bom đạn chỉ trong ngày thay đổi diện mạo cả đất đai, huống chi cả bảy năm. Tôi lùng tìm không thấy đâu là cánh đồng, con rạch, con đường lộ đá khi xưa. Hỏi cũng không ai biết. Ngôi nhà hoang vẫn còn, nhưng từ đó tôi không biết đi theo hướng nào. Tôi tìm suốt buổi sáng rồi buổi chiều vẫn không thấy tăm hơi. Tôi trở về Sài Gòn, sáng hôm sau xuống tìm tiếp. Lần này tôi đổi hướng, không tìm cảnh vật mà tìm người. Tìm những ai biết về trận Tổng tấn công năm 68. Nhiều người biết về trận đánh, nhưng không ai nhớ bốn người chết trong ngày tháng đó. Tôi tiếp tục đi tìm, không ngại mất thời gian, đường đi cũng dễ dàng, không có bom đạn theo từng bước chân như ngày xưa. Chuyến đi gợi lại những kỷ niệm cũ, những người, những vật khiến tôi bồi hồi xúc động. Tôi gặp những bà má, cũng kêu bằng “má”, bà vỗ vai tôi nói: “Mày làm tao nhớ lại hồi xưa”. Tôi nói: “Thì chính con đây. Hồi xưa con ở đây, chui rúc dưới mấy đám lá kia”.


Ấp Phước Quảng không phải là lớn, tôi đi khắp cả, tìm kiếm những người du kích, dân làng đã cùng chôn cất bốn người chết năm ấy. Tôi tìm đến những chỗ chôn cất, khu tập thể cả trong vườn nhà riêng, đọc kỹ những tấm mộ bia, người chết trải dài theo năm tháng, có người chết từ đầu thế kỷ, thời chống Pháp. Chống Mỹ là nhiều nhứt, có người chết ngay trong năm 75. Ở đâu tôi cũng đốt nhang khấn vái, cầu mong được bình an, và cho tôi tìm được mộ người thân. Cả những ngôi mộ không bia tôi cũng dừng lại rất lâu, đốt nhang khấn vái, tìm chung quanh dấu vết của ba ngôi mộ kế tiếp nằm thẳng hàng.


Ngày hôm sau tôi gặp may mắn, vừa tới nơi chỉ mới đi loanh quanh ông già quấn khăn mỏ rìu đến tìm tôi. Tôi đã quên mất ông. Vẫn với giọng sang sảng ông nói:


“Qua nhớ chú em mà. Chú em tên gì?”.


“Cháu tên Thảo”.


“Đúng rồi. Sao chú em không đi tìm qua? Qua nhớ bốn ngôi mả đó mà, quên sao được? Nhiều ngôi mả khác qua cũng nhớ. Người sống cứ sống, người chết không được quên. Đi theo qua!”.


Vậy là tôi tìm được mộ Lê Anh Xuân. Tôi đứng nhìn về hướng Bắc, bên trái là con lộ đá, mộ Lê Anh Xuân đầu tiên từ trái qua, kế đến là Hồng Tân, hai người du kích tiếp theo.


Ông già mời tôi về nhà chơi nhưng tôi nói để khi khác, hôm nay tôi phải ngồi lại với những người bạn của tôi.


9 – Chuyện nhỏ thay cho lời kết


Gần đây, nghĩa là sau gần bốn mươi năm sau chiến tranh, một buổi sáng chuông điện thoại tôi reo.


“Ai đó?”, tôi hỏi.


“Anh Thảo phải không?”, giọng một phụ nữ, hơi thều thào già lão.


“Tôi đây”.


“Không nhận ra giọng em phải không? Lâu quá rồi, hơn bốn mươi năm rồi. Ng. đây. Điện cho anh do hôm rồi đọc bài báo anh viết về chuyện bài hát “Sóc Bom Bo” của nhạc sĩ Xuân Hồng, em có mặt đồng ý, có mặt cũng không đồng ý…”.


“Không đồng ý về chuyện gì?”.


“Chuyện dài lắm, không nói trong điện thoại được. Nhưng em không thể gặp anh, em giờ già yếu bịnh hoạn, gần như nằm một chỗ không đi đâu được. Anh chắc cũng vậy chớ gì? Thôi thì nói qua vậy thôi…”.


Vậy thì nói làm gì, tôi nghĩ bụng. Ng. là cô gái thanh niên xung phong, năm ấy chưa tới hai mươi. Tôi có hơn năm công tác ở đó, độ năm 69, tôi thích cô và cô cũng biết điều đó. Nhưng rồi chuyện không đi tới đâu, như thường thấy trong chiến khu, hôn nhân là điều “xa xỉ” thanh niên trai gái ít khi mơ tưởng tới. Nhưng Ng. là cô gái vui tính, cởi mở, không lấy thế làm phiền. Hơn năm, ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau, chuyện trò vui vẻ, rồi tôi hết hạn công tác ra đi, chấm dứt tất cả, hồi đó không làm gì có cái “a lô” để nối tiếp những ngày quen biết.


Còn chuyện bài hát “Sóc Bom Bo” là như thế này. Năm 1966, anh Xuân Hồng sang cơ quan chúng tôi chơi ít tháng trước khi lên đường ra Bắc. Một hôm, anh đến nhà tôi và Lê Anh Xuân chơi, biết tôi biên tập tạp chí “Văn nghệ giải phóng”, anh hỏi tôi có thấy bài thơ nào hay đưa anh phổ nhạc. Tôi nói may quá, tôi vừa nhận được bài thơ ở Tây nguyên, rõ là của một chiến sĩ, viết trên tờ giấy học trò, chữ xiên xẹo lem luốc, tên bài thơ là “Sóc Bom Bo”, lời lẽ rất thật thà, chất phác. Tôi đưa anh bài thơ. Mấy năm sau bài hát được phát, rất nổi tiếng, tôi chỉ biết vậy thôi, đâu còn nhớ tác giả là ai. Mãi về sau này một nhạc sĩ nói với tôi có nghe nói bài hát phổ từ một bài thơ, nhưng không biết tên tác giả. Tôi nói đúng như vậy, và ngoài anh Xuân Hồng, người thứ hai biết điều đó là tôi. Tôi nói điều đó ra không phải về vấn đề bản quyền, anh Xuân Hồng chắc đã quên mất, tôi cũng không để ý, ở trong rừng có in ấn gì đâu. Điều tôi muốn nói là anh chiến sĩ chắc đã chết, nếu không anh đã tìm đến Hội nhạc sĩ. Và điều đó cũng thật đẹp, anh đã không còn nữa, nhưng lời thơ của anh mọi người hát mãi. Tôi nói vậy Ng. thắc mắc điều gì? Nhưng tôi không vội nói gì, trong điện thoại không bàn luận gì được. Tôi hỏi địa chỉ Ng., hỏi thăm sơ qua chuyện nhà cửa sinh sống, rồi hẹn ngày nào đó tôi sẽ đến thăm cô. Ng. mừng lắm, không mong gì hơn được gặp tôi, chỉ ngại tôi giờ cũng già lão đi lại khó khăn.


Nhà Ng. bên quận Tám, mặt tiền, trước mặt con lộ nhựa nhưng chỉ buôn bán mấy món tạp hóa lặt vặt, chủ yếu chỉ để hứng bụi. Phía sau là con rạch nước không chảy, bốc mùi hôi thúi. Nhà cấp bốn, nền gạch Tàu, mái tôn, có ngăn trần nhưng mới sáng đã nóng hầm hập.


Gặp tôi, Ng. rất mừng, nằm trên giường nhổm dậy chào tôi rồi lại nằm xuống. Tôi bắc chiếc ghế ngồi cạnh bên. Đã biết tuổi già tàn tạ, tôi cũng vậy, nhưng không ngờ Ng. đến mức ấy. Không còn chút sinh khí nào. Thời gian nghiệt ngã! Ng. đã là một bà già tàn tạ, đã qua tuổi 60 từ lâu rồi.


Sau khi tôi rời đơn vị, năm sau Ng. bị bịnh liên tục không còn sức vác đạn tải gạo, chuyển về văn phòng Tổng đội, rồi về hậu cần của Miền, làm việc hụ hợ thêm hai năm rồi xin về quê năm 73, không được vinh dự trong hàng người tiến về thành phố ngày giải phóng; cũng không lấy được chồng, đã quá tuổi, bịnh hoạn đeo đẳng. Sau giải phóng, may mắn đồng đội tìm đến vận động địa phương cho được miếng đất, góp tiền cất được căn nhà. Chỉ vậy thôi, không có gì hơn. Không có lương hưu. Ng. có người mẹ dưới quê Bến Tre sống nhờ vào tiền trợ cấp hai người anh liệt sĩ, Ng. không muốn về đó làm phiền mẹ. Ng. may mắn ở trong xóm có đám trẻ thật tốt, chúng đi bổ hàng giùm cho Ng., bày lên kệ, khách tới mua tự lấy hàng trả tiền, Ng. nằm trên giường như một ông vua ngọa triều.


Ng. kể mọi chuyện tôi nghe với giọng không buồn, không vui, ngồi dậy rồi lại nằm xuống, nhờ tôi rót cho ly nước. Ng. uống nước, nói về chuyện bài viết “Sóc Bom Bo” của tôi, rằng Ng. chỉ nói cho vui vậy thôi, thật sự Ng. rất cảm động thấy tôi nhắc lại nhiều chuyện hồi ở trong rừng, những kỷ niệm không thể nào quên không của riêng ai.


Nhưng Ng. cũng hỏi tôi tại sao tôi nói không muốn nói ra, vẫn cứ nói. Giữ yên trong lòng không được hay sao? Mỗi người có những kỷ niệm riêng, giữ yên trong lòng là tốt nhứt. Anh chiến sĩ ấy, bài thơ ấy, mọi người hát lời thơ đâu cần biết anh là ai.


Ng. bắt đầu kể lại chuyện cũ, có lẽ đây là điều Ng. muốn gặp tôi. Ng. kể những lần đi thồ gạo, cả đại đội chỉ có mấy người con trai, còn lại toàn con gái rất đông vui. Xe đạp thồ rất chắc chắn, thay chỗ yên xe là một khúc cây nống lên, tay cầm cũng được nối dài, cứ thế tay đẩy tay lái, hai bao gạo hai bên một bao bên trên, mỗi bao trăm ký, còn có thể chất thêm nữa nếu đường rừng không quá dốc, hoặc qua những chỗ lầy lội. Cả bọn con gái nói chuyện huyên thuyên, anh đại đội trưởng quát nạt cũng nói, kể chuyện đêm hôm mơ gì, hai đứa nói với nhau rồi nói chuyền cho cả bọn cùng nghe. Chuyện gì cũng nói, không có chuyện gì cũng nói. “Tụi bây có biết con H. đêm hôm mơ thấy gì không?”. “Không biết. Nó mơ thấy gì?”. “Tao cũng không biết. Ha ha ha…”.


Ng. hấp háy đôi mắt già nua, một giọt nước mắt lăn dài, kể tiếp chuyện trong rừng. Đoàn xe thồ dài mút mắt, đi len lỏi trong rừng, vòng quanh trảng, dừng lại nghỉ chân ở một bìa rừng, cả một rừng sim trái chín tím thẫm bao quanh. Cả bọn tranh nhau hái sim, tranh giành nhau, rồi lại chia nhau cùng ăn trong bụm tay. Buổi chiều dừng lại nấu nướng, có lịnh truyền xuống phải đi đêm, vậy là phải cơm vắt cơm giở, nước sôi đong đầy bi-đông. Đi đến nửa đêm dừng lại ngủ, gần sáng bỗng nghe tiếng cất lên, giọng non tơ: “Má ơi!”. Rồi tiếng cười rú lên tiếp theo: “Con H. nằm mơ thấy má, tao nói đúng không?”. Nhiều người khác cũng cười, cả bọn thức dậy nói chuyện tới sáng, đàn bà con gái sao mà nhiều chuyện.


Ng. kể có dạo đơn vị đóng quân rất lâu ở một con suối nước chảy ầm ào,  buổi chiều tải đạn, tải gạo xong cả bọn xuống suối tắm, bọn con trai ít thôi tắm đoạn suối dưới hạ nguồn, dành cả một đoạn dài thượng nguồn cho con gái. Suốt ngày với chiếc xe thồ đầu bù tóc rối, quần áo bụi bặm, chiều về xuống suối trút tất cả ra, ai nấy đều trở nên non tơ, tươi tắn, cười nói nhí nhảnh. Họ đi rồi dân làng gọi con suối là Suối Con Gái.


Ở rừng, chuyện yêu đương không cấm nhưng cũng không khuyến khích, chuyện hôn nhân càng khó khăn hơn. Nhưng rồi cũng có đám cưới xảy ra, trai gái tuyên bố muốn lấy nhau tổ chức không thể cấm cản. Nhỏ N. bạn thân của Ng. bỗng một hôm nói sẽ lấy anh liên đội trưởng, không làm đám cưới cũng lấy. Ng. bị cú sốc thật sự. Lâu nay, có thấy nó quen anh liên đội trưởng hồi nào đâu? Chính anh liên đội trưởng quen Ng., thường hay tìm trò chuyện, Ng. thấy anh ta có cảm tình với mình cũng tìm cách làm quen. Giờ anh ta lấy con nhỏ, coi như Ng. mất cùng lúc cả hai. Đang đợt nghỉ quân, đám cưới tổ chức thật linh đình, cả một đội con trai đi săn kiếm thịt, con gái ngâm gạo giã bột làm bánh, rượu đặt mua bên Miên lạt nhách nhưng uống cũng say. Hôm đó, Ng. làm dâu phụ, quyết tâm uống thật say, không biết để trả thù cái gì. Và quả tình Ng. say thật, ngủ ngay trên chính chiếc giường của cô dâu chú rể, mọi người phải khiêng Ng. đi. Chuyện đó khiến Ng. buồn cả tháng, sau đó biến thành kỷ niệm ngọt ngào lâng lâng, mỗi lần nhớ tới dạt dào cảm xúc.


Nằm trên chiếc giường ọp ẹp trong căn nhà mái tôn nóng như lửa, giọng thều thào tàn tạ, Ng. không nhắc gì tới chuyện gian khổ chết chóc, chỉ kể chuyện vui, đám cưới, hái trái sim, tắm suối, cả bọn chuyện trò cười nói ríu rít buổi tối trước khi ngủ. Ng. nói giờ đây Ng. chỉ nhớ lại những chuyện đó, những kỷ niệm êm đẹp năm năm ở trong rừng, gần bốn mươi năm sau năm 75 trôi tuột đi không còn gì.


Tôi ra về không hẹn ngày trở lại. Còn rất nhiều bạn chiến đấu như Ng. tôi cần phải gặp, nhưng không có dịp, không biết tin tức địa chỉ, đôi khi gặp nhau trong cuộc họp bị công việc cuốn hút, chuyện riêng tư không hỏi thăm được gì.


Một dạo rất lâu có người bạn ở trong rừng nhắc tới Ng., tôi lục tìm số điện thoại nhưng đã lạc mất, người bạn cũng không có, hỏi mấy người cũng không ai biết, tới giờ cũng không biết Ng. như thế nào.


4 – 2015


LVT.


Nguồn: Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm. Hồi ký của Lê Văn Thảo. Bản thảo tác giả gửi nhà văn Triệu Xuân tháng 3-2016.


 www.trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info