Ông Lương Thực Thu trong bài "Nhã xá tiểu phẩm" nói rằng vấn đề người Trung Quốc nói to
có thể vì cơ bản họ vẫn còn là người ở một nước nông nghiệp. Nông dân buổi sáng ra đồng
thường chào hỏi nhau từ những khoảng cách xa nên phải lớn tiếng.
Có người lại bảo tiếng họ to vì vấn đề âm điệu của tiếng Hoa. Vì người Tô Châu nếu dùng
tiếng Ngô Nùng (vùng Chiết Giang), âm điệu rất thấp, thì cả lúc cãi nhau thanh âm cũng vẫn
cứ nhỏ.
Theo tôi vì tiếng Trung Quốc là tiếng đơn âm, chữ đồng âm quá nhiều, mỗi âm lại có đến bốn
âm tiết khác nhau (tiếng tiêu chuẩn). Cho nên lúc nói nếu không đủ to thì rất khó hiểu. Nhất là
khi nói nhanh, nếu không nói lớn lại càng không có cách nào hiểu được.
Chúng ta đều có kinh nghiệm khi đi xem xi-nê bằng tiếng Trung, thường thường nếu cùng lúc
không có phụ đề bằng chữ Hán trợ giúp, mà chỉ nghe tiếng không thôi, thì không thể hiểu
được. Đó là vì lý do trên.
Về mặt văn phạm, tiếng Trung Quốc lại cũng chẳng giống loại tiếng nào cả. Nó không có thể
giả định (Subjunctive mood) như tiếng Anh, khiến người Trung Quốc lúc nói thường phải hoa
chân múa tay để giúp mồm miệng lên bổng xuống trầm cho ý tưởng diễn đạt của mình được rõ
ràng hơn. Nói tiếng Trung, nếu muốn nói nhỏ, phải nói thật chậm và rõ ràng, kéo dài phần
phát âm của từng chữ ra thì người nghe mới hiểu rõ.
Theo tôi nhận thấy cái bệnh nói to của người Trung Quốc chẳng có thuốc nào chữa được. Nếu
đã không có thuốc chữa thì chúng ta cũng có thể xem cái đức tính nói oang oang này là một
loại quốc hồn quốc túy. Như vậy không được hay sao?
Cái giao thông hỗn loạn ở Đài Loan thì ai cũng biết rồi. Đó là một sự thực không thể chối cãi.
Nhưng đối với Bá Dương, người lấy điểm xuất phát là những cái xấu xa, thì nó lại là một yếu
tố để quy tội cho cái văn hóa Trung Quốc. Ông ta bảo:
"Cũng chính vì cái hũ tương sâu không lường được này nên đối với biết bao vấn đề người
Trung Quốc đều không dùng tư duy của mình để tự giải quyết, mà phải bắt chước, phải dùng
cái tư duy của kẻ khác. Cái nước ao tù này, cái hũ tương này có vứt mứt đào vào cũng sẽ biến
thành cứt khô.
Những thứ ngoại lai một khi vào Trung Quốc cũng biến chất. Người ta có dân chủ, chúng ta
cũng có dân chủ. Nhưng dân chủ của chúng ta là "mày là dân, tao là chủ". Người ta có pháp
chế, chúng ta cũng có pháp chế. Người ta có tự do, ta cũng có tự do. Người ta có gì, ta có nấy.
Anh có chỗ dành riêng cho bộ hành sang đường, tôi cũng có, dĩ nhiên, nhưng chỗ dành cho bộ
hành của chúng tôi là chỗ để dụ dỗ họ đến cho xe cán chết".
Tôi cũng đã suy nghĩ về vấn đề này nhiều năm, xin đưa ra đây vài ý kiến để đóng góp với
những người quan tâm đến nó. Cái trật tự giao thông ở Đài Loan mỗi năm mỗi tiến bộ, vì số
xe cộ càng ngày càng đông. Trên đường cứ càng nhiều xe thì áp lực ngày càng tăng đối với
người lái xe, làm cho họ phải càng tôn trọng luật đi đường, đó là cái hậu quả tất yếu của việc
"vừa sống vừa học tập".
Tại Mỹ trừ những người lái xe bình thường ra, tôi vẫn thường nghe nói còn có loại người lái
xe "tự vệ". Những người lái xe "tự vệ" này khác những người lái xe "tiêu chuẩn" ở chỗ họ có
thêm hai đức tính: không sử dụng quyền ưu tiên của mình, và đối với những người phạm luật
khác họ không tìm cách trả đũa.
Ở Đài Loan những người lái xe bình thường ít nhiều cũng có một hoặc hai đức tính này,
nhưng bản thân họ vẫn chưa phải là những người lái xe "tiêu chuẩn" thông thường. Vì vậy
giao thông Đài Loan mới phát sinh cái hiện tượng "bất loạn trong cái đại loạn", và cái "đại
loạn rất là kinh dị trong cái bất loạn đó". Tại sao có chuyện người Trung Quốc và người Mỹ
khi lái xe lại khác nhau?
Nếu chúng ta so sánh cách thi bằng lái xe ở hai bên bờ Thái Bình Dương thì sẽ thấy ngay
manh mối của việc này.
Người Mỹ học lái xe ngay ở ngoài đường, từ lúc bắt đầu đã phải học và tuân theo các quy tắc
an toàn của giao thông. Đến lúc đi thi cũng thi ngoài đường, ngoài vấn đề lái ở những nơi có
rất nhiều xe còn phải kiểm soát tốc độ, cự ly sau trước, qua ngã tư, chọn tuyến phải trái,
chuyển đường, giữ ưu tiên,v.v... Như vậy trong tâm lý người thi đồng thời hình thành được cái
khuôn phép của một người lái xe "tiêu chuẩn" để có thể dùng vào việc lái xe trong thực tế sau
này.
Tại Đài Loan lại không như thế. Lúc học lái xe trong những khuôn viên cố định của nhà
trường, người tập lái học các động tác bẻ lái, đạp phanh, nhấn ga v.v... Sau đó lúc đi thi họ
được trắc nghiệm bởi những thiết bị điện của Sở Lục lộ. Đỗ xong cái mảnh bằng đó, thay vì
gọi là bằng lái, nhẽ ra phải gọi là bằng "thao tác" thì mới đúng. Đến khi lái ra đường lớn, trong
lòng hoàn toàn chưa có khuôn phép, vẫn rẽ ngang đảo dọc như một kẻ dã man không theo một
quy tắc nào cả.
Ngay đến những người đã lái xe mười năm hoặc mấy mươi năm, trong lòng tuy đã có khuôn
phép thành thục, nhưng đều cũng không phải là những tay lái tiêu chuẩn, nên tùy lúc, tùy thời
đều có thể biến dạng. Tôi gọi đùa đó là kiểu tài xế "cao su".
Vì vậy có thể nói vấn đề giao thông ở Đài Loan cuối cùng không phải là vấn đề con người,
càng không phải vấn đề văn hóa nào đó, nhưng là một vấn đề chính sách. Do chính sách
không đúng ngay từ đầu, chính quyền sau này khó có thể cải tiến cho nó khá hơn được.
Viết đến đây tôi lại nhớ đến một chuyện mấy năm trước, lúc ông Alexander Solzhenitsyn (Alếch-
xan-đơ Giôn-xê-nhít-xin) - một cây bút người Nga được giải thưởng Nobel về văn học -
được phóng thích đến Mỹ.
Ông được mời đến diễn thuyết trong một buổi lễ đón tiếp. Ai cũng chờ đợi ông sẽ nói đến
những điều hay ho về vấn đề tự do, nhân quyền. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người,
ông lại quay sang phê bình về kinh tế Mỹ. Ông công kích những nhà buôn Mỹ vì lợi nhuận đã
táng tận lương tâm, bỏ vào thức ăn những chất hóa học dùng bảo quản thực phẩm rất độc hại.
Ông diễn thuyết vừa xong thì tờ báo lớn của Mỹ The New York Time (Thời báo New York)
đã lên tiếng. Tờ báo viết:
"Dù ông Solzhenitsyn (Giôn-xê-nít-xin) ở tại Liên-xô đã kinh qua mọi khổ nạn mà không hề
khuất phục, việc này làm cho mọi người rất ngưỡng mộ, nhưng không phải vì vậy mà ông có
quyền được tùy tiện phê phán xã hội Mỹ".
Từ đó về sau không ai còn nghe ông Solzhenitsyn diễn thuyết cái kiểu đó. Có thể ông đã tự
câm như hến, hoặc có thể không ai muốn mời ông diễn thuyết nữa.
Trong một nước có chế độ tự do ngôn luận, mọi người đều có khả năng phát biểu ý kiến của
mình, ngay cả nói những điều phương hại đến kẻ khác mà chính phủ hay pháp luật không thể
ngăn cấm được. Nhưng một tờ báo lớn lại có thể trở thành một sức mạnh trọng tài, và có khả
năng làm cho người nói kia ăn không ngon ngủ không yên.
Người Trung Quốc chúng ta chưa có cái loại báo chí có thứ quyền uy như thế, song chúng ta
có dư luận quần chúng.
Vậy, những người Trung Quốc còn lương tâm xin hãy đứng lên, vì người Trung Quốc chúng
ta, vì văn hóa Trung Quốc mà nói vài câu cho lẽ phải.
VĂN HÓA TRUNG QUỐC: BÔI NHỌ HAY ĐÁNH PHẤN
Trương Thiệu Thiên
"Luận đàn báo", Los Angeles, ngày 3 tháng 4 năm 1985.
Mấy tháng trước ông Bá Dương nói chuyện ở Iowa về "Người Trung Quốc xấu xí" làm cho
cộng đồng người Hoa ở Mỹ xôn xao, mãi đến bây giờ vẫn còn gợn sóng. Từ hai tháng nay trên
tờ "Luận đàn báo" cơ hồ mỗi kỳ đều có một hai bài thảo luận về áng văn "xấu xí" của Bá
Dương.
Trong số ra gần đây nhất tôi lại được đọc bài của ông Lưu Tiền Mẫn nhan đề "Không thể bôi
nhọ văn hóa Trung Quốc". Ngoài vấn đề chỉ trích ông Bá Dương đã bôi nhọ văn hóa Trung
Quốc, ông còn đưa ra rất nhiều giải thích sách vở về các khuyết điểm của người Trung Quốc.
Bài văn này của ông Lưu đã chứng tỏ ông mất khá nhiều công phu để suy nghĩ về vấn đề văn
hóa Trung Quốc, lại cũng nói lên cái nhiệt tình của ông đối với nó.
Sự nghiên cứu và cái nhiệt tình này của ông làm tôi rất khâm phục. Nhưng có nhiều luận điểm
của ông tôi lại không thể chấp nhận được. Cho nên ở đây xin thảo luận như sau :
1- Ông Lưu bảo người Trung Quốc trước hết nên "bần nhi vô xiển" (nghèo nhưng không
nịnh), còn "phú nhi vô kiêu" (giàu nhưng không kiêu) thì chưa cần kíp lắm.
Theo thiển ý của tôi thì hai tâm trạng này có mối quan hệ nhân quả rất lớn. Giả sử một người
có tiền, có quyền, hết sức kiêu căng, lại thích người ta nịnh nọt mình thì nhất định sẽ có những
chuyên gia nịnh hót (mà Bá Dương gọi là "phái đoàn vẫy đuôi") vây quanh người đó. Chỉ khi
nào các vị có tiền, có quyền, biết tôn trọng bạn bè nghèo thì những bạn bè nghèo mới có thể
bắt đầu không nịnh nọt được.
2- Ông Lưu bảo nước Anh ở thời đại Newton mới phát xuất nhân tài, còn thời nay chẳng khác
nào một nước không còn sinh khí, như đến tuổi già sắp chết.
Vậy để xem thử cái "tuổi già sắp chết" của nước Anh bây giờ ở mức độ nào, ta cứ tiện tay dở
danh mục các người đoạt giải Nobel từ năm 1960 cho đến năm 1984 (không nói đến cái tỷ lệ
cao của Đại đế quốc Anh lúc vẫn còn hưng thịnh trước năm 1960). Ta sẽ thấy trong 25 năm đó
tổng cộng trên 153 người đoạt giải ở lĩnh vực khoa học (vật lý, hóa học, sinh vật và ba loại y
học) thì người Anh đã chiếm 25 giải rưỡi [năm 1975 một nửa giải hóa học được chia cho một
người quốc tịch Úc làm việc hoàn toàn ở Anh là John Cornforth.
Từ trước đến nay người gốc Hoa được giải vật lý có 3 vị, nhưng vì đều là quốc tịch Mỹ, làm
việc nghiên cứu ở Mỹ nên trong danh sách họ chẳng được xem là người Trung Quốc nữa. Như
vậy tỷ lệ số người Anh đoạt giải chiếm đúng 1 phần 6 của tổng số thế giới, và chỉ đứng sau
nước Mỹ.
Đúng là sau Thế chiến Thứ nhất, nước Anh đã mất địa vị ưu thế trong lãnh vực khoa học kỹ
thuật của thời Newton, nhưng nếu nói là nước này đang ở vào tình trạng "không còn sinh khí"
thì chẳng hóa ra là quá phóng đại lên không?
3- Ông Lưu bảo vì phạm vi hoạt động của người Trung Quốc thủa xưa chỉ loanh quanh ở một
góc châu Á, cho nên không có lợi cho sự phát triển văn hóa.
Tôi thấy điều này rất buồn cười, chẳng khác nào ông bảo trước khi Tân Thế Giới bị chiếm làm
thuộc địa thì phạm vi hoạt động của người Tây phương không bị giới hạn trong một góc Âu
châu vậy.
Trung Quốc so sánh về đất đai và nhân khẩu cũng xấp xỉ tương đương với Âu châu. Thêm vào
đó lịch sử Trung Quốc còn có một cục diện thống nhất trong một thời gian lâu gấp đôi Âu
châu (Âu châu từ thời Trung cổ về sau đã chia thành bao nhiêu nước, mỗi nước có riêng một
thứ tiếng, một văn hóa, chính trị, tôn giáo,... chả có cái nào giống cái nào), cho nên sự giao lưu
văn hóa giữa các khu vực với nhau đâu phải được dễ dàng thuận lợi hơn Trung Quốc như ông
Lưu nói.
Thế tại sao Thời đại Phục hưng, Thế kỷ ánh sáng, nền Chính trị Lập hiến Dân chủ, cuộc Cách
mạng Công nghiệp, tất cả đều đã ra đời tại cái góc Âu châu đó?
Theo thiển ý thì văn hóa và công nghiệp Trung Quốc cho đến thời nhà Tống đã dừng lại,
không tiến được vì bị gò bó bởi tư tưởng của các nhà Lý học.
Ngay từ thời Hán trở xuống, cái Nho học nhà nước đã hoàn thành việc dựng lên nhiều trở ngại
rất lớn đối với học thuật và tự do tư tưởng.
Thời Tống, những người như Trình Di, Chu Hy, v.v...đều là những nhà Lý học lớn, nhưng lại
đem thu nhỏ phạm vi của Nho học lại. Họ cho rằng mỗi cá nhân, ít nhất mỗi cá nhân những
người đèn sách, đều phải suốt đời không có con đường nào khác ngoài con đường học làm
những ông thánh.
Cho đến lúc Lý học trở thành cái dòng chính của Nho học thì sức sống của văn hóa Trung
Quốc liền bị chà đạp. Đồng thời tầng lớp sĩ phu, để củng cố quyền lợi, địa vị cá nhân, đã phân
chia một cách độc đoán xã hội thành 4 giai tầng: sĩ, nông, công, thương, và đẩy địa vị xã hội
của những nhân tài chuyên nghiệp (công), những nhà buôn (thương) xuống bùn đen. Các phát
minh về công nghiệp thường thường bị xem là thứ "tranh dâm tranh xảo" (Đua đòi tà dâm và
xảo trá), "điêu trùng tiểu kỹ" (tiểu xảo dùng tạc nên các con trùng - rồng phượng), và rất ít
được báo đáp khích lệ.
Với tâm lý xã hội như vậy, những kẻ có tài cao đều nghĩ đến việc làm quan. Còn lại những kẻ
kém tài hơn mới đi làm công-thương-nghiệp.
Một xã hội khinh rẻ công-thương-nghiệp như vậy làm sao có thể hy vọng phát triển được khoa
học kỹ thuật, công nghiệp làm sao tiến được?
Kỳ thực vào thời Nam Tống, Trung Quốc đã có thể có đủ điều kiện cho tư bản chủ nghĩa phát
triển. Nếu như thời ấy có tự do trong lĩnh vực học thuật, nhà nước khích lệ công thương, cách
mạng công nghiệp rất có khả năng xảy ra tại Trung Quốc trước khi ra đời tại nước Anh.
4- Ông Lưu đặt câu hỏi: "Một nước dưới chân rặng núi Hy-ma-la-ya như nước Bu-tan làm sao
có thể phát triển công thương nghiệp như Đài Loan được?"
Tôi có thể đáp như thế này: "Cái đó chỉ tùy thuộc vào con người!"
Ông không thấy nước Thụy-Sĩ ở dưới chân núi An-pơ (Alpes) hay sao? Diện tích còn nhỏ hơn
cả Bu-tan, không những nước này có công thương nghiệp phát triển, mà trong nhiều ngành
nghề còn đứng vào hàng đầu thế giới.
Nếu căn cứ vào cái lý luận dựa trên vị trí địa lý thì tại sao Tây Ban Nha, Ý, Hy-Lạp, Ai-Cập
đều là những nước có địa thế thuận lợi lại không thể phát triển công thương nghiệp như Thụy-
Sĩ là một nước nằm giữa lục địa dưới chân núi. Chưa kể đến các nước như Na-Uy, Thụy-Điển
là những nước nằm trong một góc rất biệt lập của Âu châu?
5- Ông Lưu bảo Trung Quốc đã thay đổi quốc thể, chính thể và chính sách kinh tế một cách rất
dễ dàng. Ông muốn chứng minh rằng người Trung Quốc đối với tư tưởng ngoại lai cũng
không đến nỗi là những kẻ bảo thủ.
Tôi muốn hỏi ông Lưu: Thế tất cả những thứ thay đổi ông nói ở trên đó có phải đã được thông
qua một cuộc trưng cầu ý dân hoặc là sản phẩm của một quốc hội chân chính do dân bầu,
nghĩa là bằng những trình tự hợp pháp của một quốc gia hay không?
Nếu đúng như thế, thì luận điểm của ông Lưu mới đứng vững được.
Nhưng nếu những thay đổi này chỉ là pháp lệnh của những kẻ nắm quyền, hoặc được thông
qua bằng hình thức "con dấu cao su" của kẻ thống trị, thì điều đó chỉ minh chứng một điều là
Trung Quốc thiếu nhân quyền. Những kẻ thống trị sau khi nắm chính quyền, với súng đạn hễ
chọn chính thể nào thì áp đặt chính thể đó, chẳng cần biết nhân dân có đồng ý hay không.
"Văn hóa đại cách mạng" (Cách Mạng Văn Hóa), tuy khẩu hiệu thì hô hào nhằm lật đổ văn
hóa truyền thống của Trung Quốc, nhưng bản thân lại nói lên rất rõ cái tính chất độc tài chính
trị truyền thống và thói quen xâu xé lẫn nhau của người Trung Quốc.
Vì vậy, tôi vẫn cho rằng Cách Mạng Văn Hóa đúng là sản phẩm 100% của cái "văn hóa hũ
tương", nó không thể nào có thể phát sinh ở một nước tôn trọng nhân quyền và dân chủ được.
6- Ông Lưu bảo người Trung Quốc nói to vì trong tiếng Hán có nhiều chữ đồng âm, nên vừa
phải nói to vừa phải hoa chân múa tay mới diễn đạt được ý nghĩa muốn nói.
Nếu ý của ông Lưu mà đúng thì chúng ta không thể nào giải thích được làm sao người Trung
Quốc có thể dùng điện thoại để nói chuyện với nhau, vì lúc đó họ không thể hoa chân múa tay
mà cũng không thể nói thật to được.
Các độc giả không tin cứ thử gọi ngay dây nói cho người thân hay bạn bè thử xem. Lúc đó
mới thấy được cái lý luận của ông Lưu có tính thuyết phục hay không.
Theo ý tôi, người Trung Quốc nói to là vì họ không được dậy dỗ về cung cách nói chuyện và
trình tự của hội nghị, không biết tôn trọng sự phát ngôn của người khác, nên thường khi đối
phương nói chưa dứt đã vội át lời, bác bẻ lại luận điểm của người ta.
Cái hiện tượng giữa chừng ngắt lời kẻ khác trong xã giao thông thường là một việc luôn luôn
xảy ra ở Trung Quốc. Bởi vì trong lúc nói ai cũng tranh nhau phát ngôn cùng một lúc, nên mọi
người bắt buộc phải gân cổ càng to càng tốt.
7- Ông Lưu đã tốn khá nhiều mực để giải thích sự hỗn loạn giao thông ở Trung Quốc. Ông
cho rằng vì người Trung Quốc học lái xe tại những khu riêng biệt của trường dạy lái, không
như những người Mỹ học lái xe một cách thực tế ở ngoài đường. Vì vậy người Trung Quốc
mặc dù thi đậu được bằng lái xe, nhưng vẫn tiếp tục xem ngoài đường như khu vực riêng của
trường lái, và vẫn cứ tiếp tục lái ngang, đâm dọc.
Mặc dù tôi biết rất ít về tình hình dạy lái xe ở Đài Loan, nhưng tôi có thể hình dung được khi
dạy lái xe chẳng ai dạy cứ phải luôn luôn bóp còi hoặc đừng nhường người đi bộ ở chỗ dành
cho bộ hành qua đường (nếu không tuân theo lời dạy thì làm sao đậu bằng được?)
Thế tại sao khi lái xe ra đường họ lại không hề rời cái còi và không hề tôn trọng người bộ hành
ở lối dành cho người đi bộ qua đường tý nào cả? Xin ông Lưu giải thích giùm tôi.
Trên đây là một vài suy nghĩ của riêng cá nhân tôi sau khi đọc bài viết của ông Lưu.
Ông Lưu bảo ông Bá Dương bôi nhọ văn hóa Trung Quốc. Tôi thì cho rằng ông Lưu lại đi tô
son cho những cái vết bẩn của văn hóa Trung Quốc.
Nhưng dù có nhấn mạnh trên những khuyết điểm hay che đậy sai lầm của văn hóa Trung Quốc
chúng ta, tôi tin rằng cái động cơ của cả hai ông đều phát xuất từ tấm lòng thành.
Vì thế tôi cho rằng khi ông Lưu nói Bá Dương xu nịnh nước ngoài thì ông không những làm
tổn thương đến sự trung hậu của ông Bá Dương mà còn không đúng với lô-gíc.
Nếu Bá Dương là loại người xu nịnh thì đối tượng nịnh của ông ta tất phải là Quốc Dân Đảng
chứ đâu phải là người Tây phương.
Một người có tài như Bá Dương, lại vốn là người của Cứu Quốc Đoàn (ông đã từng là Tổng
cán sự của "Hiệp hội Các nhà văn Thanh niên" trong Cứu Quốc Đoàn), chỉ cần nịnh nọt nhà
đương cục một tý là ông cũng có thể trở thành người được tin dùng từ bao đời nay rồi.
Hà tất ông phải chọn con đường mưu sinh bằng cách đi viết tạp văn đả kích thói hư tật xấu của
xã hội, cuối cùng xúc phạm đến Quốc Dân Đảng, để cho cái đảng này bắt nhốt ông trong vòng
10 năm.
Một người mang tình cảm và tư tưởng như ông, có thể còn có thái độ kiêu ngạo là đằng khác,
đâu lý nào lại đi nịnh nọt.
Không biết ông Lưu có thấy thế không?
NGƯỜI TRUNG QUỐC VĨ ĐẠI
Châu Quế
"Luận đàn báo", Los Angeles, ngày 13-3-1985,
"Tự lập vãn báo", Đài Bắc, ngày 12-4-1985,
"Bách tính bán nguyệt san", Hương Cảng, ngày 16-5-1985.
Ông Bá Dương có một bài nói chuyện về "Người Trung Quốc xấu xí". Ý kiến của tôi hơi trái
ngược lại, tôi xin gọi nó ở đây là "Người Trung Quốc vĩ đại".
Bất cứ nơi nào có người Trung Quốc tụ tập sinh sống, việc điều đầu tiên ai cũng thấy được là
"đông, ồn, bẩn, loạn". "Đông" vì chen chúc nhau mới vui nhộn, "ồn" vì người Trung Quốc
thích ra oai hù dọa đối phương, "bẩn" vì không có bụi bay thì làm sao thấy được nắng đẹp,
"loạn" vì tinh thần tự do, tự tại.
Mối quan tâm của người Trung Quốc đối với những đau khổ của kẻ khác, được biểu hiện qua
lòng hiếu kỳ. Bởi vậy họ thích xem những cuộc hành hình, người chết, đám cháy, nước lụt,
hoặc tai nạn xe cộ. Cảnh ngộ của người khác càng thê thảm chừng nào thì họ lại càng thấy
thích thú chừng nấy. Nếu không thế tại sao khi lỡ dịp xem một thảm cảnh đối với họ lại là mất
đi một cơ hội lớn để hưởng thụ hạnh phúc của cuộc đời.
"Liên ngã thế nhân, ưu hoạn thực đa!" (Thương cho người đời; buồn lo, hoạn nạn quá nhiều!)
Nhìn những cái đau khổ của người đời, mà mừng rằng mình may mắn không bị sa vào trong
đó, chẳng phải là một điều hưởng thụ lớn nhất trong cuộc sống hay sao?
Mười mấy năm trước, lúc Đài Loan đang xây dựng đường cao tốc trên toàn đảo, từ Đài Bắc đi
Cơ Long chỉ có một con lộ nhỏ. Có lần trước một trường tiểu học công lập ở Tịch Chỉ xảy ra
một tai nạn xe cộ. Một đứa bé đi qua đường bị một chiếc xe chạy gấp cán chết ngay tại chỗ.
Cái xe sau khi gây tai nạn trước mắt mọi người cứ thế đủng đỉnh bỏ đi.
Cả hàng nghìn vạn con mắt nhìn thấy sự việc trên, thế mà không có một người nào đứng ra
chặn xe lại. Đến khi cảnh sát tới, lại cũng không ai có thể đứng ra làm nhân chứng để cho biết
một tý đầu mối nào về hung thủ. Mà ngay cả cái số biển xe cũng không ai ghi lại.
Trong phút chốc mọi người ào ào như ong vỡ tổ. Mặc dù cảnh sát hết sức mạnh tay ngăn chặn,
quần chúng vẫn như một dòng thác dời non lấp bể ùn ùn đến vây quanh cái thi thể bé nhỏ đó,
và làm tắc nghẽn ngay con lộ.
Trong đám đông bỗng thấy một người đàn ông tráng kiện, trạc độ tứ tuần, mặt mày phấn khởi,
mồm miệng thô tục, vừa hùng hổ gạt đám đông ra chui vào vừa chửi đổng: "Đ. M. nó, lại cán
chết người nữa rồi!".
Anh ta chuẩn bị để thưởng thức một cảnh ngoạn mục hiếm thấy. Nhưng khi anh ta chen được
đến chỗ nhìn thì bỗng nhiên như bị một cú điện giật, rồi khóc rống lên.
Đã mười mấy năm qua mà chỉ cần nhắm mắt lại là trong đầu tôi vẫn còn thấy rõ ràng cảnh
tượng ấy!
Mấy năm trước ở đoạn Tam Nghĩa trên xa lộ Đài Loan đã xảy ra một vụ đụng xe lớn, trong đó
có khoảng từ 60 đến 70 xe xô vào đít nhau.
Nguyên nhân đầu tiên của vụ này chỉ vì có một chiếc xe bị tai nạn, nhưng những xe chạy sau
đó vội vàng ngừng lại để xem. Thế là các xe từ phía sau đến phanh không kịp và đổ xô hết vào
nhau gây nên một đống nát bét khổng lồ.
Tại những nơi có người Trung Quốc, chỉ cần một tai nạn xảy ra thì không bao giờ thiếu đám
đông đến xem. Nhà cháy ngùn ngụt, lửa lên ngút trời, người bị nạn đang dậm chân kêu cứu
trong biển lửa, nhưng giữa đội cứu hỏa và đám cháy thế nào cũng có một bức tường người
đứng xem làm cản trở công việc cứu chữa.
Trong núi có tai nạn mỏ, vô số thợ bị nạn còn nằm dưới mỏ, sống chết còn tùy vào không gian
để thở. Ở vào thời điểm này, dù núi cao, đường xa thế nào đi nữa cũng sẽ có một đoàn người
hiếu kỳ hỗn loạn từ xa lặn lội kéo tới lấp kín cửa mỏ, tranh giành đường đi với những người
đến cứu nạn.
Chỉ cần nơi nào có dây ra một tý đường, thì chẳng quản khuất nẻo, thế nào đàn kiến cũng đánh
hơi đến được. Xe lửa trật đường rầy, máy bay bị rơi, lụt làm vỡ đê, có người tự tử, hành quyết
phạm nhân, người Trung Quốc đều như kiến tìm đường đến xem ngay.
Hơn hai mươi năm trước, một người đàn ông, trong lòng có điều uẩn ức, leo lên một mái nhà
cao mười tầng ở Đài Loan tuyên bố sẽ nhảy xuống tự tử. Tức thì người kéo đến xem đầy
đường, chật phố. Cảnh sát như gặp phải quân giặc, một đằng lo chăng lưới hứng người phía
dưới lầu, một đằng cho người lên thương thuyết, khuyên anh kia đừng nhảy.
Ký giả các báo đến giương sẵn máy ảnh, chỉnh sẵn ống kính chờ đợi để chụp lấy cái giây phút
hiếm có. Nhưng anh chàng nọ vẫn tác quái, mặc cho cảnh sát nói gãy cả lưỡi, một mực vẫn
nhất quyết bảo không nhảy không được, nhưng lại không nhảy ngay tức khắc, cứ kiểu đó kéo
dài cả tiếng rưỡi đồng hồ.
Phải nói cái quần chúng tò mò của Trung Quốc có lòng kiên nhẫn trong thiên hạ không ai bì
kịp, ngửng đầu theo dõi hai, ba tiếng đồng hồ rồi, cổ đã mỏi nhừ mà cũng không ai cần nghỉ
ngơi một giây phút nào cả.
Khi cái đồng hồ nhà ga xe lửa đối diện gõ 11 giờ vẫn không thấy anh ta nhẩy, mà người xem
vẫn chưa ai ra về. Trong đám người đứng đó, một bà nội trợ, tay xách cái làn không, mồm lẩm
bẩm: "Bảo nhảy mà mãi không nhảy cho rồi để cho người ta xem xong còn đi chợ chứ!"
Tại sao người Trung Quốc lại thích xem tai nạn? Bởi vì người Trung Quốc một đời họ là một
trường tai nạn. Một lần sinh làm người Trung Quốc là một lần phải hứng chịu những tai vạ
lớn. Tai họa vĩnh viễn là đứa anh em sinh đôi của người Trung Quốc, có tránh cũng không nổi,
chỉ có không biết là nó đến lúc nào và ở đâu thôi.
Trong Đạo đức kinh của Lão đam có viết: "Có và không đều cùng sinh ra lẫn nhau. Dễ và khó
đều cùng đưa nhau đến một kết quả. Dài ngắn rồi cũng cùng tạo hình dáng của nhau. Cao thấp
cũng đều khuynh loát lẫn nhau. Âm và thanh đều hòa vào với nhau. Trước và sau đều tùy
thuộc lẫn nhau" (Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ
tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy).
Khổ và sướng, hạnh phúc và tai họa không có gì tuyệt đối, tất cả chỉ là tương đối:
"Người ta cưỡi ngựa tôi cưỡi lừa, nhìn về đằng trước thì tôi không bằng, nhìn về đằng sau còn
có người phải đẩy xe, so với phía trên thì không đủ, so với phía dưới thì tôi có thừa".
Những người khác gặp những đau khổ vô cùng lớn, riêng tôi may mắn được thoát nạn. Nhìn
cảnh ngộ bi thảm của kẻ khác để rồi ngẫm nghĩ về sự may mắn của bản thân mình (không bị
hề hấn gì). Cái sự hưởng thụ đó trong cuộc đời này nào phải được nhiều nhặn gì cho cam! Nếu
không nắm lấy thời cơ mà hưởng thụ hết mình thì chẳng phải là tội lỗi hay sao?
Trong cuộc sống, người Trung Quốc thực sự luôn luôn phải sắm vai chính của những bi kịch,
nên hễ gặp ai đang diễn bi kịch thì làm sao có thể dễ dàng bỏ lỡ cơ hội xem cho được?
Tôi còn nhớ thời kỳ Kháng chiến chống Nhật, trên một bến phà bên bờ sông ở Triêu Thiên
Môn tại Trùng Khánh, mùa đông nước cạn, phà không thể cập sát bờ, để lên phà phải qua một
cầu nổi thô sơ.
Hôm ấy phà vừa cặp bến thì những người khách cứ theo thói quen dùng cái tài năng đặc biệt
của người Trung Quốc là xung phong hãm trận, tranh nhau xuống trước, liều mạng chen lấn.
Có một bà cụ già vì thế bị xô đẩy rơi tòm xuống sông, lúc chìm lúc nổi.
Dưới nước cả trăm chiếc thuyền lớn bé vẫn thản nhiên, trên bờ cả trăm nghìn người ai cũng
chỉ đứng giương mắt nhìn mà không một kẻ nào nghĩ đến chuyện cứu người.
Lúc đó bỗng trong đám đông có một quân nhân Mỹ bước ra, cởi bỏ áo ngoài, nhảy ùm xuống
sông. Sau một hồi rất chật vật, khó khăn, cuối cùng anh ta cũng cứu được người đàn bà ấy lên
bờ.
Người lính Mỹ, sau khi hoàn thành cái việc nghĩa cứu người, bèn quay lại chỗ mình cởi bỏ áo
để tìm, thì ôi thôi! Cái áo đã không cánh mà bay mất tự bao giờ!
Vị quân nhân Mỹ kia chỉ bị mất một cái áo, nhưng việc tôi gặp phải sau đây có thể còn thảm
thương hơn nhiều.
Đó là câu chuyện ba mươi lăm năm trước, song nó còn đeo đẳng tôi không biết đến bao giờ.
Hôm ấy ở ga xe lửa Đài Trung, tôi thấy một người lạ đi một mình bỗng đột ngột bị bạo bệnh
ngã xuống trước cửa ga.
Vì tình thế lúc đó quá gấp rút, tôi kêu bừa một xe ba gác đến chở ông ta đi nhà thương cấp
cứu. Đến bệnh viện, chưa làm xong thủ tục nhập viện thì người ấy đã qua đời. Bệnh viện bảo
tôi phải thanh toán lệ phí thủ tục nhập viện rồi đem thi thể đi ngay, sợ ảnh hưởng đến thanh
danh của họ.
Tôi chỉ trơ trọi có mỗi một mình ở đấy, không quen biết ai, cũng chẳng ai có thể cho tôi biết
phải đem một tử thi vô danh đi nơi nào.
May mà nhà thương đã kêu cảnh sát lại. Cảnh sát dĩ nhiên bắt tôi khai tên tuổi người chết,
nguyên nhân cái chết, lại bắt tôi phải đem thi thể đến một nơi thích hợp để chờ thầy thuốc
pháp y đến khám nghiệm. Dĩ nhiên để trả lời, bằng mọi cách phải biết được lai lịch người chết.
Rà đi rà lại cả ngày, phải khó khăn lắm tôi mới tìm được gia đình người chết.
Người nhà tới, lập tức nêu lên một vấn đề rất nghiêm trọng. Họ bảo rằng người chết có mang
theo mình 50 quan tiền mà bây giờ không tìm thấy nữa. Tôi liền bị cảnh sát gọi đi lấy khẩu
cung, viết giấy cam đoan, rồi tìm cả người bảo lãnh. Tất cả những thứ thủ tục này làm tôi mất
đứt một tháng trời. May mắn là tổ tiên tôi còn để đức lại, nên gia đình người chết cuối cùng
cũng nói sự thực.
Họ thú nhận rằng vốn sợ phải hoàn lại số tiền xe và tiền nhập viện mà tôi đã ứng trước nên đã
dựng đứng lên chuyện trong người kẻ xấu số có 50 quan tiền, để cứ gọi là "tương" trước cho
tôi "một quả" cái đã.
Nghìn may! Vạn may! Họ vẫn là người nhà quê thật thà, chỉ nói mất có 50 quan tiền. Chứ
chẳng may họ lại bảo là mất 5 vạn quan tiền thì suốt đời, có lẽ đến bây giờ, tôi vẫn còn nằm
trong nhà lao mất.
Người Trung Quốc đối với những đau khổ của kẻ khác thường có kiểu tò mò một cách trắng
trợn, thích thú mà có vẻ đồng tình, nhưng đối với những thành tựu và hạnh phúc của kẻ khác
thì giữ kín như bưng, cực kỳ bí ẩn, tâm địa đố kị cực kỳ ác độc.
Người Trung Quốc dù khoan hồng đại lượng cũng tuyệt đối không thể chấp nhận chuyện
người mình quen lại khá hơn mình, tuyệt nhiên không thể chịu đựng được bất cứ phần tử nào
ở cùng trong cái biển khổ ấy lại thoát ly ra được. Đó là cái gọi là "không muốn thấy cháo của
người nghèo đóng váng" (Cùng phường ăn mày mắng nhau dầy chiếu).
Mọi người đều cùng khổ, nấu cháo húp qua ngày, vạn nhất có người nấu nhiều hơn một tý,
cháo nấu đặc hơn một tý, trên mặt bát đóng một lớp váng mỏng thì cái đó sẽ không khỏi gây ra
vấn đề và không ai chịu được cả. Không đánh cho nó gục thì không được.
Lúc mọi người đều ăn mỳ canh xì dầu thì rất là vui vẻ, không có việc gì xảy ra. Chẳng may
tình hình biến đổi, tôi chỉ có thể ăn mỳ ruốc, mà anh lại được ăn mỳ sườn, như thế làm sao tôi
có thể chịu nổ ? "Mình đói người khác cũng phải đói" thì lúc ấy mới không thấy được mình
đói. "Mình chết đuối thì người khác cũng phải chết đuối" thì lúc đó mới không cảm thấy mình
đang chết đuối. Nếu phải nhẩy xuống giếng tự tử tất phải tìm được người nhảy xuống trước để
làm đệm cho mình.
Trong xã hội Trung Quốc, từ miệng kẻ bị thất bại vẫn nghe thấy nói có người thành công nào
đó phải biết ơn anh ta, bởi vì nhờ có anh ta người nọ mới thành công được. Bạn bè cũ hoàn
toàn không thể trở thành người làm của kẻ đã thành công. Người đã thành công cũng không
thể nào có thể dùng bạn cũ của mình để làm việc cho mình được.
Trung Quốc là một dân tộc không biết sùng bái anh hùng. Người Trung Quốc chỉ sùng bái
những con ma xui xẻo bị thất bại. Quan Công vì sơ xuất bị ám hại ở Kinh Châu, nên được
người đời thắp hương cúng bái. Sở Bá Vương vì cùng đường phải tự cứa cổ nên được xem là
anh hùng cái thế. Gia Cát Lượng vì cúc cung tận tụy dưới trướng Lưu Bị nên được tôn thờ là
thần cơ diệu toán. Nếu Quan Công giữ được Kinh Châu, Sở Bá Vương có được thiên hạ, Gia
Cát Lượng phục hưng được nhà Hán thì người đời sau chắc sẽ không sùng bái họ như vậy.
Đối với người chết còn như thế, huống hồ những người đang sống. Cùng xuất thân, cùng một
hạng người như nhau mà nó lại cứ dám ngoi lên cao. Nếu không kéo cho nó xuống ngựa thì
làm sao chịu được? Cái tinh thần "phản người cùng một tổ" này là một trong những thứ truyền
thống "ưu tú" của dân tộc Trung Quốc từ mấy nghìn năm nay.
Người Trung Quốc đối với những người nước ngoài to khỏe xưa nay vẫn chăm chú đến việc
giữ hòa bình, nhất là đối với những kẻ địch hung hãn. Dầu cho họ có cưỡi lên đầu lên cổ mình
thì cũng cứ khoan hồng đại lượng, thản nhiên chịu đựng.
Duy chỉ đối với giữa người mình với nhau thì lại không thể để cho ai làm dù một hạt bụi bay
vào mắt, không thể để ai nói điều ong tiếng ve gì về mình. Nếu có chuyện đó xảy ra tức thì
phải đập cho vỡ đầu, hạ độc thủ, phóng ám khí.
Những thủ đoạn bôi mặt đá nhau này hễ dùng đến thì không thứ nào không dùng đến mức tối
đa. Nhất là kiểu bịa đặt, thư nặc danh, tung tin đồn, báo cáo mật,... càng là những tuyệt kỹ mà
người Trung Quốc xưa nay vẫn đoạt giải quán quân trong thiên hạ. Người Trung Quốc đặc
biệt nghiện những thứ này. Bất kỳ dưới chính quyền nào, hễ trong tay họ nắm được quyền sinh
sát là y như bị tật nghiện giống như nghiện ma túy, rất khoái được báo cáo mật về kẻ khác,
nghe rồi tin những báo cáo ấy như một người mù.
Từ thời Tần (221-207 trước Công nguyên) Thương Ưởng đã làm một đạo luật gọi là "vu cáo
phản tọa" (Vu oan cho người tội gì thì bị khép vào tội ấy), người Trung Quốc vốn là kẻ vẫn
gìn giữ lại bất cứ thứ gì, thế mà không hiểu sao lại vứt cái đạo luật này đi?
Một bạn cũ của tôi là ông Trưởng Cung, một con người tài hoa, viết chữ đẹp, vẽ đẹp, khắc
đẹp, một người mến yêu cổ đạo, tâm địa tốt, lòng dạ ngay thẳng nghĩ thế nào nói thế ấy. Vào
thời quân phiệt Bắc Dương, ông bị người mật báo với tội danh "thuộc đảng Cách mạng", bị xử
tử hình. Cũng may là ngay lúc còn chưa bị hành hình thì cuộc Bắc Phạt thành công. Đến thời
Mãn Châu Quốc (những năm 1930) ông lại bị mật báo là "phần tử Trùng Khánh", cũng lại bị
khép vào án tử hình. Chỉ còn một ngày nữa bị đem bắn thì quân Nhật đầu hàng, nếu không thì
chắc chắn đã chết rồi.
Lúc quân cộng sản chiếm Đông Bắc ông lại bị mật báo là "Hán gian" và "gián điệp Quốc Dân
Đảng". Cùng một lúc hai tội danh này lại đưa ông đến một lần thứ ba bị tuyên án tử hình. Sau
đó nhờ cuộc trao đổi tù binh ông được đem ra Đài Loan. Nhưng ở đây ông lại bị mật báo là
"phỉ điệp" (gián điệp của thổ phỉ, tức gián điệp cộng sản), bị xử 7 năm tù. Ông Trưởng Cung
năm nay đã 82 tuổi, không biết rồi còn có thể bị chụp thêm một cái mũ nào nữa lên đầu hay
không?
Một người Trung Quốc, như một cá nhân thì thông minh tài trí; nếu nói về năng lực, tinh thần
hăng hái thì chẳng thua ai. Nhưng lạ thay, điều khiển một tỷ người Trung Quốc lại cũng dễ
như lùa một đàn cừu.
Anh chỉ cần để cho tất cả mọi người cùng chịu khổ, cùng bị hà hiếp như nhau thì họ sẽ chịu
đựng được những cực khổ và những sự ức hiếp đến độ không loại người nào có thể chịu được.
Nếu thi tài chịu đựng khổ cực, gánh vác tội vạ đồng thời ngậm đắng nuốt cay, nhất định người
Trung Quốc đoạt giải quán quân.
Họ giỏi những thứ đó cho nên thường chỉ bị người dùng roi da quất lên lưng, bắt tụ tập lại
thành hàng nghìn, hàng vạn giống một đàn kiến thợ để làm những công việc của bọn nô lệ,
như xây Vạn Lý Trường Thành, đào Đại Vận Hà (kênh đào liên tỉnh Hà Bắc - Sơn Đông -
Giang Tô - Chiết Giang - ND).
Nhất thiết anh đừng mong cải thiện cuộc đời họ. Cách tốt nhất là anh chịu khó lắng nghe họ kể
khổ, làm phúc một tý cho họ bằng cách cho họ tưởng anh cũng khổ và đồng tình với họ. Chỉ
cần như thế là họ thỏa mãn lắm rồi!
Chuyện "đập vỡ nồi để mọi người đều không có cơm ăn", người Trung Quốc nào cũng làm
được. Nhưng "nhặt củi để đốt cho đống lửa chung cháy to lên" thì không người Trung Quốc
nào làm nổi.
Khi xem xi-nê, đến đoạn cô nhi quả phụ gặp bước đường cùng, bi thương tuyệt vọng, tất cả
người xem kẻ thì lau nước mắt, người chùi nước mũi, hết đợt này đến đợt khác. Cả rạp sụt sùi
chẳng khác nào cuộc đời của chính bản thân mình đang được chiếu trên màn bạc vậy. Lúc đó
người Trung Quốc mới thông cảm làm sao cái tâm trạng "người đói cũng như ta đói, người
chết đuối cũng như mình chết đuối" (Nhân cơ kỷ cơ, nhân nịch kỷ nịch), cái tình cảm đó lúc
ấy thể hiện đến cùng cực.
Nhưng lúc tan phim đi về, ra đến ngoài đường, bỗng thấy bên vỉa hè bao nhiêu trẻ thơ tàn phế
đang bò lê bò càng, người già yếu bệnh hoạn đang van xin bố thí. Những nhân sĩ hảo tâm mắt
còn đỏ hoe vì vừa mới khóc trong rạp kia vội vàng hiên ngang đi lướt qua thật mau như không
hề nhìn thấy gì.
Đó đúng là người Trung Quốc. Họ sống ở hai thế giới khác nhau, vĩnh viễn mang trong người
một nhân cách song đôi. Một mặt là thế giới hiện thực đầy rẫy chiến tranh, đói khát, đau khổ,
chết chóc, người với người quyết liệt kiểu "mày chết tao mới sống". Ở đó, dù cho có là vua
Đường, Nghiêu, Ngu, Thuấn cũng không thể cho ai một cái bánh nướng. Những thứ của Kinh
Thi hay lời dạy của Khổng Tử cũng không thể đem bỏ vào cho đầy nồi, nấu lên cho thành cơm
được. Tu (thân), tề (gia), trị (nước), bình (thiên hạ) chỉ là những thứ của nhà người khác. Khi
đói thì chỉ có mỗi cái bụng của mình là thứ quan trọng nhất.
Dân tộc Trung Quốc là một dân tộc lâu đời, có lịch sử văn hóa 5.000 năm, mà cũng có cả kinh
nghiệm của 5.000 năm sống khốn khổ. Những ông thánh hiền xưa để lại cho chúng ta một lô
lý luận về cách làm người phải như thế nào. Nhưng 5.000 năm sống gian khổ kia cũng mài
dũa ra một lô kinh nghiệm quý báu về cách phải làm như thế nào để sinh tồn.
Trên lý luận thì phải làm như thế này mới đúng, nhưng trong thực tế lại phải làm như thế kia
mới có hy vọng sống còn. "Lý tưởng" và "thực tiễn" vĩnh viễn tương phản nhau. Đã không thể
vứt lý tưởng đi, lại không thể không chú ý đến thực tế. Thế là chỉ còn có cách cứ phải sống
cùng một lúc trong cả hai cái thế giới đó, mang lấy cái nhân cách nhị trùng trong một thân
phận.
Người Trung Quốc trong thế giới lý tưởng thì giảng đạo đức, nói nhân nghĩa, nhất thiết có đủ
cả những đức tính trung, hiếu, nhân, ái, tín nghĩa, hòa bình. Người Trung Quốc trong thế giới
hiện thực lại luôn luôn giãy dụa bên bờ đói khát, nằm giữa ranh giới của sự sống và cái chết.
Trong đời người chuyện lớn nhất là làm sao giữ được mạng sống của mình. Để giữ được nó,
không có việc gì mà không dám làm, dù phải lừa dối lẫn nhau, dù gặp sao hay vậy, sống tạm
bợ cho qua ngày. Cái đạo lý làm người trong thế giới lý tưởng chỉ là tấm gương để cho người
khác soi, là lời để cho người khác nghe. Cái hành vi trong thế giới hiện thực mới là cuộc sống
thật của mình.
Bởi vậy anh mãi mãi không tài nào có thể đoán được ý đồ của người Trung Quốc qua lời nói
của họ được. Một người Trung Quốc bảo anh ta chúa ghét khách sáo, nhưng anh đừng tưởng
thật mà tùy tiện với anh ta được. Anh ta bảo rằng hôm nay anh ta chẳng hứng nói chuyện gì
cả, tuy vậy anh không thể không mời anh ta nói chuyện được.
Nếu chỉ có thế thì cũng đơn giản thôi. Chúng ta chỉ cần đảo ngược những lời anh ta nói, tất sẽ
đúng ý anh ta, có phải thế không ? Nhưng thực ra lại không phải hiển nhiên như vậy.
Người Trung Quốc nói, nhiều khi có nghĩa ngược lại, nhưng có lúc nó lại thật là như vậy. Anh
có là con giun trong bụng anh ta cũng chưa chắc có cách gì biết đúng được ý của anh ta.
Lão Trương và lão Vương là bạn cũ. Con trai của lão Trương cưới vợ nhưng không gửi thiếp
mời lão Vương. Việc này làm cho lão Vương nắm chắc lý lẽ trong tay, nên sau đó lúc gặp lão
Trương, khí thế đùng đùng, bắt đầu hỏi tội:
- "Anh xem bạn bè bằng nửa con mắt, có đúng không? Sao con lấy vợ mà không báo cho
người ta một tiếng?"
- "Đó là chuyện của con trẻ, tôi chẳng dám phiền đến ông anh làm gì".
- "Nói gì lạ thế ! Chúng mình là chỗ thâm giao, sao lại có thể không báo cho nhau một tiếng
nhỉ?"
- "Thôi, xin lỗi! Xin lỗi! Chủ nhật tuần sau đứa con thứ hai của tôi cũng sẽ lấy vợ mà. Cho dù
thế nào đi nữa, nhất định cũng mời anh vui lòng đến dự cho!"
- "À! Ờ!"
Thế là sau đó lão Vương đi nói khắp nơi rằng lão Trương liên tục mượn cớ con lấy vợ để làm
tiền. Rồi lại lén đến mật báo Cục Hành chính Nhân sự là lão Trương vi phạm vào "Mười điều
Quy định đổi mới của ngành giáo chức".
Các nhà hiền triết Trung Quốc đặt tiêu chuẩn cho con người quá cao, cái đòi hỏi của họ đối
với con người quá khắc nghiệt, đặt ra quá nhiều quy phạm cho hành vi con người mà một kẻ
trần tục hoàn toàn không thể tuân theo, nhất là càng không thể làm nổi trong một xã hội hiện
thực.
Cứ chiếu theo các quy tắc của họ mà nhất nhất làm theo, nếu không bị gọi là đồ ngốc thì chắc
chắn cũng sẽ đi đến chỗ bị diệt vong. Vả lại họ còn nhất quyết cho rằng "nếu không thành
thánh hiền, thà làm cầm thú" (Bất vi thánh hiền, tiện tác cầm thú). Thánh hiền trong đền miếu
chỉ là những thứ thần tượng làm bằng đất, gỗ; cầm thú với con người thực ra có nhiều sự khác
nhau. Người vẫn là người, tuy rằng có khuynh hướng muốn trở thành thánh hiền, nhưng xét
cho cùng vẫn không phải là thánh hiền. Người là loại động vật có thất tình và lục dục.
Mục đích tối hậu của cuộc đời là sống còn. Mấy nghìn năm gian khổ đã tôi luyện cho người
Trung Quốc tinh khôn ra. Cứ cái nguyên tắc nào, cái lý tưởng nào giúp cho họ sống còn được
tức là những thứ cao nhất, lớn nhất, hay nhất.
Người Trung Quốc đều hy vọng mọi người nhiệt tâm vì công ích, ham làm việc nghĩa, xem
việc thiên hạ cũng như việc mình, ít nhất có thể thấy bất bình thì tuốt gươm tương trợ, bênh
vực lẽ phải, ủng hộ chính nghĩa. Nhưng mấy nghìn năm đó lại dạy cho con người tuyệt đối
chớ chuốc lấy những việc không đâu, vì kết quả của nó, nếu nặng có thể đưa đến chuyện mất
mạng như chơi, nếu nhẹ cũng đưa đến những chuyện hết sức phiền toái.
Để sống còn, phương pháp duy nhất là sống như con rùa, lúc phải rụt đầu thì rụt đầu. "Tuyết
trước nhà ai người nấy quét, chớ có lo đến sương trên mái ngói nhà người khác" (Các nhân tự
tảo môn tiền tuyết, hưu quản tha nhân ngõa thượng sương), "nghề có thể nuôi thân thì theo,
việc không dính đến mình chớ mó" (Nghiệp khả dưỡng thân tu trước kỷ, sự vô can kỷ mạc lao
tâm).
Trừ phi chán sống mới đi bắt chước Kinh Kha, Nhiếp Chính (Hai người hiệp khách đời Chiến
Quốc, Kinh Kha đâm Tần Thủy Hoàng, Nhiếp Chính đâm Hàn Tường - ND). Tôi lại xin kể ra
đây vài chuyện khác để nói về quy tắc sống đó:
Tại ngã tư, một người cưỡi xe máy bị xe đâm ngã lăn quay ra giữa đường, máu chảy lênh láng,
nguy cấp trăm phần. Kẻ gây tai nạn đã cao chạy xa bay. Những xe qua lại đều vòng sang một
bên mà đi thật nhanh, chẳng ai muốn rước phiền phức vào thân.
Đột nhiên có một anh tài xế tắc-xi tốt bụng đi qua thấy không đành lòng mới vội vàng dừng xe
lại, ôm người bị thương lên xe đưa ngay đến nhà thương, đồng thời nộp hộ cả tiền nhập viện,
chỉ cốt làm sao có thể cứu được một mạng người.
Người bị thương sau khi từ cửa địa ngục trở về (tai qua nạn khỏi) liền tố ngược lại, vu oan cho
ân nhân cứu mạng chính là hung thủ đã làm mình bị thương.
Lý do anh ta đưa ra rất đơn giản: nếu không phải là người đã gây ra tai nạn thì có lý gì mà vốn
không quen biết bỗng nhiên đem một người bê bết máu lên xe mình đưa đến nhà thương, lại
còn trả dùm cả tiền nhập viện nữa?
Quan tòa cũng coi đó là lý do đầy đủ. Thế là vị lái xe tốt bụng ấy cuối cùng bị mắc vào ác báo,
phải bán cả xe đi để bồi thường cho cái lỗi lầm đã cứu người của mình, lại còn bị xử ngồi tù
thêm một năm trời nữa.
Còn chuyện kiểu thế này có lẽ nhiều người cũng đã từng chứng kiến: một hôm trời mưa, trên
chuyến xe buýt chật ních người, các cửa xe đều đóng kín mít. Lúc ấy lại có một đứa du côn dở
thuốc ra hút trong xe, khói thuốc cay xè. Mọi người trong xe chẩy cả nước mắt nước mũi,
người thì ho, người thì nghẹt cả thở, thế mà không một ai dám đứng ra bảo cái đứa kia tắt
thuốc đi.
Tại Trung Quốc, chỉ cần sự việc xúc phạm một lúc đến hai người trở lên thì tuyệt đối chẳng ai
có thể đứng ra phản đối cả. Ai cũng nghĩ kẻ bị thiệt hại không phải chỉ có mỗi một mình ta.
Nếu mọi người đều có thể chịu đựng được, không có lý do gì mình lại xuất đầu lộ diện để đối
phó. Nếu phải thi sự nhẫn nại, chịu đựng thì trong trường hợp này, không loại người nào có
thể so với người Trung Quốc.
Đối với việc xâm phạm vào quyền lợi của bản thân, chỉ cần có người khác cũng bị như họ thì
người Trung Quốc nuốt giận nín thinh, rút lui không dám đương đầu, không dám làm mếch
lòng kẻ đang gây thiệt hại cho mọi người, không muốn cho ai khác có thể được hưởng lợi lây
nhờ hành động hoặc sự can thiệp của mình.
Còn đối với những việc không liên quan đến quyền lợi bản thân, người Trung Quốc luôn luôn
bo bo giữ mình, đứng ngoài cuộc, làm kẻ bàng quan đứng xem bên ngoài, không bao giờ
nhúng tay vào. - Người giỏi dại gì đi ngửi cứt chó? Anh bảo tôi là loại máu lạnh ư? Máu
không lạnh thì làm sao tôi có thể sống lâu trăm tuổi được?
Bất cứ vào thời đại nào, làm người Trung Quốc mãi mãi còn là một thứ tai họa. Từ 5.000 năm
nay, người Trung Quốc luôn luôn giẫy dụa trong đói khát, luôn luôn vật vờ trước cửa địa
ngục, dở sống dở chết.
- "Ăn uống no đủ rồi mới biết đến vinh nhục; kho đụn có đầy thì mới biết được đến lễ nghi"
(Y thực túc nhi hậu tri vinh nhục, thương lẫm thực nhi hậu tri lễ tiết).
Trong lúc còn đang sống chết, mất còn chưa biết thế nào thì làm sao có thể ung dung vái chào
ai được. Nếu bốn, năm ngày chưa có một hột cơm vào bụng, mắt mũi tối sầm, thì bất kể thịt
chó, thịt bò, mà thậm chí ngay cả đến thịt người anh cũng vẫn cứ phải ăn để mà sống. Các ông
thánh Trung Quốc còn phán thế này: "Đừng lo ít, chỉ lo không đồng đều; đừng lo nghèo, chỉ lo
không được an thân!" (Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạn bần nhi hoạn bất an)
Đây là hai câu rất hồ đồ.
Đã ít thì làm sao mà đồng đều cho được?
Một quả táo nếu đem chia cho một vạn người ăn thì làm sao mỗi người có được một phần
bằng nhau?
Đã nghèo thì làm sao mà yên thân được?
Nếu một người năm, sáu ngày không có một tý gì vào mồm thì làm sao anh ta có thể vui vẻ
vái chào mọi người? Để rồi lui vào chờ chết chăng?
"Đừng lo ít, chỉ lo không đồng đều" là câu dùng để dạy mọi người phải cố gắng chịu đói chịu
khổ như nhau.
"Đừng lo nghèo, chỉ lo không được an thân" là để yêu cầu mọi người Trung Quốc từ nơi đói
khổ xin được tiến vào Ngục Môn Quan (Cửa Địa Ngục) một cách ngoan ngoãn.
Người giàu có chưa chắc đã rộng rãi, nhưng kẻ bần cùng và người keo kiệt nhất định là hai
anh em sinh đôi, cả hai trạng thái này đều đưa con người ta đến chỗ trở thành ích kỷ.
Người Trung Quốc có ích kỷ không thì tôi không biết. Nhưng tôi nhớ một chuyện thế này.
Năm 1949, tại một công xưởng quốc doanh, một viên chức có đôi giầy đế bị thủng muốn tìm
miếng da để chữa. Anh thấy ở trong một cỗ máy, chỗ bộ phận khởi động, có cái dây đai bằng
da dài hơn 10 thước, khả dĩ có thể dùng được cho việc chữa giầy. Thừa lúc đêm đến máy
ngưng chạy, anh lén cắt lấy khoảng 3 tấc.
Kết quả là giầy anh sửa rất tốt, nhưng cỗ máy ở phân xưởng lại không chạy nữa. Nó nằm bất
động trong một thời gian hơn hai tháng, vì thuở đó những dây đai da như loại ấy còn phải
nhập từ nước ngoài vào.
Chuyện anh chàng này - chỉ vì cắt một miếng da nhỏ nhưng làm hại cho cả một công xưởng -
còn có thể có nguyên do: một phần vì giầy hỏng cần sửa gấp mà lại không biết cách nào làm
tốt hơn, một phần vì bản thân vốn là thợ thuyền không được giáo dục đến nơi đến chốn, việc
này còn có thể hiểu được.
Nhưng một giáo sư đại học chắc chắn phải được giáo dục tốt hơn chứ?!
Năm đó, một phái đoàn giáo sư đến tham quan một cơ sở, thấy trên một ngôi đình trong hoa
viên nơi đây, hoa đậu tía (Wistaria, Glycine) đang nở rất tươi đẹp. Cái loại hoa này từ dưới đất
chỉ có một thân gốc bò lên đến trên nóc đình mới tỏa ra làm nhiều nhánh nhỏ, lan đi khắp nơi,
rũ xuống thành một cái tàn hoa lớn. Một giáo sư nhìn thấy loại hoa đẹp này rất lấy làm ưa
thích, nhân lúc không ai chú ý, lấy kéo sắc ra, bụp một cái, anh ta cắt ngay một đoạn thân
chính để đem về nhà ươm trồng.
Người Trung Quốc, nếu thấy một việc gì mang đến thuận tiện hay lợi ích cho mình, thì cứ làm
chứ không cần biết đến những tai hại mà nó có thể gây ra cho những người khác.
Con đê phòng lụt là một thứ hệ trọng đến sinh mệnh và tài sản biết bao nghìn, vạn người. Thế
mà có kẻ chỉ vì vài đồng bạc đã không ngần ngại cắt những giây thép trên cửa đê để đem đi
bán cho đồng nát. Đến lúc lụt lội xảy ra làm hàng nghìn người chết, tổn thất ức triệu tài sản thì
người đó chỉ nghĩ rằng "đó là việc của các người, chẳng can dự gì đến tôi". Trận thủy tai năm
1959 là một chứng cứ rành rành của việc ấy.
Chắc nhiều người hẳn vẫn còn nhớ câu chuyện xảy ra cách đây mấy năm. Có công ty nọ bán
ra một lô thuốc kháng sinh pê-ni-ci-lin dùng cho thú vật đã bị hư. Sau đó một nhà buôn mua
được, đóng bao bì lại thành loại pê-ni-ci-lin cho người dùng, rồi đem bán ra thị trường. Người
mua tiêm vào bị chết liên tục. Thế mà việc này rồi cũng "chìm xuồng" luôn, không ai biết
được kẻ nào là thủ phạm!
Hiện tại ở Đài Loan chẳng vẫn còn thấy có nhiều ống tiêm nhựa đã dùng ở nhà thương xong
lại được đem ra bán trên thị trường hay sao?
Một bộ máy cơ khí trị giá hàng nghìn, hàng vạn đô-la Mỹ là đồ công cộng, tài sản chung của
mọi người, song nếu tôi cưa được một ống sắt từ trong đó ra để làm một cái gậy, dù cái gậy ấy
không đáng giá tới vài chục đô nhưng nó là của tôi, thì tôi cứ làm. Nếu anh không thấy rõ
chuyện này, anh không xứng đáng là người Trung Quốc chút nào hết.
Rất may thay ở các nơi công cộng bây giờ đều dùng cửa tự động. Việc này làm cho cơ hội mất
mặt của người Trung Quốc đã bớt đi nhiều. Trước kia khi còn dùng cửa lò-xo, người Trung
Quốc mỗi khi đi ngang chỉ cần lấy chân đạp một cái để mở cửa rồi bước phắt qua, mặc kệ
không cần biết đằng sau có ai không, cứ thả cho cửa buông ra làm nhiều người đến sau dập
mày, dập mặt. Đó cũng là một trong những "đức tính" của người Trung Quốc.
Hiện nay Đài Loan đã có tiền rồi, ngành du lịch cũng được mở mang, người Trung Quốc lại
càng có nhiều cơ hội để biểu diễn những truyền thống ưu việt của họ ở những nơi ăn uống
đông du khách.
Người Trung Quốc lúc nào cũng luôn mồm bảo "bị thiệt thòi là được phúc" (Ngật khuy thị
phúc). Nhưng trên thực tế họ lại rất sợ bị thiệt thòi.
Tại những bàn tiệc ăn thả cửa, lúc lấy thức ăn, bất kể mặn ngọt chua cay, lại cũng không hề
ước lượng xem mình ăn được chừng nào; cứ thấy có thứ nào bày trên bàn là nhồi cho thật đầy
vào bát đến độ có thể làm bội thực được một con voi. Nhưng rồi lại không thể ăn nhiều hơn
người khác, cuối cùng phải bỏ lại thừa mứa phí phạm biết bao nhiêu.
"Trời đất là quán trọ của muôn loài" (Thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ); nhưng người Trung
Quốc lại xem đất nước mình là một quán trọ, chỉ là chỗ để trú chân tạm thời, không có ý định
ở lâu dài. Họ chỉ thích những việc nhanh được lợi của một thứ "chụp giật chủ nghĩa" nhỏ
nhen.
Câu "Quan không sửa chữa công đường" (Quan bất tu nha) là ý nói không ai muốn làm việc gì
để kẻ khác có thể trục lợi. "Trẻ tuổi không trồng cây hồ đào" (Thiếu bất chủng hồ đào), bởi vì
cây này (walnut, noyer) phải trồng mười mấy năm mới ra quả.
Vật liệu mà người Trung Quốc dùng để xây nhà thường là đất, gỗ mặc dầu vẫn có những thứ
bền bỉ hơn như gạch, ngói, đá, thép. Lịch sử Trung Quốc cả mấy nghìn năm nhưng chỉ thấy
còn lại rất ít những nhà cửa cổ kính, cái cổ nhất nhiều lắm may ra được vài trăm năm. Trong
khi đó, nhà cửa của người Tây phương ở khắp nơi đều xưa cũ như lịch sử của họ.
Người Trung Quốc không yêu mến một tý nào cái "quán trọ lớn" họ đang ở tạm trên trái đất
này, cũng chẳng nghĩ gì đến những lữ khách sẽ đến đó một khi họ đã ra đi. Nguyên do cũng
chỉ vì quá nghèo khổ, nghèo khổ nên ở đâu, lúc nào cũng gần kề sự chết đói, chẳng thể nào
nghĩ được đến một việc gì khác ngoài sự sống còn.
Người Trung Quốc đối với những tài nguyên có tầm quan trọng sống còn của con người trên
trái đất vẫn có thái độ "giết gà lấy trứng, tát đầm bắt cá", chỉ cần có được cái lợi ngay trước
mắt, không bao giờ nghĩ đến chuyện trường kỳ như kiểu nuôi cừu để lấy len.
Hễ chỗ nào có người Trung Quốc ở qua, đất đai thường bị khai thác đến kiệt quệ, rừng bị tàn
phá một cách vô tội vạ, cầm thú bị săn bắn đến tuyệt chủng, cá tôm bị đánh bắt đến không còn
sinh sản kịp. Mảnh đất trên đó vốn có một dây chuyền sinh thái của vạn vật đều bị người
Trung Quốc bóc xé đến trơ trọi chẳng còn gì ngoài một vùng cát vàng mênh mông.
Tại Vũ Cống, ở Cửu Châu (Ung Châu), nơi ngày xưa là "ruộng đồng bát ngát"; ngày nay "chỉ
có nước mà không có thuyền, mười quả núi thì chín quả trọc". Phía đông bắc Trung Quốc
(Mãn Châu) và Đài Loan ngày nay còn tương đối trù phú, bởi vì hai miền đất này là nơi người
Trung Quốc di dân đến muộn, vì vậy tài nguyên vẫn còn chưa bị tàn phá đến cạn kiệt.
"Người quân tử mà thích của cải thì phải kiếm được nó bằng cách hợp đạo lý" (Quân tử ái tài,
thủ chi hữu đạo). Cái câu nói của người xưa này xem ra vẫn còn có giá trị đến ngày nay. Con
người phải theo đuổi lợi ích, nhưng không khi nào được quên chính nghĩa.
"Nghĩa" và "lợi" vốn không hề xung khắc mà còn bổ túc cho nhau nữa. Nhưng xưa nay các
ông thánh Trung Quốc cứ ra rả bảo "nghĩa" và "lợi" không thể đi đôi với nhau. Nào là "hãy
giữ tình bạn cho trong sáng, không được mưu lợi; hãy làm cho đạo lý sáng tỏ, không được tính
toán công lao" (Chính kỳ nghị bất mưu kỳ lợi, minh kỳ đạo bất kế kỳ công).
Vẫn cứ cái thói đạo đức giả, nào là trọng nghĩa khinh tài, không màng đến chuyện thành công.
Ở đầu lưỡi lúc nào cũng lớn lối nói toàn chuyện trên trời dưới biển, hoàn toàn chẳng giống với
cái gì xảy ra trong cuộc sống thực tế cả.
Mấy thế hệ người Trung Quốc được giáo dục trong tinh thần của "Nghĩa Hòa Đoàn" (tên một
hiệp hội đời Thanh, 1899 khởi nghĩa ở Thiên Tân, chủ trương phò Thanh diệt Tây phương,
đưa đến việc tám cường quốc liên quân đánh Trung Quốc - Boxers - ND) hễ mở mồm ra là
nói: "Vì cái chủ nghĩa thực dụng của Tây phương mù mịt, nên cái đạo đức của Trung Quốc bị
đắm chìm" (Do vu Tây phương công lợi chủ nghĩa đích di mạn, tài sử đắc Trung Quốc nhân
đạo đức luân táng). Sự thực thì lại hoàn toàn trái ngược. Vì trên thế giới này không có loại
người nào lại thực dụng bằng người Trung Quốc.
Người Trung Quốc làm bất cứ việc gì, trước tiên bao giờ cũng nghĩ đến một vấn đề: "Chuyện
này có chỗ nào mình lợi dụng được không?"
Ông bác học người Anh Newton trước khi tìm ra "Định luật vạn vật hấp dẫn" (còn gọi là
"Thuyết trọng lực") đi đồng thì phân rơi vào hố xí, sau khi phát minh định luật này, lúc đi
đồng phân vẫn cứ rơi vào hố xí. Hoàn toàn không phải là trước khi phát minh thì đi đại tiện
cứt bay lên đầy trời. Vì vậy dân tộc Trung Quốc không bao giờ "phát minh" ra được một
"thằng ngốc" như Newton cả.
Ga-li-lê tìm được "Nguyên lý rơi tự do của vật thể", đối với người Trung Quốc đấy chỉ là cái
trò chơi mất thì giờ, chẳng có giá trị thực dụng gì cả. Những người "hiền" chẳng ai chơi cái trò
đó!
Người Trung Quốc khấn Bồ-tát phù hộ cho họ trúng số độc đắc. Nếu họ trúng thì họ sẽ diễn
ngay cái tuồng đền ơn, trả nghĩa. Nếu không trúng thì họ sẽ rủa Bồ-tát là đồ tượng gỗ, tượng
đất. Chỉ cần có gì hay thì thần thánh nào họ cũng thờ. Bằng không thì họ chẳng tin thánh thần
nào cả, chỉ tin vào chủ nghĩa thực dụng của họ mà thôi.
Người Trung Quốc không có cái cuồng tín tôn giáo, không hề có những thánh tử vì đạo, lại
cũng không thể để xảy ra chiến tranh vì tín ngưỡng.
Người Trung Quốc lại càng không có những chuyện tình trong đó những người yêu nhau chết
vì tình yêu. Người Trung Quốc học đạo "Trung Dung", học "sự tự kiềm chế", học cái gì cũng
phải một vừa hai phải. Nói trắng ra tất cả lại vẫn xuất phát từ quan điểm thực dụng. Không thể
buông thả cho nhiệt tình bộc lộ, càng không thể quả quyết về một việc nhỏ nhen nào. Bất cứ
cái gì cũng cân nhắc lợi hại, đắn đo xem có đáng hay không đáng.
"Cần gì!" (Hà tất!) là một câu đầu lưỡi nói lên cái nguyên tắc chỉ đạo tất yếu của người Trung
Quốc khi buộc phải khuất phục một thế lực xấu.
Anh bị người ta gài bẫy, bị oan tày đình, tan cửa nát nhà, vợ con ly tán. Anh phải báo thù, phải
đòi cho được lẽ phải.
Lúc đó bạn bè sẽ khuyên anh: "Cần gì! Sự việc đã thế rồi, dĩ nhiên anh phải rửa oan, báo thù.
Nhưng người đã chết rồi có sống lại được nữa đâu? Kẻ đã ly tán rồi làm sao có thể đoàn tụ
được? Đối với anh (hành động bây giờ) phỏng có ích chi?"
"Cần gì phải làm như thế!", "Có ích lợi gì đâu!". Hai câu này khiến cho xã hội Trung Quốc
vĩnh viễn không có chính nghĩa, làm cho người Trung Quốc vĩnh viễn không thể giữ vững
được nguyên tắc.
Bị chủ nghĩa thực dụng chi phối, hễ có người đụng một tý vào những việc khó khăn hay mạo
hiểm là người Trung Quốc liền cho rằng đó là những thằng điên.
Châm ngôn của người Trung Quốc là: "Thân nghìn vàng (của ta) không thể ngồi trong ngôi
nhà sắp đổ" (Thiên kim chi tử, tọa bất thùy đường), và "Tay không đánh nhau với cọp, không
thuyền mà lội bừa qua sông lớn thì có chết cũng không ai thương tiếc, nhưng ta thì không thể
nào như vậy!" (Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dữ giã - lời Khổng Tử khuyên Tử
Lộ là học trò lỗ mãng).
Trên thế giới này biết bao việc mạo hiểm như nhảy dù từ trên không, đi thuyền qua thác nước,
đi mô-tô qua tường lửa,v.v... đó chỉ là những thứ của mấy thằng khờ khạo, kiến thức nông cạn.
Người Trung Quốc chân chính không thể nào làm những thứ đó. Bởi vì theo họ nghĩ, ngoài
việc tìm lấy những cảm giác mạnh ra, làm những thứ đó chẳng đem lại được một lợi ích thực
tế gì.
Người Trung Quốc lúc dự hội nghị không bao giờ dám nói ngay ra một cách thẳng thắn và
chính xác ý kiến của mình. Hội nghị kết thúc rồi cũng tuyệt đối không dám bỏ đi những ý kiến
riêng của mình.
Nói chuyện về đạo lý với người Trung Quốc chỉ là chuyện uổng công. Lúc bắt đầu xin góp ý
về một việc nào đó thì mọi người không ai có ý kiến gì cả, nhưng khi sự việc đã được quyết
định rồi thì tất cả mọi người đều muốn có ý kiến.
Nói tóm lại một câu: người Trung Quốc mãi mãi không thể nào một lòng đoàn kết, vĩnh viễn
không thể chủ động giữ vững được các quy tắc, cho nên chỗ nào có người Trung Quốc nhất
định là có khả năng xảy ra hỗn loạn.
Người Trung Quốc không bao giờ quý trọng tình cảm của người khác, cũng không bao giờ
quan tâm đến sự sống chết của kẻ khác. Lúc người Trung Quốc nói, họ muốn cả thế giới nghe
được lời họ. Lúc đang nói, vì muốn toàn thế giới lắng nghe, nên họ phải gào lên thật to cho
tiếng rền mái ngói, cho tất cả đối phương đều khiếp sợ oai mình. Chỉ cần có hai người Trung
Quốc ở một chỗ là có thể ồn ào đến chết người được.
Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn
một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được?
Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật "thích xem" (người khác đau khổ), hoặc "chỉ
quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác".
Họ luôn mồm "nhân nghĩa" mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: "Phải tử
tế với người và súc vật!", trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.
Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay
Không thể nào hiểu nổi tại sao người Trung Quốc có thể tồn tại trên trái đất này những năm ngàn năm!
Hết.
Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.
|