Vở vỡ lòng xưa Tia nắng sớm soi chồng sách cũ lạ kỳ thay, trang vở vỡ lòng ! Vở xưa ngọn thác tâm hồn cuốn phăng ký ức chảy dồn về tim.
Kìa ríu rít dáng hình thơ ấu Chữ mực vàng, hoen dấu lệ cay vở hơn bảy chục thu dày ngón tay trầy lật từng ngày khai tâm
Trải dằng dặc chiến tranh gian khổ chữ nhạt, nhoè, vẫn nở hàng hàng. Ve xưa bỗng tiếng râm ran vỡ lòng phượng đỏ chói chang đầu đời.
Dịp may trở lại nơi trường cũ! chính dằm đây lớp vỡ lòng xưa Vụt thành chú bé ngây thơ ngồi xen đám bạn gà giò choai choai.
Trường xưa hắt bóng dài tươi tắn dài theo đời: dấu ấn khai trường vỡ lòng tổ ấm yêu thương mỗi năm riu ríu bốn phương chim về.
Xưa đeo cặp, ngô nghê nhút nhát lo từng giờ, sợ toát mồ hôi nhưng mê phượng đỏ rực trời dạn dần, vui đoán điểm rơi lá bàng .
Vở như miệng rộn ràng chúm chím lại loằng ngoằng mực tím vẽ tàu tàu bay, tàu thủy chung bầu đổ đầy kỷ niệm muôn mầu đan xen.
Ngoài cương toả bon chen bao nỗi vở xưa từng xoá vợi đắng cay đầu đời luyện chữ dường này thu đời, thành quả chật chầy long đong.
Tim dần thấm vỡ lòng hồn chữ ngưng trách đời “toàn thứ nguội tanh” nào là “nghiệp chướng, buồn tênh” nào “đầy cay đắng, lệ lênh láng hồn”
Cảm ơn vở vỡ lòng thuyết phục xoá sạch sầu heo hút nhân gian vở từ nguồn cội lạc quan khai tâm từ ấy mùa vàng tiếp nhau.
Tưởng tượng lớn dần
Đồng ấu, mơ cùng cổ tích bay đèn thần đem đổi môi công chúa tiếng đàn trăng đổi mắt màu mây xiêm áo cỏ may úa găm đầy
thèm đuổi gió Lào bằng đợt rét bằng hang đá, lạnh mét chân tay bằng sông mát rợi, bơi thành sóng bằng cánh bèo trôi nương bóng tháng ngày.
Dần lớn, mệt nhừ chiều bảng lảng vẫn tiếc bóng ai thoáng cuối đường soi gương: nhem nhuốc còn từng mảng hà hơi lau sạch vết gương buồn.
Lớn nữa, mơ màng hồn tưởng tượng tấm thân ngà ngọc uống trăng loang gió tung tà áo hoang sơ ướt được dịp chở che vượt bão dông.
chạng vạng, say hoa đồng phảng phất mơn man hòa nhập sắc và hương chuông khuya lắng đọng sương trăng rọi thao thức Sao Kim dõi bước tiên.
Lớn hẳn, đến thăm em dẫu nắng nóng hơn hoang mạc trắng ngô rang bởi trong tim mượt xuân rười rượi tưởng tượng mà môi đã xốn xang ?
Dưới tuổi đôi mươi
Cả một thời lửa dục vọng - mặt trời xanh - quá nóng cứ mỗi ngày hành hạ không ngơi.
Cạnh em đôi tay càng lấn bấn chân đạp hụt ván cầu quanh quẩn.
Mặt trời xanh nay dịu mát rồi nhưng nơi nơi buồn đau cứ trồi lên có mặt những tình sử quá đau những phận người buồn thật chiếm tiềm thức của nhau đến mặt trời xanh cũng nhạt mất màu.
Nàng Thơ đâu thương cảm mặt trời xanh. Đừng mãi nửa mắt buồn rầu nửa còn lại đớn đau!
Gió xuân hè, gió thu đông Trầm tư, ô cửa không trung: trần gian gió đổi, ai từng xót xa.
Bay cao tít, rất xa Từ cửa sổ phi cơ trầm tư về viễn xứ. Trên: xanh thẳm, dưới: mây trắng thướt tha không có tuổi, chuyển vần vô tư lự.
Dưới cả mây, tít tắp cứ tầng tầng tí ti, kìa: chính cõi trần yêu quý mong manh thế , mà huênh hoang, đố kỵ !
Tuổi trẻ đời ta dưới đó gió xuân hè, sớm nhạt nhoà chưa kịp hình dung rõ nó nó thì lùi đã rất xa ... như tàu qua ngái-ngủ-sân-ga.
Hãy gượm, ơi làn gió trẻ lẽ nào bỏ nhau như thế nỡ để ai trơ trọi sao? tiếc chi đôi ánh mắt chào mặc ai trước gió ào ào thu đông.
Những sân ga xưa Biển vắng, chân trời trốn tận xa Hải Vân tầu hỏa, “chiều bảng lảng” gợi xưa những cảnh ga đèn sáng giữa Pá ri - Muy ních - Vác sa wa:
Ga ngủ vùi, tàu hét vút qua lờ khe gạch, nhựa sống ra hoa tàu đến, biến ngay vào tĩnh lặng bỏ ta, viên cuội sân ga vắng.
Phần đời quá khứ khi rong ruổi nhỡ chuyến vài phen tưởng thấy ma nghe mãi suốt đời giai điệu trội: còi tàu qua ngái-ngủ-sân-ga.
Trái đất, sân đời hệt sân ga người đi kẻ đến “như ma đuổi” bỏ quên khoảng trống lòng trơ trọi tình ái dư âm thoáng mờ nhoà.
Tội lỗi kíp ăn năn hối ngộ tuổi xuân? chưa kịp nhìn ra nó thì nó đã lùi, gió cuốn xa mặc ai chơ chỏng nơi ga nhỏ.
Muôn sự, tàu dài ga chẳng đỗ còi khàn, vèo ngái-ngủ-sân-ga. Sân ga! sân ga! suốt dọc tuổi xuân mỗi chúng ta.
Cha ơi
Dòng tâm tưởng đêm nay (2011) chẳng mượt mà
tìm về cha 69 năm đã chia xa.
Mấy năm rày, nước mắt không cầm nổi
khi giỗ chạp, tìm cha trong giấc mơ.
Cuộc đời cha đã khổ đau nhiều nỗi
con muộn hiểu tâm hồn lớn của cha.
Quý yêu, hy vọng, tự hào, cha gởi
vào trưởng nữ, Nguyễn Thị Minh Khai
thì cha chứng kiến, Hóc Môn Giếng Nước ban mai
Minh Khai 32 tuổi(1941) đã hy sinh anh dũng
Vòi vọi lòng yêu nước, cây đời lá rụng
lòng người cha đớn đau kinh khủng! Sinh thời trò chuyện, ân cần cha nhắc “Xảy sự, các con yêu chớ khóc”. Trong lòng, con hứa… đạo làm con Đâu có ngờ nông nỗi mất còn. Đá banh chiều về, thuở tre non chú bé mười hai tuổi (chính con) thấy đất hẫng, hay trời đổ sập Thái Sơn tan biến, ôi cha mất(5/1942) đúng 9 tháng sau ngày cha tận mắt
giặc Pháp bắn con mình!
Thương cha đôi mắt đã vô hồn tay đã kều quào, ôi lạnh ngắt. Bên thi hài cha, con lặng gác đau đớn, tim con nhịp đập dồn.
Mẹ ơi
Thay cha, mẹ chống chọi trên đời gian khó băm tư năm thêm nữa Bỗng da bầm tím xoá môi cười Mẹ tuổi sửu thăng nhằm giờ sửu
mùng mười Tết Bính Thìn(1976)
Vẫn hay không thể thoát chia xa nhưng đáy tim con quá xót xa lường trước vẫn trong lòng vật vã học bao triết thuyết vẫn đành thua.
Thưa Mẹ, con chưa kịp nói lời thương yêu nhất mẹ của con ơi! vuốt mắt mẹ, vạch đường ngôi tóc bạc
Làm sao kìm nước mắt, Mẹ ơi!
Qua khói nhang, di ảnh mẹ ngời ngời nghị lực tám tám xuân, không lúc nào buông sức chịu yên luôn bươn chải, keo này keo khác sắp liền liền gương trăng Mẹ - cứ vằngvặc không ngừng thaothức
ánh trăng đời Mẹ trải hai Miền cả khi lên lúc lặn trăng mãi trăng dù tát nước dòng Lam nhưng tát mấy cho vừa không thể cạn dòng đời Mẹ tám mươi tám năm gian khổ.
Cứ ngày này hằng năm, hồn Mẹ nương gió núi về đụng phải lề cao ốc dọc ngang Xưa, Mẹ dục cháu con: “đi dạo kịp xuân sang” nay, cháu con tề tựu mùng mười giêng giỗ Mẹ.
Những hồi chuông đời Mẹ Như sét đánh, điện màu xanh bất thần từ Sài Gòn: “chị cả Minh Khai chết”(1941) Mẹ bất tỉnh, đau lòng khôn kể xiết Mẹ lên lễ cầu siêu, chuông xót ngân.
Chín tháng sau(1942), Mẹ tiếp tiếng chuông buồn: Cha mất do đau xót con gái trưởng yêu thương (chín tháng từ hôm Hóc Môn, Cha tận mắt). Chị hai Quang Thái khóc Cha nghẹt thắt tim đau.
Hai năm sau(1944) giặc dã man giết chị nơi ngục thất hỡi trời cao, mẹ sụt sùi chôn cất Mẹ cầu siêu, căm giận quá chuông ơi!
Ba năm sau(1947) từ tiếng sét chị hai Quang Thái mất Huy Tú, em trai chị hy sinh trận Phủ Thông Nà Phặc. Đau dồn nén vào tim Mẹ chẳng nguôi Mẹ cầu siêu, cắn môi, cạn lệ rồi.
Mẹ chăm lo vất vả cho cả đại gia đình cháu con đều một lòng vì nước là đời người mẹ trọn vẹn hy sinh.
Bóng mây vần vũ trên đầu Mẹ huyền vi hồn gọi hú(1976) lễ cầu siêu quy tụ mọi chuông ngân tiếng chuông tiễn như am mẹ, trong ngần.
Trang thơ gói lại những hồi chuông
Nghe chuông vui, nhớ tuổi thơ ngây trèo gác chuông Chùa Diệc()
cũng chuông ấy năm lần cầu siêu: Cha, hai Chị, hai Anh! Chuông bị đạn, rè như tiếng khóc khàn trong đêm buồn tống biệt tuổi cao về, lòng thanh thản vô cùng khi mỗi tiếng chuông ngân.
_________ () ngôi chùa trên đường Quang Trung TP. Vinh, xưa nơi đây loài chim Diệc thường về.
Nhớ liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái
Ôi xao xuyến, chuyện về lòng yêu nước
Chiều đầu hè năm 1940, bên Hồ Tây, đối diện chùa Trấn Quốc
Chị Thái ẵm con thơ(), như dạo đường Cổ Ngư
bí mật tiễn chồng(), đâu ngờ là vĩnh biệt ngàn thu!
Cũng tháng ấy năm sau (5-1941)
Chị vào thăm chị cả Minh Khai nơi Khám lớn Sài Gòn.
Ba tháng sau, Cha vào tận mắt buổi pháp trường, tin dữ điện ra
mùng 6 tháng 7 Tân Tỵ(1941) Minh Khai hy sinh, giặc bắn chết!
Quang Thái kém Minh Khai 5 tuổi, vô cùng thân thiết
em khóc chị hai ngày hai đêm liền
lăn lộn gác âm thầm(+)
Cha đau xót trong lặng câm
nên qua đời đúng chín tháng sau.
Quá thương cha, Quang Thái dồn dập nhói tim đau
Tang cha mới ba ngày, mật thám ập tới xét nhà bắt Chị đi
Chúng tra tấn cực hình, án 16 năm tù Hoả Lò.
Huy Dương do Chị dũa rèn hoạt động
đã mất 22 tháng 2 Quý Mùi(1943) mà không ai
dám hé Chị hay
đúng mười một tháng sau, 21 giêng Giáp Thân (1944), khi hấp hối
Chị gạn một lời
Dương đâu? Mẹ kể làm chi để lệ Chị rơi.
Giặc dã man giết Chị bằng ngục thất
Xác Chị trên tay, Mẹ và Huy Tú quặn đau chôn cất.
Huy Tú, Chị rèn dũa, sáng trong theo bước Chị.
Từ Chị đi xa, sau bốn mùa đông
Huy Tú trận Nà Phặc Phủ Thông
anh dũng hy sinh(1948) trong chiến đấu.
Ôi Quang Thái, khi mười sáu tuổi đời
đã lai láng hồn Đường luật:
“…lệ đầy vơi
Trông phường đế quốc lòng ngao ngán
Thấy bạn cần lao dạ rối bời
Quyết chí hy sinh thây kệ chết
Dốc lòng phấn đấu mặc đầu rơi …”
Chị Quang Thái ơi
vắng chồng, xa con khi vĩnh biệt
cao khiết tình yêu gửi lại đời.
-----------------
()Võ Thị Hồng Anh
()Võ Nguyên Giáp
(+) nhà 132 phố Quang Trung tpVinh
Khấn liệt sĩ Nguyễn Huy Tú
Tôi có người anh - tính tuyệt vời
Nói năng gì mọi người đều thích
Lỡ làm gì, chẳng ai chê trách
Do bổn tính anh quý mọi người.
Rời đội Thanh niên vũ trang ngày khởi nghĩa(1945)
để chủ động tìm tới thi tuyển ‘Võ bị’ Sơn Tây khoá đầu
khẩn trương rèn luyện
tốt nghiệp năm sau(1946)
vui đón Bác Hồ ngày bế mạc.
Thăm Mẹ, anh về đạt một ngày:
Em đón anh ga Vinh tối nay
ngay đêm sau tiễn anh ra trận
Chuyện tâm sự trước giờ khai hoả
một bạn thân, sau này, kể rõ:
“Tú dễ thương
quý yêu đồng ngũ
luôn giành phần khó gánh thay cho bạn.”
Sau Chợ Rã, Phủ Thông rồi Bắc Cạn
tin về, sét đánh :
“Trận Nà Phạc, Nguyễn Huy Tú hy sinh”!
tim nghẹn đau, thương xót anh vô ngần
cao tinh thần, học vấn
sĩ quan võ bị Trần Quốc Tuấn.
Sao? không còn anh cõi thế cùng em!
không còn anh nơi tựa nương cho mẹ
đã già đi nhiều lắm sau đêm đen
cả hai chị chúng ta bị giặc giết.
Kể sao xiết xót thương
máu anh đổ, phách dường an nghỉ
trong lòng dân, một bản bềnh bồng
chỉ một hộ, nay không dấu vết.
Ơi anh Tú, tin anh chết
cả nhà chưa cho mẹ biết
Mẹ đã ba lần khóc con, sưng mắt, sụt sùi.
Anh ơi, nhà ta trước vui vầy êm đẹp thế
nơi ủ ấp tâm hồn mấy thế hệ thân yêu
mà nay quạnh quẽ tiêu điều
khói nhang thêm lạnh những chiều tái tê.
Thác thiêng, anh hãy về phù hộ.
Đêm lạnh anh nằm đâu? mất mộ
ngày, để mẹ làm giỗ, cũng không!
Mẹ bao năm, lệ lặng ròng cào ruột
anh thương nhớ, bao đêm em bật khóc
đến ba lô con cóc dạt trôi đâu
đâu kỉ vật cùng nhiều câu nhật kí.
Đời tiếc muộn những tâm hồn đẹp thế
hoa ngày xuân rụng trước mùa thường lệ
tuổi đôi mươi đành để lại sa trường
đền nợ nước bằng dâng hiến máu xương
của những đứa con gan bền chí vững .
Em luôn rèn sống sao cho xứng
hương linh người chín suối
Qua tim em máu nóng anh nhuần tưới
sáu ba năm, kể từ anh tạ thế.
Anh vẫn sống xuyên ba thế hệ
con, cháu, chắt trong nhà, dù chuyện kể chưa nhiều.
‘Đội Phan Đình Phùng’ quý yêu truy điệu
cho Huy Tú tại Cửa Lò lệ vẫn rơi
dù đã 52 năm xa vời sau lúc mất .
Nhiều lứa sinh viên em, mở to đôi mắt
sành hiện đại, vẫn chân chất nét thơ
nuốt từng lời em giảng tấm gương xưa
xen lời Huy Tú thường tự vấn:
“Cho đất nước, ta đã hiến dâng gì?”
Là la bàn, anh chỉ hướng em đi
tay rắn chắc đỡ em khi khuỵu xuống .
Em hiểu ra phần nào lẽ sống
biết kiên trì nuôi dưỡng tâm hồn
vui hạnh phúc bằng tự hài lòng
ơn Huy Tú, vách tim em mãi
tạc hình Anh bên Minh Khai, Quang Thái.
Tìm mộ Chị
Xưa thường nghe Mẹ khấn, héo hon lòng:
“Nguyễn Thị Minh Khai, phần mộ con
táng tại Đức Thánh Chà nghĩa địa
xứ Tân Định, Sài Gòn
hàng thứ nhất mộ thứ năm .
Sống khôn, con thác thiêng
gần bay là, xa bay bổng ...”
lời khấn bay trời cao đất rộng.
Mất mộ rồi, em cúng trước bàn thờ
khấn tên Chị, giữa đêm mờ mưa bụi
bỗng hiển linh
nhang khẽ rùng mình
dẹ dàng Chị gọi
như gió thổi bên tai:
“Vững chí bền gan ai hỡi ai
kiên tâm giữ dạ mới anh tài
thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
con đường cách mạng vẫn chông gai” (1)
Còn Chị đây hay lại thăng rồi ?
để Vịnh thành bồi hồi trống vắng
Mọc Thượng Đình sương trắng một vùng
để Hòn Ngọc Viễn Đông khắc khoải
đón hồn Chị chứng cho những thuỷ chung.
Sống anh dũng, chết ung dung
nhưng ở đâu? đâu nấm mộ ngày xưa
Chị nằm đâu giữa mưa heo hút
nghĩa cốt nhục, đi tìm mải miết
nghĩa trang tiếp nghĩa trang mờ mịt
mà thấy đâu! Sương khói xây thành.
Dù hiểu:
“thác là thể phách, còn là tinh anh”
nhưng Mẹ mong gom lượm chút hình hài
thương Chị xưa “gầy yếu mảnh mai
gót chân nhỏ trượt trầy kênh rạch.”
Ôi, cho em òa khóc
em trần gian lệ trào!
thầm ngắm Chị đi vào
vầng vũ trụ
tiêu dao .
Kiếp sau nào
Chị hát tự trên non
đón đàn em, chùm tâm hồn hoa nở
đến thăm Chị nắng tuôn vàng rực rỡ
nơi đời đời mộ chỉ ở trong tim.
Tìm mộ Minh Khai, tiếp dặm trường
Ngã Ba Giồng, Giếng Nước Nhà thương
Long An, Bến Lức, vùng Bà Điểm
…đền Bến Dược qua, ghé thắp hương
bỗng ngay trước mặt:
rành rành bốn chữ, một ban thờ
‘Nguyễn Thị Minh Khai’ ảnh lệ mờ
ngước đỉnh vòm, hiền từ cặp mắt
Ôi khoan thai, vọng xuống lời thơ.
tiền bối quây quần, mắt sáng ngời
thiết tha nhắn nhủ, thấm từng người
tâm can ai lệ từng chan chứa
nối gót tiền nhân nguồn cội ơi.
Xưa mẹ khấn từng lời
đinh ninh ta nhớ khi tìm mộ
nghĩa địa Sài Gòn, đêm bão tố
Vườn Trầu nắng dịu, gió Hốc Môn
Củ Chi sông nước, dạ bồn chồn.
Thương cảm, thôi đừng khóc
bởi cõi người hiền
mộ chỉ ở trong tim.
Lời Mẹ dìu con Cứ nhìn gương Mẹ, con dần hiểu: gạt bỏ ngoài tai lời chế riễu thẳng ngay mà sống đẹp tâm hồn tự tin đối diện bao huyền diệu kẻ dữ, người khôn? vẫn cười ròn. Bạn hỏi con “Sao cậu trẻ lâu” con chân tình mở đầu chậm rãi: "Bao người chê tớ nhường – sai, dại. Nhưng Mẹ khuyên phải tận tình, thân ái khinh thâm hiểm, tột cùng tăm tối xa lánh mưu gieo rối chẳng lành. Khắp chốn còn rành rành đố kị tớ nghe Mẹ diệt dần ghen tị xa bùn đạo đức giả mùi tanh thoát hoảng kinh quyền chức giật giành Phân minh tín nghĩa sống đàng hoàng lời mẹ dìu ta sáng mỗi trang não trong sạch, tim không tẹp nhẹp tâm hồn không chật hẹp suy bì. Trẻ lâu dẫu tuổi cứ trôi đi bí quyết ấy trinh nguyên chẳng đổi: thanh thản giữ hồn chẳng chuyển di” Mẹ ơi con trả xuôi câu hỏi.
‘Tế bào của Mẹ’ soi tăm tối gương Mẹ trong con mãi khắc ghi
Một lời dặn của mẹ Nhớ xưa mẹ dặn lấy hồ hởi xử vênh váo thờ ơ dùng nghĩa ân xử ác nhân làm phách. Giận mà thương ai nhập vai hống hách khi tuồng hết, vô duyên trơ trẽn mặt mo sân khấu đời mà. Đời con chớ dã tràng xe cát duyên hờ cứ tha thiết yêu thương sống mãnh liệt tránh nhàm chán tầm thường.
Huy Dung
Nhóm Văn chương Hồn Việt
(còn tiếp)
Nguồn: Nỗi niềm. Thơ Huy Dung. NXB Văn học, 8-2011.
www.trieuxuan.info |