Ký
17.01.2017
Michel Đức Chaigneau
Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX (2)



Thuận Thiên Cao Hoàng hậu


Người này trông giống như phụ nữ nhưng bận đồ nam, nhưng trông chẳng ra nam cũng chẳng ra nữ: Đó là vị đứng đầu các thái giám.


Con người tội nghiệp này có hình thù bề ngoài quá ư xấu xí chưa từng thấy: khuôn mặt nhỏ và da bọc xương, sắc diện và nếp nhăn nhúm làm trông giống như một trái táo xanh để lạc mất đâu đó cả mấy tháng trời trong một nhà kho. Ông vừa đi, người vừa đong đưa như tự khoác cho mình dáng vẻ của một nhân vật quan trọng.


Gian phòng của hoàng hậu cũng lớn tương tự như gian phòng trước đó, khá đẹp mắt về cả trang trí và đồ nội thất: khắp nơi đều rực sáng lên sự giàu sang và ngăn nắp sạch sẽ; không khí ta hít thở như có hương thơm ngọt pha trộn mùi đàn hương, hoa trái và khói thuốc hút loại được tẩm hương của một loài hoa gọi là hoa - ghâu (hoa ngâu). Một cái sập không cao với đường diềm chạm trổ trên nền sơn son, được đặt trước một khung cửa rộng lớn nhìn ra sân. Đó là sập gụ duy nhất để ngồi: là nơi ngồi chơi hay nằm nghỉ của chủ nhân cung này. Những quý bà được cho phép diện kiến phải ngồi trước mặt hoàng hậu ở tầm thấp hơn trên những chiếc chiếu.


Hoàng hậu mặc đồ thêu lụa vàng, tựa nhẹ người vào một chiếc gối vuông bọc lụa tơ màu vàng có thêu chỉ vàng. Hoàng hậu không còn trẻ nhưng duyên dáng, vẻ rất uy nghiêm. Khi trông thấy tôi bước vào, hoàng hậu nở một nụ cười độ lượng, bà nói: “Đến đây, con trai Ông - Long, ta rất hài lòng được gặp công tử. Vì công tử là con trai của người đã có nhiều công trạng lớn với đức vua. Đức vua với ta rất sủng ái quý trọng ông”. Tôi tranh thủ thời khắc mà tôi còn được nói để vừa tuôn ra lời chúc thiết yếu vừa cúi người bái lạy: “Hạ thần xin bái lạy hoàng hậu! Hạ thần xin kính chúc hoàng hậu vạn tuế, vạn vạn tuế!”. Bái lạy lần thứ nhất xong, tôi định bái lạy tiếp lần thứ hai để nhắm đến làm cho xong lần thứ năm, thế nhưng sau lưng tôi cất lên một giọng nói không mấy thân thiện: “Cậu (cách gọi người ta thường dùng dành cho con các quan) bái lạy hoàng hậu không đúng cách, phải quỳ rạp xuống. Cậu biết rõ mà”. Trời đất, thật là tai họa!


Biết là chẳng tránh né được cách bái lạy theo lối người An Nam, tôi quỳ gối xuống sàn, tôi rạp người bái lạy, tôi đứng lên và làm lại động tác. Rủi thay lần này, đầu gối phải của tôi khi đặt xuống gặp một vật nhọn trồi ra từ chiếc chiếu (tôi tin là như thế) đâm rất đau, tôi cố tránh, mất thăng bằng, loạng choạng rồi ngã sang một bên. Thấy thế, hoàng hậu khẽ la lên rồi nở một nụ cười trong khi quý bà có mặt thì cố nín cười. Lần bái lạy thứ hai này không thành trong khi lần thứ nhất đã không mấy hoàn hảo, tôi xin hoàng hậu thứ lỗi: “Hạ thần xin hoàng hậu thứ lỗi về sự vụng về, hạ thần chưa quen với cách bái lạy này”. Hoàng hậu nói: “Thế thì công tử hãy thử chào ta như thể chào hoàng hậu nước Pháp vậy”. Đang tư thế đứng, tôi nghiêng mình chào năm lần, như cha tôi thường làm vậy trước vua Gia Long.


Sao, chỉ có thế thôi à?


Vâng, tâu hoàng hậu. Ở nước Pháp, thì cũng chỉ chào một lần mà thôi.


Ta thích lối chào ở An Nam, duyên dáng và tôn kính hơn. Nhưng thôi, nào, hãy nói ta nghe gì đó trong tiếng Pháp để chào một hoàng hậu.


J’ai l’honneur de saluer la reine (Hạ thần vinh dự chào hoàng hậu) tôi vừa nói vừa nghiêng mình. Thế có nghĩa là thế nào?


Tôi giải thích câu chữ, hoàng hậu nói tiếp: Phụ nữ Pháp có đẹp không?


Tâu hoàng hậu, hạ thần chưa có dịp mục sở thị, nhưng cha hạ thần bảo là rất đẹp.


Công tử có thấy phụ nữ xứ này là đẹp không? Hoàng hậu đảo mắt nhìn những người phụ nữ đứng chung quanh.


Tâu hoàng hậu, hạ thần nghĩ là khó mà tìm thấy người đẹp hơn, duyên dáng hơn những quý bà ở đây.


Hoàng hậu có vẻ hài lòng với điều tôi vừa nói. Hoàng hậu còn hỏi tôi cả trăm chuyện về nước Pháp, tôi không thể nào đáp ứng được hết một cách trọn vẹn vì tôi chưa từng rời khỏi xứ Cochinchine từ ngày lọt lòng.


Trong khi hoàng hậu tiếp tục hỏi, nhiều nữ tỳ đến đặt trên một chiếc bàn hai cái giỏ: một đựng những trái cây tươi đang giữa mùa, một đựng mứt, bánh ngọt và trái cây khô. Nhiều người khác thì sắp xếp ngay trên cùng chiếc bàn những xấp vải lụa để may mặc, từng đôi một và thành chồng hình vuông. Một người hầu nữ khác thì đặt bên các chồng vải một hộp vuông bằng gỗ nhẹ sơn vàng, với một hình vẽ rồng năm móng vàng rực trên nắp hộp. Hộp này đựng một bộ áo lễ cho nam, quần, đai nịt, áo khoác và khăn đóng. Khi tất cả đã được đặt lên bàn, người phụ nữ với gương mặt nghiêm nghị tranh thủ một lúc ngừng trao đổi để đến bên tôi, vừa chỉ tôi chiếc bàn vừa nói to: “Nhìn đó, Cậu - Đức, (Đức, tên riêng tiếng An Nam, được đặt cho tôi từ khi sinh ra. Có nghĩa là đức độ. Tên riêng này được ghi vào sổ hộ tịch tại Pháp) đó là từ tấm lòng đại lượng của hoàng hậu dành cho cậu!”.


Đoàn ngự đạo hoành tráng


Hằng năm, vào quãng tháng 3, khoảng thời gian người Âu đón lễ Phục sinh, nhà vua làm một lễ tế mà người An Nam gọi là Tế Nam giao (tế lễ hướng nam).


Tế Nam giao là cuộc lễ trọng đại và trang nghiêm nhất trong năm: người ta phô trương hết mức sự hoành tráng để làm nổi bật đoàn ngự đạo lộng lẫy của nhà vua.


Đàn tế, theo như chỉ dẫn của Khổng Tử, phải nằm về phía nam của kinh thành.


Để phục vụ cho ngày lễ tế, người ta huy động tất cả những thứ đẹp nhất từ kho tàng nội phủ triều đình như vũ khí, công cụ vật dụng cho đoàn rước hay trang trí. Nhà vua cho gọi về kinh, từ khắp các tỉnh thành, các thớt voi để bổ sung cho đoàn ngự đạo và thêm binh lính để tạo hàng rào từ cửa hoàng cung cho đến nơi tế lễ, trên một chặng đường đi kéo dài tối thiểu là sáu cây số.


Gần vùng núi đồi, nằm về hướng nam của kinh thành, giữa một rừng thông, là một kiến trúc theo hình nón có phần trên bằng phẳng, với những bậc cấp chung quanh. Mặt đáy kiến trúc rất rộng, thu hẹp lại dần theo chiều cao và dừng lại ở độ cao nhất định để tạo thành mặt bằng [đàn tế] chu vi khoảng 30 m. Trên đàn tế này có dựng lên một mái lều bằng vải màu xanh dương, tượng trưng cho trời: chính dưới mái lều này mà nhà vua sẽ dâng lễ vật tế trời.


Để cầu khấn trời ban nhiều phúc lành cho nhà vua và muôn dân, trước khi lên đàn tế lễ, nhà vua với tư cách chủ tế phải tự thanh tẩy kiêng cữ trong vòng hai mươi bốn giờ. Nhà vua phải ăn kiêng, chỉ có một bữa ăn nhẹ vào tối hôm trước; không ngủ trong chiếc giường lộng lẫy của vua, mà ra nằm trên chiếu trải ra sàn như một kẻ tội đồ ăn năn trước trời đất. Nhà vua cũng không được tiếp xúc với các quý phi và buộc phải ngăn cách với họ để tránh mọi cám dỗ. Do đó, nhà vua phải rời xa cung điện và chuyện cung cấm trong thời gian hai mươi bốn giờ để sống một nơi biệt lập, được dựng lên gần nơi đàn tế vào dịp tế lễ [trai cung].


Vào ngày trước hôm tế lễ, nhà vua rời cung điện để đến nơi ở tạm vào buổi sáng với một đoàn ngự đạo thật hoành tráng: đi trước và đi sau là một đoàn diễu hành đông đúc (như một đạo binh đủ sắc màu), mà phần đầu của đoàn rước là ở đâu tận bên kia sông, chờ nhà vua xuất cung để khởi hành.


Đoàn ngự đạo mở đầu gồm: hai hàng voi khoảng hai chục con, tạo thành một hàng rào mỗi bên; hai hay ba trăm lính cầm thương dài có trang trí cờ (cờ đủ kiểu dáng, bằng lụa đủ sắc màu, một số có ghi chữ Hán) đi đứng chen lẫn; chiêng và kèn [tù và] sừng trâu là những nhạc cụ tạo ra một thứ âm thanh khá chói tai, tương tự những âm thanh mà ở Pháp ta có thể nghe trong những dịp lễ hội lớn. Trong đoàn ngự đạo còn phải kể thêm nào trống nào kèn bát âm, những đội lính mang súng trường, một lá cờ lớn mang những dòng chữ Hán được níu lại bằng một thanh ngang gắn vào đầu mút của một cây cột: cột lại được dựng trên một bàn [kiệu] do bốn người lính khiêng đi; lại thêm hàng trăm cờ phướn như ở phần đầu của đoàn rước, và rồi bộ phận phía trước của đoàn ngự đạo khép lại với hai hàng voi.


Bên kia bờ sông, ở lối vào cung điện của vua, ta có thể thấy voi sắp thành hai hàng, mỗi hàng khoảng mười hai con, tạo thành một hàng rào. Bên trái, bên phải là hàng hàng lớp lớp binh lính đủ mọi binh chủng, xếp theo trật tự để nhập vào đoàn ngự đạo. Ở bờ sông, có ba cầu tàu bằng gỗ, nơi có những chiếc thuyền đáy bằng được ghép chung lại với nhau: thuyền rồi sẽ được kéo từ bờ này sang bờ kia với những dây thừng và tay quay đặt ở hai bên để đưa đoàn ngự đạo qua sông.


Mở màn cho bất cứ buổi lễ nào hay dù chỉ là một chuyến xuất hành bình thường của nhà vua thì luôn có tiếng đại pháo thông báo vua khởi hành (mỗi khi vua xuất cung, có bảy hay chín phát thần công báo tin việc khởi hành, bảy cho những chuyến đi bình thường, chín cho những cuộc lễ lớn. Ba phát súng thần công để báo tin vua đã hồi cung). Nhưng riêng đối với lễ tế Nam giao, tất cả đều phải im tiếng cho đến khi lễ tế kết thúc, cũng không có nhạc cụ nào được dùng để bắt nhịp đi của đoàn quân hành.


Chỉ đến khi giờ khởi hành đã điểm, người ta sẽ nghe hô lên vang dội và chói tai tiếng “dậy” (coi chừng). Voi bắt đầu cất bước và ta sẽ thấy đi ra mỗi bên hai hàng người, mỗi hàng mười hai vị thuộc hàng thế phiệt, với đồng phục giống nhau: áo dài bằng lụa xanh dương có thêu thùa, cài cúc sang một bên, tà áo dài tới bắp chân; trán thắt một dải màu đen bện bằng lông thú; đầu đội mão màu xanh dương đậm có hình vẽ nổi rõ, với một tấm huy hiệu hình tròn bằng bạc chạm lộng phía trước trán. Những vị này mang trên vai phải một thanh kiếm dài tra vào vỏ, họ chạy từng bước ngắn, giữ đúng khoảng cách và từng người từng hồi lại la to lên “dậy”.


Những món ăn lạ lùng


Gian phòng chúng tôi đang ngồi là một phòng lớn hình vuông, nơi làm việc của gia chủ vừa là phòng khách vừa là phòng ăn.


Một cái phản làm bằng gỗ thường chiếm hết nửa gian phòng, trước mặt là một cái bàn bằng gỗ kiền đen láng. Còn nhiều cái bàn kích cỡ khác nhau được đặt dọc theo bức tường ở cuối phòng, trên đó có nhiều chồng sách, hộp thuốc, nghiên mực, bút lông và giấy.


Trên các vách làm bằng gỗ mít màu vàng, có thể thấy chỗ này chỗ kia vài tấm giấy màu đỏ hay màu trắng với những hình vẽ thô kệch về bản xứ hay Trung Hoa, hay đơn giản chỉ có vài chữ Hán.


Vài chiếc chiếu được trải ra phản và nhiều món đồ ngon ngọt của xứ An Nam và Trung Hoa được bày ra trong các đĩa lớn bằng sứ Tàu: quả hồng khô, táo, chuối, cam, khoai lang, mứt gừng, mứt cà chua, mứt cam, bánh quy (giống như loại bánh gọi là kiểu vùng Savoie), ngon không thua gì bánh mứt của Pháp.


Nhộng tằm và trứng vịt lộn


Một lát sau khi chúng tôi vào nhà, một bà giúp việc to béo mang ra một mâm đồng lớn trên đó có ba tô cháo cá và hai đĩa thức ăn: một đĩa nhộng tằm nấu chín có nêm và một đĩa đựng trứng lộn. Một trong hai cô con gái dự bữa ăn đặt bên cạnh cha mình một lọ bằng sứ hình trái bầu đựng rượu trắng có vị thơm và ba chiếc tách nhỏ bằng sứ.


Và rồi gia chủ mời chúng tôi dùng bữa ăn đạm bạc thân tình. Hai vị thâm nho nhấm nháp ngay món nhộng tằm, dùng đôi đũa gắp liền nhiều con một lần, đưa vào miệng không hề sót con nào, rồi lại nhấp hết một tách rượu trắng. Họ mời tôi dùng thử món nhộng nhưng thú thật là tôi chưa bao giờ hợp khẩu vị với món này, cả món trứng lộn cũng vậy. Tôi chỉ dùng món cháo thật ngon và vài thứ trái cây.


Sau món thứ nhất, hai thầy lại bắt tiếp sang món thứ hai: mỗi vị nhẹ tay đập ra một trứng lộn trong đĩa bằng của mình và trút ra hết không để sót lại chút gì. Họ cầm tách ra từ sinh vật vừa mới thành hình từng cái cánh, từng đùi nhỏ, nhổ lông tơ, chấm nhẹ vào muối và đưa vào miệng kèm theo một hạt tiêu (thông thường thì trước nay, phong tục và thói quen phổ biến của người Huế là sau khi bóc vỏ một phần, họ đưa ngay vào miệng và ăn nguyên hoặc một nửa cái trứng lộn để đôi mắt không phải nhìn rõ tất cả như mô tả của tác giả ở đây - ND). Khi cái trứng thứ nhất đã an vị trong dạ dày thì hai vị sành ăn lại bắt tay vào trứng thứ hai, sau khi đã nhấp thêm chén rượu trắng để đưa mồi.


Những phút ban đầu khi gặp lại nhau, hai thầy còn giữ vẻ hơi khách sáo, giờ thì hai thầy rũ bỏ nghi thức để thoải mái chuyện trò thân mật hơn. Cuộc trò chuyện mỗi lúc lại bội phần hưng phấn, thế nhưng vẫn luôn luôn giữ đúng mực.


Sau bữa ăn nhẹ, người nhà lại mang ra cho mỗi chúng tôi một bát trà lớn không đường, cùng lúc đó đem ra cho người hầu chúng tôi những thức ăn còn lại. Người hầu sung sướng nhận lấy để thưởng thức dù trước đó đã ăn rất nhiều hoa trái dại từ rừng trên đường đi dạo.


Để hai vị thầy đàm đạo với nhau, tôi theo chân hai nữ tu ra dạo một vòng ngoài vườn, hai cô không thôi hỏi han chăm sóc cho tôi. Khi tôi trở vào nhà thì cũng là lúc chúng tôi xin cáo từ những vị chủ nhân hết sức hiếu khách. Họ tiễn chúng tôi đến tận cây cầu. Sau vài lời trao đổi thân thương, chúng tôi phải chia tay trong tiếc nuối và hẹn nhau một dịp khác.


Cáo từ gia chủ, chúng tôi quay trở ra con đường dẫn vào làng, rời xa bên trái nơi có một tu viện để men theo khe suối với dòng nước trong trẻo: có nơi thì đổ ào ạt như thác, nơi lại chảy róc rách để cuối cùng đổ ra sông. Sau khi nấn ná đôi chút ở bên khe suối, chúng tôi từng bước rời xa làng và rồi thấy thấp thoáng đỉnh cao nơi khu vực thường tổ chức lễ tế trời (đàn Nam Giao - ND).


Michel Đức Chaigneau


Nguồn: Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức của Michel Đức Chaigneau (Lê Đức Quang, Trần Đình Hằng dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2016)


thanhnien.vn


trieuxuan.info