Bi Thanh Bản Ngã quân Thanh Bản tại đông môn Thiên hàn ấm mã Thái Bạch quật Hoàng đầu Hề nhi nhật hướng tây Sổ kỵ loan cung cảm trì đột Sơn tuyết, hà băng dã tiêu sắt Thanh thị phong yên, bạch thị cốt Yên đắt phụ thư dữ ngã quân Nhẫn đãi minh xuân, mạc thảng thốt.
Dịch Nghĩa
Quân ta đóng ở cửa đông Thanh Bản Trời rét căm căm, ngựa uống suối Thái Bạch Bọn mọi Hề trong bộ lạc "đầu vàng" (thế xuống như) mặt trời phía tây. Chỉ có vài tên kỵ binh mà cũng giương cung xông tới. Núi, tuyết, sông băng, cánh đồng xơ xác. Chỗ xanh là khói, chỗ trắng là xương khô. Ước gì gửi được thư cho quân ta, (Khuyên hãy) kiên nhẫn đợi sang xuân, chớ nóng vội.
------ Thanh Bản: Nơi tướng Phùng Quán đóng quân chống An Lộc Sơn.
Dịch Thơ Thương trận Thanh Bản
Cửa đông Thanh Bản quân ta trú Lạnh trời cho ngựa uống hồ núi Bóng xế, vài tên lính kỵ Hề, Vẫn dám giương cung, ngựa xông tới. Núi tuyết, sông băng, đồng hắt hiu, Trắng ấy xương mà xanh ấy khói. Ước gì thư đến được quân ta: Cố đợi ra năm đừng nóng vội!
Bản dịch: Khương Hữu Dụng
Bi Trần Đào
Mạnh đông thập quận lương gia tử, Huyết tác Trần Đào trạch trung thuỷ. Dã khoáng thiên thanh vô chiến thanh, Tứ vạn nghĩa quân đồng nhật tử. Quần Hồ quy lai huyết tẩy tiễn, Nhưng xướng Hồ ca ẩm đô thị. Đô nhân hồi diện hướng bắc đề, Nhật dạ cánh vọng quan quân chí.
Dịch Thơ Thương Trận Trần Đào
Đông sang... mười quận trai tài, Máu tuôn thành nước đỏ tươi ròng ròng. Im lìm trời vắng, đồng không, Bốn muôn quân nghĩa chết trong một ngày. Giặc Hồ, tên tẩm máu đầy, Hát câu hát mán, uống say phố phường. Ngày đêm khóc ngóng Bắc phương, Quan quân đâu tá? dân đương đợi chờ.
Biệt Phòng thái uý mộ
Tha hương phục hành dịch Trú mã biệt cô phần Cận lệ vô can thổ Đê không hữu đoạn vân Đối kỳ bồi Tạ Truyện Bả kiếm mịch Từ Quân Duy kiến lâm hoa lạc Oanh đề tống khách văn
Dịch Nghĩa
Từ giã mộ Phòng thái uý
Ta đi công cán nơi quê người Dừng ngựa giã từ nấm mồ lẻ loi Gần nước mắt,không có đất khô ráo Dưới vòm trời có những đám mây rời rạc Đánh cờ với Tạ Truyện Mang gươm tìm Từ Quân Chỉ thấy hoa rừng rụng Nghe oanh hót tiễn đưa người
Dịch Thơ
Lại ra miền đất khách Dừng ngựa giã cô phần Mây ủ dăng trời thấp Đất hoen ướt lệ gần Đánh cờ hầu Tạ Truyện Mang kiếm viếng Tạ Quân Chỉ thấy hoa rừng rụng Con oanh hót tiễn chân
Lê Nguyễn Lưu dịch
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ I
Hữu khách, hữu khách tự Tử Mỹ Bạch đầu loạn phát thuỳ quá nhĩ Tuế thập tượng lật tuỳ thư công Thiên hàn nhật mộ sơn cốc lý Trung Nguyên vô thư quy bất đắc Thủ cước đống thuân, bì nhục tử Ô hô ! Nhất ca hề, ca dĩ ai ! Bi phong vị ngã tòng thiên lai
Dịch Nghĩa Có người, có người tên chữ là Tử Mỹ Đầu bạc phơ, tóc bù xù rũ xuống quá tai Quanh năm lượm hạt dẻ, đi theo người nuôi vượn Trời rét, buổi chiều ở trong hang núi Trung Nguyên bặt tin, không về được Chân tay cóng buốt, da thịt tê dại Hỡi ôi ! Bài hát thứ nhất, tiếng hát đã xót xa Gió buồn vì ta từ trên trời thổi xuống...
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ II
Trường sàm, trường sàm bạch mộc bính Ngã sinh thác tử dĩ vi mệnh Hoàng độc vô miêu, sơn tuyết thịnh Đoản y sác vãn bất yểm hĩnh Thử thì dữ tử không quy lai Nam thân tứ ngâm tứ bích tĩnh Ô hô ! Nhị ca hề, ca thuỷ phóng Lư lý vị ngã sắc trù trướng !
Dịch Nghĩa Thuổng dài, thuổng dài cán gỗ trắng Đời ta cậy nhờ ngươi mà sống Khoai hoàng tinh không nẩy mầm, tuyết đầy núi Áo ngắn kéo xuống không che nổi chân Lúc này, ta và ngươi đều về không Trai than thở, gái rên rỉ, bốn vách lặng lẽ Hỡi ôi ! Bài hát thứ hai vừa cất lên Hàng xóm vì ta mà vẻ mặt thảm thiết.
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ III
Hữu đệ, hữu đệ tại viễn phương Tam nhân các sấu, hà nhân cường Sinh biệt triển chuyển bất tương kiến Hồ trần ám thiên đạo lộ trường Tiền phi giá nga, hậu thu thương An đắc tống ngã tại nhữ bàng ? Ô hô ! Tam ca hề, tam ca phát Nhữ quy hà xứ thu huynh cốt ?
Dịch Nghĩa Có em trai, có em trai ở chốn xa xôi Ba người đều gầy, có ai khoẻ mạnh đâu ! Sống chia lìa, trằn trọc vì không gặp nhau Bụi Hồ mù trời, đường sá vời vợi. Chim giá nga bay trước, chim thu thương bay sau Làm sao đưa ta đến bên các em ? Hỡi ôi ! Bài hát thứ ba, tiếng hát trỗi ba lần Các em về, biết nhặt xương anh chốn nào ?
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ IV
Hữu muội, hữu muội tại Chung Ly Lương nhân tảo một, chư như si Trường Hoài lãng cao, giao long nộ Thập niên bất kiến lai hà thì ? Biên chu dục vãng, tiễn mãn nhãn Diễu diểu Nam quốc đa tinh kỳ Ô hô ! Tứ ca hề, tứ ca tấu Lâm viên vị ngã đề thanh trú
Dịch Nghĩa
Có em gái, có em gái ở Chung Ly Chồng chết sớm, các con còn thơ dại Sông Hoài sóng lớn, thuồng luồng dữ Mười năm chẳng thấy em về lần nào. Muốn vượt thuyền thăm em, tên đầy trước mắt, Cõi nam bao nhiêu cờ xí thấp thoáng. Hỡi ôi ! Hát bài thứ tư, tiếng hát bốn phen cất lên Vượn rừng vì ta kêu buồn giữa ban ngày.
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ V
Tứ sơn đa phong, khê thuỷ cấp Hàn vũ táp táp, khô thụ thấp Hoàng cao cổ thành vân bất khai Bạch hồ khiêu lương, hòng hồ lập Ngã sinh hà vi tại cùng cốc ? Trung dạ khởi toạ, vạn cảm tập. Ô hô ! Ngũ ca hề, ca chính trường Hồn chiêu bất lai, quy cố hương
Dịch Nghĩa Núi bốn bề lộng gió, nước suối đổ dồn dập Mưa lạnh ào ào, cây khô ướt đẫm Thành xưa đầy cỏ vàng, mây không tan Chồn trắng nhảy lên cầu, chồn vàng đứng sững Đời ta vì sao lại ở nơi hang cùng ? Nửa đêm ngồi dậy, muôn mối cảm xúc dồn tới Hỡi ôi ! Bài hát thứ năm, lời hát còn dài Hồn gọi không lại, đang mải về quê cũ.
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ VI
Nam hữu long hề tại sơn thu Cổ mộc lung tung chi tương cù Mộc diệp hoàng lạc long chính trập Phục xà đông lai thuỷ thượng du Ngã hàng quái thử, an cảm xuất Bạt kiếm dục trảm thả phục hưu. Ô hô ! Lục ca hề, ca tứ trì, Khê hác vị ngã hồi xuân tư
Dịch Nghĩa Phương nam có con rồng ở đầm trên núi Cây cổ thụ cao vút, cành chằng chịt xen nhau Giữa lá rụng úa vàng, rồng nằm cuộn khúc Loài rắn miền đông tới lượn lờ trên mặt nước Ta đến xứ sở lạ lùng này, không dám ra Tuốt gươm toan chém nhưng lại thôi. Hỡi ôi ! Bài hát thứ sáu, tiếng hát có vẻ chậm, Núi khe vì ta đưa dáng xuân về. |