06.06.2017
Vũ Bằng
Nói có sách (4)



THỰC DÂN PHONG KIẾN LÀ GÌ?


“Thực dân”“phong kiến” là hai từ được nói đến nhiều nhất trong lịch sử đấu tranh ở nước ta.


“Thực dân” là bọn người của một nước đế quốc chiếm nước khác làm thuộc địa để bóc lột dân chúng ở đó. Chủ nghĩa thực dân chủ trương xâm chiếm thuộc địa để thi hành ý định bóc lột nói trên. Trong thế chiến thứ nhì, phát sinh chủ nghĩa thực dân mới. Đó là chính sách của các đế quốc dùng viện trợ kinh tế và quân sự để thao túng các nước nhỏ theo chúng, phải dựa vào chúng mới sống được, không có chúng thì chết.


Vì có từ “thực dân” nên thuộc địa còn có tên là “thực dân địa”.


Còn “phong kiến” là một chế độ xưa cũ, độc đoán, thành lập trên sự áp bức và bóc lột nông nô và nông dân, ruộng đất là của chúa đất, chúa đất giao đất cho nông nô hay nông dân cày cấy mà thu tô. Về chính trị, dưới chế độ phong kiến, quyền hành tập trung trong tay vua quan và chúa đất (vì thế có danh từ “lãnh chúa” để chỉ những chúa phong kiến chiếm đoạt đất của nông dân và bóc lột sức lao động của họ).


Từ đó chữ “phong kiến” được hiểu rộng ra là tất cả cái gì nằm trong phong tục và thói quen do chế độ phong kiến để lại.


“Tư tưởng phong kiến” là tư tưởng chuyên chế, độc đoán.


“Phản phong” là chống lại phong kiến, cũng như “phản đế” có nghĩa là chống đế quốc. Thí dụ: Phong trào phản đế ở nước ta lên cao.


PHƯƠNG CHÂM, PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN,
PHƯƠNG SÁCH, PHƯƠNG TRÌNH


Chữ “phương” có nghĩa là hướng, là mặt. Thí dụ: Bốn phương đông, tây, nam, bắc.


“Phương châm” là hướng phải theo để hành động. Thí dụ: Phương châm công tác.


“Phương kế” là cái cách, là cái lối. Thí dụ: Phương kế sinh nhai.


“Phương pháp” là cách thức đứng đắn để làm một công việc gì. Thí dụ: Làm việc có phương pháp; học phải có phương pháp.


“Phương sách” là biện pháp để giải quyết một vấn đề. Thí dụ: Hội nghị họp bốn năm tiếng đồng hồ, bàn cãi sôi nổi sau mới tìm ra được phương sách để giải quyết vấn đề thanh niên du đãng.


“Phương thức” là cách thức quy định để làm một công việc gì. Thí dụ: Anh em thảo luận rất lâu và quyết định diệt trừ tham nhũng theo những phương thức tích cực.


Muốn thực hiện các phương thức đó, phải có “phương tiện”, nghĩa là vật sử dụng để làm một việc gì, để đạt mục đích.


Thí dụ: Ta đã trưng dụng nhiều xe cộ để làm phương tiện vận tải trong lúc này.


Cuối cùng, “phương trình” là từ thuộc về toán học. Đó là đẳng thức chứa một hay nhiều số chưa biết, gọi là ẩn số, và chỉ nghiệm đúng với những trị số xác định của ẩn số.


MÔI TRƯỜNG LÀ GÌ?


Vấn đề “môi trường” đang được cả thế giới quan tâm, số người thì họ hiểu “môi trường” là hoàn cảnh, là không khí (ambiance) và lấy thí dụ: Ông ở nhà quê, nhà quê là môi trường đem lại cho ông một tư tưởng hiểu biết và yêu thương nhà quê; còn nếu ông ở tỉnh thì tỉnh thành là môi trường của ông. Vẫn theo cách nghĩ trên thì môi trường cũng tựa như câu chuyện trái cam của Án Anh. “Cam ở nước Sở ngọt nhưng sang nước Lỗ thì chua, người nước Sở chân thật hiền lành nhưng sang nước Lỗ thì thành ra lưu manh ăn trộm, ăn cắp”.


Sự thật, “môi trường” không có nghĩa như vậy. “Môi” là môi giới, “trường” là công trường, là đất. Môi trường không phải là hoàn cảnh, không phải là không khí nhưng là một miếng đất, một nơi ở giữa hai bên, một hoàn cảnh trong đó người ta sống và hoạt động. Thí dụ: Văn học là môi trường để cho người nghèo và người giàu hiểu rõ cuộc sống, để cải tạo cuộc sống. Nhưng muốn có tác dụng cải tạo hiện thực, văn học không thể là “anh hề nhai lại cuộc đời” mà phải biết nhìn về ngày mai, phải mang một lý tưởng cao để có thể thúc đẩy con người đấu tranh xây dựng một hiện thực mới”.


Từ “môi trường” được sử dụng mỗi ngày mỗi rộng nghĩa thêm ra và hiện nay nhiều người hiểu theo nghĩa là một khung cảnh, một địa điểm, một nơi hoạt động. Vì thế, ta đã thấy những câu như sau: “La culture se fait dans un milieu liquide” mà dịch ra là “sự cấy diễn ra trong một môi trường lỏng”.


THẾ NÀO LÀ “DĨ KHÔNG GIAN HOÁN THỦ THỜI GIAN”?


“Dĩ không gian hoán thủ thời gian” là một “phương lược” (phương châm sách lược) dùng cho cả chính trị, kinh tế và quân sự, song chủ yếu người ta hay dùng cho quân sự.


Đại ý, đó là một phương pháp tạm thời hy sinh không gian (đất đai) để giữ lấy ưu thế về thời gian.


Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, nhân dân Trung Hoa cũng thi hành chiến lược này. Hồi đó, lực lượng của Trung Hoa còn nhỏ bé mà lực lượng của Nhật Bản hùng mạnh và ào ạt tấn công. Nếu rải quân ra để chống giữ mọi mặt thì cách mạng Trung Hoa sẽ bị thất bại nên tạm thời bỏ lỏng ra cho quân Nhật dễ dàng chiếm đóng một số địa điểm, còn quân của Trung Hoa thì tập trung lại, lập thành nhiều căn cứ du kích và chủ trương đánh lâu dài. Quân Trung Hoa định đợi cho quân Nhật tiêu hao rồi mới tổng phản công.


Nhờ đó, Trung Hoa thắng lợi. “Hoán thủ thời gian” không có nghĩa là tranh thủ thời gian để làm gấp, mà có nghĩa là tranh thủ thời gian để thời gian ấy tạo lợi thế cho mình.


“Trì cửu chiến” (đánh lâu dài) là một lối đánh để “hoán thủ thời gian”.


Có một điều đáng chú ý là không phải cuộc chiến tranh nào cũng có thể dùng phương lược “dĩ không gian hoán thủ thời gian” để chuyển từ thế yếu qua thế mạnh được.


Muốn tránh lâu dài (nghĩa là muốn tranh thủ được thời gian để làm lợi cho mình), phải có chính nghĩa, nếu không thì có sự ủng hộ của nhân dân.


Quân đội xâm lược không bao giờ dám chủ trương đánh lâu dài. Khi nào họ nói đến “đánh lâu dài”, ấy là lúc họ sắp thất bại.


TỤC NGỮ VÀ THÀNH NGỮ


Theo Dương Quảng Hàm thì sự khác nhau của “tục ngữ” và “thành ngữ” là ở chỗ này: Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn như thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè.


Theo từ điển “Từ Nguyên Tử Hải” thì “thành ngữ” là lời nói cổ rút trong kinh truyện hoặc trong lời nói của nhân dân, đã trở thành quen thuộc và lưu hành trong xã hội, còn “tục ngữ” là lời nói thông thường được lưu hành.


Cả hai lối giải thích đó chưa đưa những tiêu chuẩn để phân định minh xác hai khái niệm này. Hai ông Nguyễn Nghĩa Dân và Lý Hữu Tân nghiên cứu kỹ hơn.


Hãy lấy thí dụ “gieo gió gặt bão” (tục ngữ) và “gan vàng dạ sắt” (thành ngữ) để phân tích. Về hình thức, không thể căn cứ vào số tiếng nhiều ít mà định đâu là tục ngữ, đâu là thành ngữ. Xét về ngữ pháp thì rõ hơn. “Gan vàng dạ sắt” chưa phải là một mệnh đề hoàn hảo, có thể đưa vào đây một liên từ (gan vàng và dạ sắt) còn “gieo gió gặt bão” là một mệnh đề hoàn hảo (gieo gió tất gặt bão, gieo gió thì gặt bão). Do đó, về bản chất ngữ pháp, nói chung, thành ngữ chưa phải là mệnh đề hoàn chỉnh, phải thêm vào thành ngữ những thành phần khác thì mới thành câu (thí dụ: Chiến sĩ là người gan vàng dạ sắt), và tục ngữ là một hay nhiều mệnh đề hoàn chỉnh (thí dụ câu tục ngữ “rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa” có hai mệnh đề). Về nội dung, thành ngữ được đem vào lời nói, câu văn cho bóng bảy thêm, đó là lối nói ví von của nhân dân thường dùng với tính chất chung là ngắn, gọn, cô đọng và chín chắn. Tục ngữ là câu nói hoàn chỉnh về một vấn đề, một ý niệm đã được thể nghiệm và công nhận là một chân lý với nội dung rất súc tích. (Một thí dụ nữa về tục ngữ “Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa”).


Nhân đây, ta cũng nên biết rằng tục ngữ cũng khác “ngạn ngữ” và “phương ngôn”. Theo từ điển Từ Hải và Từ Nguyên thì ngạn ngữ là truyền ngôn và cũng là tục ngôn.


Căn cứ vào định nghĩa ấy qua sự nhận xét về nguồn gốc tục ngữ, qua sự phân biệt một số câu thơ văn của nền văn học viết vì ý đúng lời hay mà đã được truyền tụng như một tục ngữ với đại bộ phận tục ngữ do nhân dân sáng tác và truyền đi, ta có thể kết luận “ngạn ngữ” gồm những tục ngữ do nhân dân sáng tác và những lời hay ý đẹp ở tác phẩm viết được nhân dân truyền tụng. Từ “tục ngữ” chỉ bộ phận do nhân dân sáng tác, có ý nghĩa hẹp hơn ngạn ngữ và nằm trong phạm vi của ngạn ngữ.


Còn “phương ngôn” là từ để chỉ những tục ngữ lưu hành ở một địa phương nào đó. Thí dụ: “cam Xã Đoài, xoài Bình Định”, “dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” hay “mít Thanh Chương, tương Nam Đàn”…


Thế còn “tục ngữ” và “ca dao” khác nhau thế nào?


Tục ngữ và ca dao có khác nhau, nhưng cũng có liên hệ với nhau.


Về hình thức, thật khó phân biệt ca dao và tục ngữ. Nếu chỉ dựa theo câu dài hay câu ngắn. Thực ra có câu tục ngữ dài trên 14 tiếng. Thí dụ: “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ”. Nếu xét vần thì có tục ngữ không vần, có nhiều tục ngữ vần lưng, lại có tục ngữ theo đúng hình dạng lục bát.


Xét nội dung và ý nghĩa, vấn đề sẽ rõ hơn. Tục ngữ là những nhận xét, những kinh nghiệm được khái quát hóa, có tính chất phổ biến và nặng về lý trí, suy luận. Do đó, từ xưa các triết gia phương Đông, phương Tây, phổ biến triết học nhận xét của mình dưới hình thức tục ngữ (như Socrate, Platon, Aristote, Khổng Tử, Mạnh Tử v.v…). Thí dụ Socrate có câu: “Anh hãy tự biết lấy anh” (Connais-toi toi même); Khổng Tử có câu: “Tri vi tri chi, bất tri vi bất tri, chi thị vi tri dã” (Biết thì bảo là biết, không biết bảo là không biết, ấy là biết đó).


Ca dao biểu hiện những rung cảm của tâm hồn, biểu hiện nỗi giận, ghét, vui, buồn, thương nhớ của con người trước cảnh vật. Thí dụ:


“Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình,


Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi.


hay:


“Chém cha cái giặc chết hoang,


Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng.


Gánh từ xứ bắc xứ đông,


Đã gánh theo chồng lại gánh theo con.


Ca dao nặng về mặt trữ tình, tục ngữ nặng về phần lý trí, suy luận như trên kia đã nói.


Với nội dung khác nhau như vậy, cho nên tục ngữ dùng để nói, để suy ngẫm, còn ca dao dùng để hát.


Tuy nhiên, không phải bao giờ ranh giới giữa ca dao và tục ngữ cũng rõ rệt. Ở một số trường hợp nào đó, có câu lục bát một nửa là tục ngữ, một nửa lại là ca dao. Thí dụ:


“Lời nói chẳng mất tiền mua.


Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.


Câu “lục” có tính chất lý trí, gần tục ngữ còn câu “bát” có tính chất tình cảm, gần ca dao.


Cũng có khi người ta dựa vào tục ngữ để sáng tác ca dao.


Thí dụ:


“Trách cha, trách mẹ nhà chàng,


Cầm cân chẳng biết rằng vàng hay thau.


Thật vàng chẳng phải thau đâu,


Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng.


Tức là câu tục “Vàng thật không sợ lửa” mà ra.


Tóm lại, Đại bộ phận tục ngữ và ca dao vẫn có ranh giới về hình thức và nội dung. Rất nhiều tục ngữ tuy có vần nhưng chỉ là vần vè, ví von để cho người ta dễ nhớ, còn ca dao thì có âm điệu, có tính chất thi ca hẳn hoi. Nhưng ta cũng không thể lẫn lộn ca dao với “dân ca”.


“Dân ca” thường có nội dung gần giống như ca dao. Chỗ khác nhau nhiều là ở hình thức và nhịp điệu. Phạm vi của dân ca rất rộng rãi. Trên khắp đất nước ta, ở miền Bắc hay miền Nam, ở đồng bằng hay miền núi, đều có nhiều điệu hát của nhân dân. Trong gia đình có tiếng hát ru em, tiếng quay tơ, ngoài xã hội có tiếng hát tình tứ yêu đời của nam nữ thanh niên, có tiếng hát của công, nông, có tiếng hát của các hội hè đình đám với những điệu vô cùng phong phú. Tất cả điệu đó là dân ca Việt Nam. Miền Bắc có quan họ, trống quân. Miền Trung có hát dặm, hò mái nhì. Miền Nam có hò, lý,… miền núi có lượn, khan.


Dân ca, tóm lại là những bài hát có, hoặc không có chương khúc, do tập thể nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở nhiều vùng, có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc.


Có một điều nên chú ý: Phần nhiều chúng ta quan niệm rằng những bài hát do dân hát nhiều có tính chất dân tộc và do dân sáng tác là dân ca. Người ta kể “Gánh lúa về” “Thương binh” của Phạm Duy là dân ca và cho rằng chỉ có những bài hát ấy mới là dân ca. Quan niệm như thế, hơi hẹp, theo L’enine cho rằng bài “Quốc tế ca” là dân ca. Dựa vào đó, có một số người khác cho rằng những bài “Diệt phát xít”, “Này, thanh niên ơi”, “Du kích ca” có thể coi là dân ca.


BẦN NÔNG, CỐ NÔNG, TRUNG NÔNG


Nhiều người lầm rằng bần cố nông là một danh từ dùng để chỉ nông dân nghèo, phải “cầm đợ cố bán” ruộng đất để sống.


Sự thực “bần nông” và “cố nông” là hai danh từ khác nhau. “Bần nông” là nông dân nghèo, không có ruộng đất, không có công cụ sản xuất hoặc có rất ít, phải đi lĩnh canh, nghĩa là mướn ruộng của địa chủ để cày cấy hoặc đi làm thuê cho địa chủ.


“Cố nông” cũng là một thứ nông dân nghèo nhưng hèo hơn bần nông, phải cầm cố ruộng đất cho địa chủ, nghĩa là gán ruộng làm tin để vay tiền (cố ruộng tức là cầm ruộng).


“Bần cố nông” là bần nông bà cố nông nói tắt. Thí dụ: Chúng ta dựa vào bần cố nông để phát động phong trào quần chúng giảm tô giảm tức.


“Trung nông” là thành phần nông dân tương đối khá hơn. Đó là người nông dân có ruộng đất, có công cụ sản xuất, tự mình có thể canh tác ruộng mình hay mướn người lao động.


Cải cách ruộng đất, thực hiện “người cày có ruộng”, là một cuộc vận động quy mô nhằm phá bỏ bất công về sự phân phối ruộng đất, diệt trừ đánh đổ phong kiến và quan hệ phong kiến về ruộng đất, đem lại công bình hơn trong việc cày cấy đất cát, để cho không có người nhiều ruộng đất quá (một phần vì đi cướp của người) mà đồng thời chính người cày cấy lao động nhiều khi lại không có ruộng để cày.


“Cải cách” đây có nghĩa là cách sửa đổi cái cũ thành cái mới. Thí dụ: Cải cách lễ giáo, cải cách chương trình giáo dục.


MẶT TRẬN, NHÓM, PHONG TRÀO


“Nhóm” là một số ít người họp nhau lại cùng làm một công việc nhằm mục đích chung. Thí dụ: Nhóm Y, X, Z dùng tờ báo A, B, C để cổ động lòng yêu nước, chống quan liêu và thực dân. (Nhóm Nam Phong, nhóm Ngày Nay, nhóm Tiểu Thuyết thứ bảy v.v…).


Về tổ chức có thể coi là nhiều nhóm, nhiều bộ phận họp thành đoàn thể. Thí dụ: Đảng Cộng sản là tổ chức tối cao của giai cấp công nhân.


Tổ chức sau khi đã thành rồi, phát động những phong trào, thí dụ phong trào bình dân, phong trào đời sống mới. “Phong trào” là tình hình đấu tranh theo một tác phong, nhằm một mục đích đã vạch sẵn. Phong trào, do đó có một ý nghĩa rộng là một tổ chức đấu tranh nhằm một lối sống, một mục tiêu đã ấn định.


“Mặt trận” lớn hơn tổ chức.”Mặt trận” là một tổ chức liên minh các giai cấp hoặc các nước cùng chí hướng, để chiến đấu cho một ý thức hệ, chống kẻ thù chung. Thí dụ: Hồi 1945, ở nước ta các đoàn thể liên hiệp với nhau trong Mặt trận Tổ quốc để đánh Pháp, giành độc lập.


GIAI ĐOẠN VÀ THỜI KỲ


“Thời kỳ” có ý nghĩa rộng hơn “giai đoạn”. Đó là khoảng thời gian đánh dấu bằng một sự việc gì đáng chú ý, có một chuyện gì đáng chú ý. Thí dụ: Trong thời kỳ người Pháp đô hộ nước ta, những nhà thơ ái quốc thường bị đày ra Côn Đảo.


“Thời kỳ” khác “thời gian”, thời gian có nghĩa là thời giờ mà thôi, không cần có xảy ra việc gì, không cần làm việc gì. Thí dụ: Bận công việc suốt ngày, tôi không đủ thời gian học tập.


“Giai đoạn” chỉ là một đoạn trong thời kỳ. Đó là phần thời gian của một thời kỳ xảy ra những sự việc mà các đoạn khác của thời kỳ ấy không có. Thí dụ: Giai đoạn đầu của thời kỳ kháng chiến là phá hoại để làm chậm bước tiến của địch quân.


Chú ý: “Giai đoạn” hoàn toàn khác hẳn với “giai kỳ” có nghĩa là ngày tốt, nói rộng ra là ngày cưới hỏi.


HIỂU THỊ VÀ THÔNG ĐIỆP


Ta nên biết “hiểu thị” cũng như “hiểu dụ” có nghĩa là giải thích một vấn đề gì cho mọi người, nhưng dùng chữ “hiểu thị” hay “hiểu dụ” tức là có ý chê, vì người ta quen dùng chữ hiểu thị, hiểu dụ với vua chúa và quan lại phong kiến. Trong trường hợp nói về một lãnh tụ ở một nước dân chủ, tốt hơn là dùng chữ “nói chuyện” hay “hiệu triệu”. Thí dụ: Thủ tướng nói chuyện với đồng bào.


Chữ “thông điệp” mà một số báo vẫn dùng cũng không đắt. “Thông điệp” là thư của một Chính phủ gửi cho Chính phủ một nước khác.


TẢ KHUYNH VÀ HỮU KHUYNH


“Khuynh” đây là khuynh hướng, tức là con đường phát triển thiên về ngả nào (thí dụ: Có khuynh hướng thân kháng chiến) nhưng “khuynh tả”, “khuynh hữu” không phải chỉ có ý nghĩa chật hẹp như vừa kể ở trên kia.


“Tả khuynh” là có xu hướng, có hành động quá mạnh, không phù hợp với yêu cầu của quần chúng.


“Hữu khuynh” thường là thiên bảo về bảo thủ nói chung, phản đối mọi cải cách, mọi tiến bộ.


Nói chung, tả khuynh hay hữu khuynh đều không có lợi trong tư tưởng chỉ đạo hoặc trong bất cứ công việc gì.


ĐẢ PHÁ, ĐẢ KÍCH, ĐẢ THÔNG


Ba chữ này bắt đầu chữ “đả”, nhưng chữ đả thứ ba khác nghĩa hai chữ đả ở trên. Vẫn biết rằng “đả” là đánh (đả cho nó một trận), nhưng “đả đảo” là đánh đổ (đả đảo xâm lăng); “đả kích” là công kích, chỉ trích (đả kích quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật); còn “đả thông” không hề có ý nghĩa là đánh, phá, chỉ trích.


“Đả thông” chỉ có nghĩa là đưa ra những lý lẽ nhằm làm cho người nghe mình am hiểu và đồng ý với mình. Thí dụ: Anh ta lý sự lắm, trong bất cứ cuộc họp nào cũng đả thông được tư tưởng cán bộ đến nghe.


BA ĐẢM ĐANG


Nguyên chữ “đảm” có nghĩa là giỏi, tháo vát, đảm đang. Người đàn bà quán xuyến gia đình, nuôi dạy con cái nên người, lo cho chồng chu tất là người đàn bà đảm đang.


Từ “ba đảm đang” phát sinh từ thời kháng chiến, đưa ra từ “ba đảm đang” để chỉ phong trào phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước đảm việc nhà.


Từ này còn có ý tuyên truyền phụ nữ phải tự nhận gánh vác lấy ba nhiệm vụ sau này mới xứng đáng là phụ nữ đảm đang: Gánh vác gia đình, sản xuất, chiến đấu thay người đàn ông ra trận.


TẠM ƯỚC, THỎA ƯỚC, THỎA HIỆP, HIỆP ƯỚC, HIỆP ĐỊNH


“Tạm ước” là bản giao ước giữa hai bên ký kết với nhau để tạm thời hòa hoãn một cuộc chiến tranh.


Thỏa hiệp không phải là một bản giao ước ký kết, nhưng chỉ là một sự việc, theo đó thì hai bên đã đồng ý với nhau về việc giải quyết một việc gì (như thỏa hiệp chấm dứt chiến tranh chẳng hạn).


“Thỏa ước” là bản giao ước nói về sự thỏa hiệp đó giữa hai bên. Nhưng nên nhớ rằng thỏa ước chỉ là mới đi đến chỗ đồng ý, còn hiệp ước là kết luận của một cuộc thỏa hiệp về ngoại giao ký kết giữa hai hay nhiều nước. Thí dụ: Nước Nga ký hiệp ước cho Ba Lan và Phần Lan vay một số tiền, và đổi lại hai nước Ba Lan và Phần Lan phải cung cấp thép cho Nga trong thời hạn nhất định.


“Hiệp định” có ý nghĩa không rộng rãi bằng hiệp ước. Đó chỉ là một bản giao ước ký kết giữa hai nước hoặc nhiều nước để cùng nhau thỏa thuận về một vấn đề. Thí dụ: Hiệp định Genève về hòa bình ở Campuchia. Hiệp định là một bản giao ước. Muốn tiến tới bản hiệp định ấy, hai hay nhiều nước phải hiệp thương (họp nhau lại để bàn tính công việc). Hiệp nghị cũng cùng nghĩa với hiệp thương.


HÓA TRANG VÀ NGỤY TRANG


Hai chữ này có ý nghĩa na ná giống nhau nên không mấy người phân biệt khi dùng.


“Hóa trang” thường dùng để chỉ việc tô vẽ mặt mày, trang sức cho các diễn viên trước khi lên sân khấu. Thí dụ: Anh ta để râu, chống gậy, hóa trang thành một ông già vào vùng địch để xem xét.


Trong chữ “hóa trang”, người ta không thấy mấy ý đánh lừa, nhưng “ngụy trang” thì cái ý đánh lừa rõ rệt hơn (như trong chữ “ngụy kế” có ý là mưu gian dối). “Ngụy trang” không phải là tô vẽ nhưng rõ ràng là che đậy dưới những hình thức dối trá nhằm đánh lừa người ta. Thí dụ: Trong thời kỳ chiến tranh, các chiến sĩ ngụy trang trận địa xe pháo để che mắt địch.


TỪ PHÒNG GIAN BẢO MẬT ĐẾN
PHÒNG BẢO QUẢN, BẢO TRỌNG


“Phòng gian bảo mật” là giữ gìn những điều bí mật của tổ chức, cơ quan, bí mật của quân đội, quốc gia chẳng hạn. Thí dụ: Công chức, quân nhân có nhiệm vụ phòng gian bảo mật, để đập tan âm mưu dò xét của địch.


Cũng nhân chữ này, có người đã dùng chữ “bảo quản”. Bảo quản là hai chữ “bảo” và “quản” ghép lại với nhau, nghĩa là bảo vệ và quản lý, nhưng không ai nói bảo quản một cái bí mật, bảo quản quân gian. Chữ bảo quản thường dùng với những sự vật cụ thể hữu hình. Thí dụ: Anh X… được tổ chức quyết định giao cho nhiệm vụ bảo quản tài liệu quan trọng.


“Bảo”, trong “phòng gian bảo mật” cũng như trong từ “bảo quản” có nghĩa là bảo vệ, giữ gìn. “Bảo mệnh” là giữ gìn đời sống. “Bảo tàng” là cơ quan giữ gìn các di tích lịch sử. “Bảo thủ” là giữ những tư tưởng cũ. “Bảo toàn” là giữ cho tròn vẹn không để tổn thất, giữ sao cho hoàn toàn. Thí dụ: Bảo toàn sức khỏe, bảo toàn danh dự.


“Bảo trợ”, cũng như yểm trợ, cũng có nghĩa là giữ gìn nhưng ngoài ra còn có ý che chở. Thí dụ: Cuộc diễn xuất này đặt dưới sự bảo trợ của Bộ Văn hóa Thông tin. Nhưng “yểm trợ”, “yểm hộ” thường dùng nhiều trong khi nói về chiến tranh.


Thí dụ: Pháo binh yểm trợ cho bộ binh.


TAM ĐẦU CHẾ, TAM QUYỀN PHÂN LẬP, TAM TAM CHẾ


“Tam đầu chế” là một chế độ do ba người lãnh đạo, người nọ giúp đỡ người kia để giúp cho chế độ vững vàng và tránh sự độc tài của một người không đủ uy tín để lãnh đạo một mình.


“Tam quyền phân lập” là nguyên tắc chính trị của các nước dân chủ tự do, do một người lãnh đạo nhưng chia chính quyền ra ba bộ phận riêng biệt và độc lập: Quyền hành pháp, quyền lập pháp và quyền tư pháp. Nước ta, dưới chế độ dân chủ cộng hòa là một nước theo “tam quyền phân lập”.


Nhưng “tam tam chế” thì khác hẳn tam đầu chế và tam quyền phân lập. Đây là chế độ nhằm nhiều về tổ chức quân đội của một nước, theo đó thì cứ ba người thành một tổ (tổ tam tam) ba tiểu đội thành một trung đội, ba trung đội thành một đại đội, ba đại đội thành một tiểu đoàn v.v…


CHIẾU CỐ VÀ ĐÃI NGỘ


“Chiếu cố” “đãi ngộ” là hai thứ gần giống nghĩa nhau, nhưng chiếu cố có ý rộng rãi hơn đãi ngộ.


“Đãi ngộ” là đối đãi, cư xử tử tế (cũng như đãi đằng). Thí dụ: Chính sách đãi ngộ của Nhà nước với người có công.


Còn “chiếu cố” theo nghĩa của ta hiểu thì là đoái tới, tưởng tới. Thí dụ: Bác chiếu cố đến tôi, lại thăm gia đình chúng tôi, xin chân thành cảm tạ.


Chữ “chiếu cố” hiện nay có những ý nghĩa rộng hơn thế một chút. Từ chiếu cố còn có ý nghĩa để ý, nâng đỡ và trong sự nâng đỡ đó, có hàm một ý nhân nhượng.


Chiếu cố không phải chỉ dùng đối với người mà còn cho cả những đối tượng khác. Chiếu cố, ở trong trường hợp đó, có nghĩa là quan tâm đến, lưu ý đến.


CÔNG ĐỒN, CÔNG HÃM, CÔNG KIÊN, CÔNG PHÁ,
CÔNG PHẠT, CÔNG THỦ, CÔNG THỦ ĐỒNG MINH


“Công” là đánh phát. “Công đồn” nghĩa là phá địch, đánh địch, làm cho địch bị hại, bị chết.


“Công hãm” là đem quân đến bao vây địch, đánh phá tiêu diệt đồn lũy địch để cho địch chết ngay hay chết lần (vì không tiếp tế kịp).


“Công kích” là đánh bằng võ khí. “Công kích” khác với “công kiên”, nghĩa cũng là đánh, nhưng đánh vào những nơi có công sự vững chắc. Chữ “công phá” có ý nghĩa đánh nhưng đánh phá kịch liệt, trong khi “công phạt” cũng có nghĩa là đánh phá nhưng không gợi được ý kịch liệt.


Trong chữ “công thủ”, không có ý gì đánh phá. Đó chỉ là từ nói tắt “thế thủ” và “thế công”, cũng như từ “công thủ đồng minh” vậy. Công thủ đồng minh là sự liên kết giữa hai hay nhiều nước đồng minh nhằm phòng bị trong thời bình và cùng đánh phá khi có chiến tranh.


KHU BIỆT, KHU TRỪ, KHU TRỤC


Nhiều người nghe thấy chữ “khu trục” yên trí đó là một thứ máy móc, tàu bè, võ khí vì liên tưởng đến “khu trục hạm”. Sự thực, từ “khu trục” dùng đơn thuần chỉ có nghĩa là đánh đuổi, xua đuổi; “khu trục hạm” là một thứ tàu xua đuổi địch, đi rất nhanh, có nhiều trọng pháo, ngư lôi chuyên đưa đường cho hạm đội và đuổi đánh tàu ngầm. Máy bay khu trục là loại máy bay đánh đuổi phi cơ địch.


“Khu trừ” là trừ đi cho hết. Khu trừ có nghĩa là diệt trừ.


Nhưng “khu biệt” thì không hề có ý nghĩa đánh phá xua đuổi. “Khu biệt” là phân chia rành mạch. Thí dụ: Ta có quyền tiếp thu văn hóa khác để phát triển văn hóa mới dân tộc, nhưng không được lạm thu mà cũng không được thu mà không phê phán. Phải khu biệt với những thối nát của nước ngoài và những ưu tú của họ để gạn lấy tinh hoa dân chủ, tự do, cách mạng.


SỐNG ĐỘNG HAY SINH ĐỘNG?


Nhiều người mỗi khi nói tới một cái gì “sống”, hoạt động, đầy sinh lực thường dùng chữ “sống động”.


Chữ “động” ở đây là tiếng nôm, dùng quen cũng được, nhưng chính ra muốn nói cho thật đúng sách thì nên dùng “sinh động”. Nói “sống động” tức cũng như nói “lành mạnh hóa”.


Thí dụ: Câu chuyện của anh ta nói sinh động lắm. Bài văn anh ta viết rất sinh động.


“Sinh động” là hoạt bát, như thật, có tinh thần sống. Thí dụ: Tiếng cười là một hành động chống lại bất cứ cái gì trái với nếp sống bình thường, với quan niệm, tập quán của xã hội, tố cáo bất cứ cái gì ngược với tính chất sinh động của cuộc sống của con người.


NÕN NƯỜNG LÀ CÁI GÌ?


Một số rất đông chúng ta thường nghe thấy trong dân gian vẫn có người nói chuyện chanh chua “ối chao, tưởng là gì, có đòi ba mươi sáu cái nõn nường đây này!”.


Nói thế mà đa số không hiểu “nõn nường” là gì cả. Nhiều người cho rằng “nõn nường” là một cái gì tục tĩu, nhưng tại sao lại ba mươi sáu cái? Tôi hỏi nhiều bạn đều chịu, gần đây tìm thấy trong “Từ điển tiếng Việt”, câu giải thích như sau, cứ xin thuật lại, còn đúng hay không đúng xin dành phần các bậc cao minh định xét.


Nõn nường nguyên là từ chỉ vật làm bằng gỗ, tượng trưng dương vật (nõn) và âm hộ (nường) do nhân dân ở miền Dị Nậu và Khúc Lạc (Phú Thọ - miền Bắc) ngày xưa làm ra để rước thần.


Khi rước, những người khiêng kiệu vừa đi vừa hát: “Ba mươi sáu cái nõn nường, cái để đầu giường, cái để đầu tay”.


Khi kiệu đến chỗ thờ thần, người ta tung “nõn” và “nường” cho mọi người cướp; con trai cướp được “nường”, con gái cướp được “nõn” là điềm tốt, may mắn, ít khi thấy.


“Ba mươi sáu cái nõn nường” do đó thành ra một thành ngữ để nói mỉa những người đòi hỏi những điều quá đáng.


PHÂN PHỐI, PHÂN LOẠI, PHÂN LIỆT, PHÂN NHIỆM,
PHÂN QUYỀN, PHÂN TÂM, PHÂN TÁCH


Mấy chữ này, nhiều người dùng không phân biệt rõ như phân phối, phân biệt, phân rã, phân tán, họ đều cho là ý nghĩa giống nhau.


“Phân phối” là đem chia cho từng người hoặc từng bộ phận. Thí dụ: Số ghế có hạn mà số vé vào cửa lại phân phối quá nhiều nên ban tổ chức bị đả kích nặng.


“Phân liệt” cũng là chia sẻ ra, nhưng thường dùng để chỉ những sự vật hay những cái gì trừu tượng. Thí dụ: Tư tưởng bị phân liệt. Trong chữ “phân liệt” có nghĩa chia rẽ, xé lẻ, nhưng “phân công” thì không có ý nghĩa ấy. Phân công là chia công việc cho người khác theo khả năng và yêu cầu. Chữ “phân nhiệm”, “phân quyền” cũng vậy, có nghĩa là chia trách nhiệm, chia quyền hành cho từng người. Phân bố lực lượng và chia lực lượng ra nhiều nơi, theo nhu cầu và nguyên tắc. Cả bốn chữ trên: Phân công, phân quyền, phận nhiệm, phân bố đều không có ý chia sẻ, suy yếu, nhưng “phân tán” thì có ý nghĩa là chia ra nhiều phần nhỏ. Thí dụ: Phân tán tài sản. Phân tán tư tưởng là cách làm cho tư tưởng của người ta chú ý vào nhiều việc cùng một lúc, nhiều vấn đề cùng một lúc chớ không thể chú ý vào một việc.


Phân tán nhân tâm, nói tắt là “phân tâm” còn có nghĩa là chưa dứt khoát theo bề nào hướng nào. Thí dụ: Nghe anh ta nói, tôi phân tâm quá, vì bỏ anh ta thì không nỡ mà nếu theo anh ta thì tôi sẽ thất cơ lỡ vận.


Sau hết, “phân tích” (hay phân tách) có nghĩa là chia sẻ ra từng phần để xem xét, học hỏi. Thí dụ: Anh ta phân tách tình hình kỹ lắm để có thể ăn nói trơn tru trong buổi nói chuyện ở ti vi nhân dịp ra ứng cử. Chữ “phân tích” (hay phân tách) dùng trong khoa học (như phân tách hóa học) có nghĩa là tìm, xác định những thành phần của một chất.


CÓ BAO NHIÊU TỪ BÃI CÔNG?


“Bãi công” là một hình thức tranh đấu của công nhân các nước tư bản để phản đối một việc gì xét ra có thể làm hại cho tự do hay quyền lợi của họ.


Ngoài “bãi công” có lãn công, bãi khóa, bãi thị, bãi thực.


“Lãn công” là hình thức đấu tranh của công nhân, công chức… đến cơ sở xí nghiệp nhưng ngồi đấy không làm việc.


“Bãi khóa” là hình thức đấu tranh của sinh viên, học sinh, giáo viên, giáo sư bỏ trường không học, không dạy học để yêu cầu hay phản đối một điều gì (thường có ở các nước tư bản).


Xin ghi rằng bãi khóa khác “bãi trường”. Bãi trường là nghỉ học trong một thời gian nhất định (bãi trường vào dịp hè).


“Bãi thị” là bỏ chợ, đóng cửa tiệm, không buôn bán để đòi một quyền lợi gì hay phản đối một việc gì.


Còn “bãi thực” là hình thức đấu tranh của các nhà ái quốc, các chính trị phạm bỏ ăn để phản đối chính quyền. Thánh Găng Đi bãi thực để phản đối đế quốc Anh trước đây.


Riêng có chữ “bãi miễn”, “bãi dịch”, “bãi nại” là không có ý nghĩa bãi công phản đối.


“Bãi miễn” là cách chức một nhân viên hay truất quyền một đại biểu nhân dân.


“Bãi dịch” là từ cũ có ý nghĩa là truất bỏ công việc đã giao cho tổng lý. Còn “bãi nại” thì nghĩa là không khiếu nại nữa, không kiện cáo nữa.


PHẠM VI, LÃNH VỰC


“Lãnh vực” và “phạm vi” có nghĩa gần giống nhau nên nhiều người dùng không phân biệt. “Lãnh vực” là địa hạt, khu vực thuộc phạm vi nhất định. Thí dụ: Lãnh vực sử học, lãnh vực triết học. “Phạm vi” là cái giới hạn của một hành động hay sự việc. Thí dụ: Cái phạm vi hoạt động của tôi chật hẹp lắm, tôi chỉ làm xong công tác này rồi về nghỉ để người khác làm tiếp.


Có một số người lầm từ “phạm vi” với “phạm trù”, tưởng cũng nên nói về chữ “phạm trù” một chút.


“Phạm trù”, một danh từ triết học, không bao giờ có nghĩa là phạm vi nhưng là khái niệm cơ bản về những phương diện, thuộc tính, bản chất và quan hệ phổ biến nhất của những hiện tượng trong thiên nhiên và xã hội, như: vật chất, vận động, không gian, thời gian, nội dung, hình thức… Thí dụ: Nguyên nhân và kết quả bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức là những cặp “phạm trù” triết học.


PHIẾN DIỆN, ĐA DIỆN


“Diện” là mặt, là phạm vi (hạn chế diện đấu tranh).


“Đa diện”, về lãnh vực toán học, có nghĩa là khối giới hạn bởi các đa giác phẳng. Rộng nghĩa ra, đa diện là nhiều mặt, nhiều giác. Thí dụ: Vấn đề này phải xét một cách đa diện mới được, chớ không có thì mình dễ bị lầm.


Trái với đa diện là “phiến diện”, tức là chỉ có một chiều, một lối, không đầy đủ. Thí dụ: Lý luận anh ta nêu ra có tính cách phiến diện, nghe chưa được.


Ngoài ra, còn từ “hiện diện” cũng được dùng nhiều. Hiện diện là có mặt. Thí dụ: Hiện diện ở hội nghị có năm mươi người. Nhưng nếu nói vắng mặt mà dùng “phiến diện” thì sai, phải dùng “khiếm diện”. Thí dụ: Buổi họp có mấy người khiếm diện.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info