Tản văn
07.01.2009
Nguyễn Vũ Tiềm
Văn đàn bi tráng (3)

Chương ba:


VĂN NHẤC BỔNG ĐỒNG QUÊ LÊN CHÍN TẦNG LÃNG MẠN


 


1.


Tài sản của cha tôi


Lưng một bồ lụt bão


Họa tiết trên ban thờ in bao lớp phù sa


Tiên tổ vẫn lội bùn cùng con cháu.


Nhiều giỗ chạp lạnh hương


Nhiều ngày Tết linh hồn bị bỏ đói


Trong mơ, con gặp mẹ


Chết rồi còn bị gậy ăn xin.


Trong mơ, con gặp hài nhi


Chưa bú sữa đã vội vàng héo sữa


Chưa khóc chào đời đã khóc biệt ly!


 


Nhà văn như Bụt hiện


Trao “cẩm nang hạnh phúc” 


Chỉ lối đến thiên đường.


Đọc cái tít đã thấy đời no ấm


Soi trang chữ lên trời


Vầng sáng thiên đường chẳng mấy xa xôi.


Ngửi trang chữ còn hoi hoi mùi mực


Áp thiên đường lên môi.


 


Văn nhấc bổng đồng quê lên chín tầng lãng mạn


Mỗi con chữ được chắp thêm đôi cánh


Cầm cuốn sách trong tay còn sợ nó bay vù!


Sắp trở thành hiện thực


Cái nhà gạch ước mơ


Trang tiểu thuyết tài tình vẽ lên như thật


Từng viên gạch hồng như lửa vẫn còn reo.


Những vụ lúa hiện ra từ truyện cổ


Đuổi vĩnh viễn đói nghèo vào quá khứ


Sách nói thế rồi, không thể đơn sai.


Người dân quê vừa qua mù chữ


Đánh vần cuốn tiểu thuyết dày như đọc thánh kinh


Đón nhà văn về làng như đón hồng y giáo chủ


Niềm tôn vinh trên cả sự đủ đầy


Đội ngũ nhà văn rất giỏi nghề ảo thuật


Chung sức thổi đồng ruộng lên trời như thổi bóng bay…


 


Không ít nhà cơm độn ngô khoai sắn


Không ít nhà cơm độn… thơ văn!


 


 


2.


Cái đêm hôm ấy, đêm gì?


Nhà văn tắt đèn, bụng đói trốn làng đi.


Sau vách thủng, tiếng nghẹn ngào tấm tức


Ngỡ chị Dậu năm xưa, hóa mẹ ruột của mình.


Nghe trong tiếng nghẹn ngào lời rau lang rau má


Nhiễm cái đói của người, cây cũng lả


Da người thì xanh


Sắc lá lại vàng!


Cà cuống cà cay bán phận mình cay đắng


Như ta từng bán chó bán con


Nửa đêm bay khỏi cánh đồng.


 


Chỉ còn lại những đàn đỉa đói


Nước động chỗ nào, vòi hút lao ra


Cũng trong kiếp phù sinh cơ cực 


Đỉa với mình, biết ai đói hơn ai?


Hạt cơm trắng từ lâu rồi góa bụa


Đầu rau bếp lạnh tro quên cả việc làm chồng.


 


Ngày giáp hạt


Rạng đông thở hắt ra trong tiếng loa truyền thanh nhắc nợ


Nợ tiền kiếp, nợ luân hồi, duyên phận


Không sợ bằng nợ hợp tác một cân.


Những đầy tớ của dân nanh vuốt như hùm


Ông chủ run như cầy sấy


Hạt thóc cuối cùng gạt nước mắt trút vào bao


Tiếng quả cân rẹt trên thanh sắt


Như hung thần nghiến răng!


 


 


3.


Chị tôi


 


Chị tôi cày vào nắng, bừa vào mưa


Cuốc lật những nếp lề cố hữu


Bắt những mảng trời mảng đất


Quyện vào nhau, ngấu bùn.


Đôi gót nhỏ nẻ khô tứa máu


Nhấn từng túm cỏ bợ cỏ gà


Hoai mục thành phân bón.


Chị phát quang bờ thửa bờ vùng


Dọn cả những eo xèo rơm rác


Những đố kị tị hiềm.


Dọn hết những mùa chỉ bội thu thất vọng


Mẹ sàng sảy đêm ngày những hạt lép niềm tin


Xếp cả vào quá khứ.


 


Chị nhập vào khuya sớm


Chị hòa vào kênh mương


Khơi nghĩa tình phù sa đổ ải


Cấy niềm tin chắc mẩy xuống chiêm mùa.


 


Việc thổ mộc lực điền


Đặt lên vai thiếu phụ


Lấm láp, muỗi mòng, xú uế, phân gio


Trao vào tay nhan sắc


Lũ lụt đất trời, bão bùng số phận


Trút cả vào một dáng lưng ong.


 


Nhưng cơn bão tự trong lòng


Lồng lên như con ngựa chiến


Bằng cách nào giữ được dây cương?


Làm gì còn thóc mà đổ ra xay?


Làm gì có lúa mà đập?


Có gạo đâu mà xảy với sàng?


Chị lội qua ao giữa đêm giá buốt!


 


Bông lúa một nắng hai sương


Chia cho mấy chiến trường.


 


Chị chưa quen hơi chồng


Chỉ quen hơi đồng ruộng


Hạt gạo tới chiến hào


Anh cũng chẳng còn đâu


Mỗi buổi sáng một bình minh báo tử


Chị chỉ còn chờ tái giá với mồ sâu.


 


 


4.


Những cuốn sách căng phồng bỗng dưng xì lép


Đào vạn vỉa đời, vỉa khổ vẫn lộ thiên


Những con chữ hét hò cao giọng 


Bỗng cấm khẩu méo mồm


 


Trên giá sách, những bộ xương thất thểu


Đói Ất Dậu qua lâu, giờ trở lại văn đàn.


Trong những gánh ve chai


Từng bó sách như xác người bó chiếu…


 


Khi bầu trời bị đánh tráo


Màu xanh đáy nước dễ tin sao?


Cuộc mai táng văn chương không nghi lễ


Cỏ nghĩa trang, sao từ chối lạnh lùng?


(còn tiếp)


Nguồn: Văn đàn bi tráng. Nguyễn Vũ Tiềm. NXB Văn học, 12-2008.


 

trieuxuan.info