春日憶李白
白也詩無敵
飃然思不群
清新庾開府
俊逸鮑參軍
渭北春天樹
江東日暮雲
何時一樽酒
重與細論文
Phiên âm
XUÂN NHẬT ỨC(2)LÝ BẠCH
Bạch dã thi vô địch
Phiêu nhiên tứ bất quần
Thanh tân Dữu Khai phủ
Tuấn dật Bão Tham quân
Vị bắc xuân thiên thụ
Giang Đông nhật mộ vân
Hà thời nhất tôn tửu
Trùng dữ tế luân văn?
Dịch nghĩa
NGÀY XUÂN NHỚ LÝ BẠCH(3)
Thơ anh Bạch(4) không ai địch nổi
Tứ thơ phiêu dật khác hẳn người thường
Thanh thoát mới mẻ như (thơ) quan Khai phủ họ Dữu(5)
Mạnh mẽ phiêu dật như (thơ) quan Tham quân họ Bão(6)
Mùa xuân thấy cây cối bên bắc sông Vị Thủy(7) (lại nhớ ông)
Trông đám mây chiều ở Giang Đông (càng thêm buồn)(8)
Ngày nào (được uống với nhau) một chén rượu
Lại cùng bàn luận kỹ càng những chuyện văn chương.
2 . Có bản viết “Xuân nhật hoài Lý Bạch” (Đường thi trích dịch, trang 819).
3. Mùa hạ năm Thiên Bảo thứ 3 (744) hai cự tinh (vì sao khổng lồ) trên thi đàn thời Đường là Lý Bạch và Đỗ Phủ gặp nhau ở Lạc Dương, sau đó cùng đi du lịch châu Lương (nay thuộc tỉnh Hà Nam), trải qua thời gian xa cách ngắn ngủi, mùa xuân năm sau hai người lại gặp nhau ở Duyện Châu.Về sau Lý Bạch đi Giang Đông, Đỗ Phủ đến Trường An. Họ không có dịp gặp lại. Sau này Đỗ Phủ đã viết nhiều bài thơ thể hiện nỗi lòng nhớ Lý Bạch. Bài này nhà thơ làm năm 746, khi trở về Trường An, được đánh giá cao trong các bài thơ viết về Lý Bạch. Nhà thơ biểu hiện lòng ngưỡng mộ, thương nhớ và tình cảm nồng nàn đối với bạn. Những câu như: “Xuân thiên thụ”, “Nhật mộ vân”, đời sau được dùng làm thành ngữ, biểu thị nỗi nhớ nhau của bạn bè, được dùng cho đến ngày nay.
4. Nguyên văn: Bạch dã 白也 (Bạch a, Bạch ấy a), bạn thân nói với nhau, rất thân mật! 也 là hư từ dùng như một dấu phẩy, Đỗ Phủ dùng hư từ rất diệu kỳ.
5. Khai phủ họ Dữu: tức Dữu Tín, tự là Tử Sơn (513 - 581), một nhà thơ thời Nam Bắc triều. Khai phủ là chức quan.
6. Tham quân họ Bão: tức Bão Chiếu, tự là Minh Viễn (445 - 470), cũng là một nhà thơ thời Nam Bắc triều. Tham quan là chức quan.
7. Nguyên văn là Vị bắc: phía bắc sông Vị, khu vực Hàm Dương, Tràng An, nơi Đỗ Phủ đang ở.
8. Giang Đông: nơi Lý Bạch ở. Phía nam hạ lưu sông Trường Giang, ngày nay thuộc phía nam tỉnh Giang Tô và phía bắc tỉnh Triết Giang. Lúc này Lý Bạch đang phiêu bạt ở Đông Ngô. Hai câu tả sự ngưỡng mộ Lý Bạch của nhà thơ. Trong thơ đối cử hai nơi hai cảnh, một nói rõ hai người ở hai nơi cách nhau ngàn dặm, một tả nỗi lòng nhớ bạn của tác giả. Tình cảm này được thể hiện tha thiết, khéo léo. “Xuân thiên thụ” (Cây ngày xuân) là cảnh thực ngay trước mắt; “Nhật mộ vân” (Mây chiều tối) là tưởng tượng của tác giả, cũng là để chỉ cuộc đời phiêu bạt vô định của Lý Bạch.
Dịch thơ:
Lý Bạch thơ ai sánh,
Lâng lâng tứ tuyệt trần.
Thanh hơn Dữu khai phủ,
Cao chấp Bão Tham quân.
Mây đất Giang Đông tối,
Cây trời Vị bắc xuân.
Bao giờ một nậm rượu,
Lại cùng luận thơ văn.
Nam Trân dịch
Anh Lý, thơ vô địch
Nhẹ bay tứ tuyệt luân
Trong như Dữu Khai phủ
Mạnh sánh Bão Tham quân
Giang Đông mây chiều tối
Vị bắc cây trời xuân
Bao giờ một bầu rượu
Gặp nhau, bàn thơ văn.
Mai Quốc Liên dịch
|