THIẾT THA VỚI ĐỜI GIÀU TIN YÊU VÀ HY VỌNG
Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân
Sao em chưa về là tập thơ đầu tay của một người làm thơ từ rất sớm. Trong Lời tác giả, Dương Ngọc Khánh viết: Tôi làm bài thơ đầu tiên năm 15 tuổi – 1954. Đối với tôi thơ là bạn đồng hành trong cuộc sống. Suốt một đời trăn trở với thơ nhưng tôi vẫn chưa làm được cho mình một câu thơ hay, một bài thơ hay, nhưng nó là máu của tim, lệ của mắt và tiếng nói của lòng nên tôi rất yêu quý và trân trọng nó. Bây giờ tôi đã thuộc thế hệ những người muốn ôn lại và nhớ về quá khứ…
Bẩy mươi tuổi, đọc lại để chọn ra những bài thơ - thốt ra tự đáy lòng - trải qua biết bao thăng trầm của quê hương đất nước, mang dấu ấn thế thái nhân tình, để in thành sách; đó quả là một công việc nhiều xúc động và… linh thiêng! Trong hơn 130 bài thơ, có tới phân nửa là thơ làm từ trước năm 1975. Đó là những bài thơ cháy bỏng ước mơ và lý tưởng cao đẹp: Tổ quốc hòa bình thống nhất, gia đình đoàn tụ, nhà nhà no ấm, trai gái tự do kiếm tìm hạnh phúc lứa đôi… Người đọc nhận ra tấm lòng tác giả, một kỹ sư xây dựng, bộc bạch xúc cảm của mình trên những nẻo đường đất nước, nơi mà anh và đồng đội có mặt để kiến tạo những công trình mới cho Tổ quốc. Hơi thơ, hồn thơ chất phác, tình cảm mãnh liệt, giàu tin yêu và hy vọng; có vài bài mang hơi hướng của các nhà Thơ Mới, các nhà thơ cách mạng nổi tiếng. Điểm nổi bật trong những bài thơ này là sự hồn nhiên trong tình cảm, niềm tin sâu sắc vào tương lai tươi sáng của đất nước. Đây chính là động lực giúp nhiều thế hệ người Việt Nam vượt qua biết bao gian khổ thiếu thốn, vượt qua chết chóc để sống, lao động, chiến đấu, chiến thắng quân thù…
Cùng viết về đề tài các công trình xây dựng, nhưng những bài thơ làm sau năm 1975 có sắc thái mới: Phương pháp tư duy hiện thực hơn, cụ thể hơn. Chất lý tưởng, chất lãng mạn, mộng mơ và niềm tin vào tương lai trong thơ Dương Ngọc Khánh vẫn nguyên vẹn; nhưng tứ thơ, ngôn từ biểu cảm đã gần gũi với đời sống, không rơi vào nếp nghĩ quen thuộc đến trơn lỳ, sáo rỗng. Tác giả mang trong lòng ngọn lửa nhiệt tình của những người đi xây dựng tương lai, khát khao cho dân giàu nước mạnh; nhưng anh không hề giấu diếm nỗi buồn khi thấy đất nước hòa bình thống nhất rồi mà quê hương cứ mãi đói nghèo... Nỗi buồn ấy da diết, sâu sắc lắm, nhưng anh thật khéo léo khi mượn dòng sông mênh mang sóng nước để nén tiếng thở dài: Những dòng sông buồn như hoàng hôn/ Dang đôi tay ôm lấy những xóm nhỏ, những mái nhà đơn độc/ Những dòng sông quanh co, chảy hoài, chảy mãi/ Tắc ráng ngược xuôi đó đây nhưng không mang theo những nụ cười/ Cứ thế,/ Điểm chót của không gian là cuối buổi chiều.../ Từ ngày anh đi,/Nơi đây không thấy núi bao giờ! (Sông). Đó là những năm đất nước nghèo xơ xác, hậu quả của lề lối quản lý theo quy luật thời chiến, kéo quá dài sang thời bình, cái mà ta gọi là hành chính quan liêu bao cấp. “Tắc ráng ngược xuôi đó đây nhưng không mang theo những nụ cười. Từ ngày anh đi,/Nơi đây không thấy núi bao giờ!”. Không có nụ cười, Không thấy núi, một cách nói: không thấy đỉnh cao, không thấy điểm sáng… Đọc những câu thơ này, tôi rợn cả người nhớ lại một thời khốn khó, thời kỳ chúng ta cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cải tạo nông nghiệp… một cách nôn nóng, duy ý chí, thời kỳ hàng chục ngàn người đau lòng bỏ nước ra đi… tác giả dùng hình ảnh thơ để tái hiện mặt thật của cuộc sống, không cần một lời bình luận nào. Về nghệ thuật, phần thơ làm sau năm 1975 thể hiện bước tiến của tác giả. Cách lập tứ, sử dụng ngôn từ, cách chọn thể thơ… chứng tỏ Dương Ngọc Khánh đã biết chủ động trong sáng tác.
Phần thơ viết về gia đình, cha mẹ, vợ con chứa chất nhiều tâm tư, xúc cảm. Đặc biệt, viết về mẹ mình, Dương Ngọc Khánh đã thành công khi hình tượng hóa người mẹ với quê hương. Tình yêu mẹ, yêu quê hương, tình yêu thương vợ và các con, cháu thể hiện ở rất nhiều bài thơ. Thơ Dương Ngọc Khánh nói rằng chính nhờ có tình yêu ấy mà mình đã vượt qua rất nhiều chông gai thử thách, cạm bẫy, “Đi tiếp chặng đường đời với linh diệu của tình yêu!1”. Người bạn đời, người vợ hiền của anh, người đã cùng anh đi xây dựng biết bao công trình, không còn nữa! Đã biết bao buổi chiều, buổi sớm anh đi tìm em, anh ngóng chờ em, cách trở gì mà em chưa về? Sao em chưa về?
Đêm qua ngày lại qua/ Tháng năm dày thương nhớ/ Có chi làm cách trở/ Mà sao em chưa về! Dạo này nhà tẻ vắng/ Em lại chẳng về thăm/ Con buồn thương nhớ mẹ/ Anh buồn nỗi thiếu em… Sớm chiều ngày hai buổi/ Lối đi về thân quen/ Tìm em anh tìm mãi/ Ở nơi nào hỡi em! Hay em là ánh điện/ Soi cho anh làm thơ/ Và sáng trên trang sách/ Cho con học mỗi giờ. (Sao em chưa về). Dương Ngọc Khánh đã thành công khi nâng hình tượng người yêu - kỹ sư kinh tế, tham gia xây dựng thủy điện Trị An - thành Em là ánh điện! Vừa linh thiêng, vừa gần gũi, đầy ắp nghĩa tình.
Bẩy mươi tuổi, với một người giàu trải nghiệm tình đời như Dương Ngọc Khánh, tôi tin rằng anh sẽ còn sáng tác nhiều và có nhiều bài hay hơn tập thơ đầu tay này!
Thành phố Hồ Chí Minh, 14-3-2009
Nhà văn Triệu Xuân
*
TẤM LÒNG QUÊ
Nhớ năm nào
Một buổi tối mùa đông
Rưng rưng nước mắt tiễn chồng
Ra đi đánh giặc bỏ đồng lúa quê
Anh đi, từ ấy em về
Lo bao công việc đồng quê nhọc nhằn
Anh đi chinh chiến dọc ngang
Em lo góp sức đập tan quân thù...
Đã mấy mùa thu
Em chờ em đợi
Nhìn hạt mưa rơi
Em nhớ em thương
Nhớ khi tiễn bước lên đường
Đến nay đã mấy năm trường cách xa
Gác tình âu yếm ruột rà
Anh ra tiền tuyến xông pha diệt thù
Tin về từ tận chiến khu
Anh ra diệt thù lập được chiến công
Nằm mơ thấy lúa lên đòng
Mong ngày kháng chiến thành công anh về
Anh về sẽ thấy miền quê
Lúa xanh mướt ngọn tóc thề tin yêu
Mẹ dù tuổi đã xế chiều
Vẫn chờ vẫn đợi ngày vui anh về
Hai con bụ bẫm búp bê
Mau lớn cha về cha sẽ hôn con…
Giữ lời thề hẹn nước non
Mong ngày thắng lợi chồng con sum vầy!
Vinh Hiển, tháng 4-1954
LÒNG DÂN
(Trích)
…
Mấy hôm rồi,
Giữa biếc xanh của trời biển Việt Nam
Tình nước bạn đưa con tàu rẽ sóng( )
Và giờ đây, sau những ngày mong ngóng
Lũy tre xanh miền Bắc dáng đợi chờ
Sắp đến rồi, đẹp hơn cả giấc mơ
Rừng cờ đỏ sao vàng bay phấp phới
Lòng chúng tôi dâng lên niềm phấn khởi
Đất nước ta xinh đẹp biết bao nhiêu
Giữa những tiếng hoan hô vang dội trời chiều
Tôi đặt bước miền Nam lên đất Bắc
Gặp nhau rồi, tay cầm tay siết chặt
Mà đôi hàng nước mắt lại tuôn rơi
Nghẹn ngào muốn nói chẳng nên lời
Tôi chỉ thấy tình Bắc - Nam tràn ngập
Bà mẹ già tay run, môi lập bập
- Bát nước này con uống nốt đi con!
Các em thiếu nhi giương đôi mắt xoe tròn
Nhìn các anh, những chàng trai thế hệ
Lũ chúng tôi đang rạng ngời sức trẻ
Ngồi bên nhau trò chuyện suốt đêm ngày
Hát bài ca chiến thắng của ngày nay
Cùng nghĩ đến một ngày mai Thống nhất...
Ngày mai ấy, bao con tim mong đợi
Đón ta về với mảnh đất quê hương
Trên những con tàu đầy ắp nhớ thương...!
Ninh Giang - Hải Dương, tháng 1-1955
NỐI LẠI ĐƯỜNG TÀU
Kính tặng C444 - D44
Đoàn TNXP Trung ương
Tôi người quê Quảng Ngãi
Anh Bình Định, Phú Yên
Còn anh từ Thanh Hóa
Từ Hà Nội, Thái Nguyên...
Ta về đây chung sức
Nối lại những đường tàu
Đã qua thời máu lửa
Cầu đường- ôi, thương đau!
Tuyến đường sắt hôm nay
Đưa tàu về Nam Định
Rồi ngày mai thống nhất
Tàu tiến thẳng vào Nam!
Là Thanh niên xung phong
Nắng mưa nào quản ngại
Đêm dưới ánh trăng vàng
Hát vang lời Bác dạy:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên!”
Phủ Lý, tháng 5-1955
Công trường đường sắt Hà Nội - Nam Định
BÀI CA MỞ ĐƯỜNG
Chiếc chim vui lượn rừng xanh
Reo vang tiếng hót chào anh lên đường
Anh đi mưa nắng công trường
Thiếc Tĩnh Túc, điện Na Ngàn - Tà Xa
Đèo cao, rừng núi bao la
Đêm nằm lán lạnh, sớm nhòa hơi sương
Mở đường, rét thấu thịt xương
Đuốc lên sáng rực cung đường Lêa!
Đỉnh đèo vẳng tiếng suối xa
Nghe trong tiếng gió lời ca vọng về
Mong sao cho đến giờ G
Thông đường đón máy kịp về chung vui!
Tháng 4-1956
Trên đỉnh Lêa - Cao Bằng
Những ngày mở đường đón máy về Tĩnh Túc
HÈ
Hè về bên cửa nhỏ
Hè như gọi tình thương
Hè trong đôi mắt trẻ
Ôi, mùa hè tha phương!
Nhớ sao hè thuở trước
Hồn thơ thẩn quê hương
Ấp ủ niềm mong ước
Đón thu sang đến trường!
Hè 1957
Trường Kiến trúc Hà Đông
(còn tiếp)
Nguồn: Sao em chưa về. Tập thơ của Dương Ngọc Khánh. NXB Văn học, tháng Tư, 2009.
www.trieuxuan.info
|