別房太尉墓
他鄉復行役
駐馬別孤墳
近淚無乾土
低空有斷雲
對棋陪謝傅
把劍覓徐君
惟見林花落
鶯啼送客聞
Phiên âm
BIỆT PHÒNG THÁI ÚY MỘ
Tha hương phục hành dịch
Trú mã biệt cô phần
Cận lệ vô can thổ
Đê không hữu đoạn vân
Đối kỳ bồi Tạ Phó
Bả kiếm mịch Từ Quân
Duy kiến lâm hoa lạc
Oanh đề tống khách văn.
Dịch nghĩa
TỪ BIỆT MỘ PHÒNG THÁI ÚY(14)
Ta lại đi công cán nơi quê người,
Dừng ngựa giã từ nấm mồ lẻ loi.
Chỗ gần nước mắt, không có đất khô ráo
Dưới vòm trời, có những đám mây đứt đoạn (vì buồn).
Đánh cờ với Tạ Phó,
Mang gươm tìm Từ Quân(15),
Chỉ thấy hoa rừng rụng,
Nghe oanh hót tiễn đưa người…
14. Bài này làm vào tháng 2 năm Quảng Đức thứ 2 (764), khi Đỗ Phủ sắp từ Lang Châu đi đến Thành Đô, trước khi đi đã đến mộ Phòng Thái úy khóc biệt. Phòng Thái úy tức Phòng Quán.
15. Tạ Phó tức Tạ An, đời Tấn, đang đánh cờ với bạn thì có thư đến báo tin có giặc, Tạ An buồn bã. Từ Quân: Lưu Hướng, người thời Xuân Thu. Thuyết uyển: "Ngô Lý Trát đi sứ sang Tấn thuận đường ghé thăm Từ. Biết Từ thích thanh kiếm của mình, Lý Trát định khi về sẽ tặng bạn nhưng khi tới thì Từ đã chết, liền lấy thanh kiếm cắm lên mộ ông rồi đi. Ở đây Tạ Phó và Từ Quân trỏ Phòng Thái úy tức Phòng Quán.
Dịch thơ
Dừng ngựa bên mồ bạn.
Quê người nay bỏ nhau!
Lệ dài đất đầm ướt.
Trời thấp mây dầu dầu,
Trút kiếm người nào thấy!
Hầu cờ chuyện đã lâu!
Hoa ngàn thầm lặng rụng
Oanh hót giục ai sầu!
Nhượng Tống dịch
Quê người còn lang bạt,
Dừng ngựa thăm mồ hoang.
Lệ rơi ướt mặt đất,
Trời cao mây che ngang.
Đánh cờ, học Tạ Phó,
Mang kiếm, tìm Từ Quân.
Chỉ thấy hoa rừng rụng,
Tiếng oanh đưa dặm ngàn.
Mai Quốc Liên dịch
|