THUẬT HỨNG V
Đến trường đào mận ngạt chăng thông,
Quê cũ ưa làm chủ cúc thông.
Sầu nặng Thiếu Lăng biên đã bạc,
Hứng nhiều Bắc Hải chén chưa không.
Mai chăng bẻ, thương cành ngọc,
Trúc nhặt vun, tiếc cháu rồng.
Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.
BẢO KÍNH CẢNH GIỚI
Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ
Độ đầu xuân thảo lục như yên
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô chu trấn nhật các sa miên.
Dịch thơ: BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI
Cỏ xuân đầu bến xanh như khói,
Thêm đợt mưa xuân, nước vỗ trời.
Đồng nội vắng teo hành khách ít,
Thuyền đơn ghếch bãi suốt ngày ngơi.
Ngô Linh Ngọc dịch
DỤC THÚY SƠN
Hải khẩu hữu tiên san,
Tiền niên lũ vãng hoàn.
Liên hoa phù thủy thượng,
Tiên cảnh trụy trần gian.
Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thúy hoàn,
Hữu hoài Trương Thiếu bảo,
Bi khắc tiễn hoa ban.
Dịch thơ: NÚI DỤC THÚY
Cửa biển có non tiên,
Từng qua lại mấy phen.
Cảnh tiên rơi cõi tục,
Mặt nước nổi hoa sen.
Bóg tháp cài trâm ngọc,
Gương sông ánh tóc huyền.
Nhớ xưa Trương Thiếu bảo,
Bia khắc dấu rêu hoen.
Khương Hữu Dụng dịch
VÃN HỨNG
Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
O cân trúc trượng vãn tiêu diêu.
Thôn hoang nhật lạc hà thê thụ,
Dã kính nhân hi thủy một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
Quy lại độc vựng lan can tọa,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.
Dịch thơ: HỨNG BUỔI CHIỀU
Ngõ cuối âm thầm cảnh vắng teo,
Khăn đen gậy trúc dạo trời chiều.
Thôn hoang ác lặn cây treo ráng,
Đường vắng người thưa nước ngập cầu.
Kim cổ không cùng sông phẳng lặng,
Anh hùng tuôn hận lá lao xao.
Chơi về một bóng ngồi bên triện,
Trời biếc trăng trong một mảnh treo.
Bùi Văn Nguyên dịch
Nhấn chuột vô đây đọc tiếp Thơ Nguyễn Trãi:
|