Tản văn
25.07.2011
Nguyễn Thái Sơn
Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm (1)

Tưởng niệm Anh linh những người Việt đã bỏ mình vì chiến tranh ở Thế kỷ Hai mươi


Khúc I: Biên thùy


Khúc II: Mẹ nhằn hạt na Cha nhai dập miá


Khúc III: Chiến tranh - Đàn ông & Đàn bà,


Khúc IV: Tiếng Việt


Khúc V: Hình như ai cũng khổ


Khúc VI: Chẳng nỡ trách dòng sông


Khúc VII: Chết trẻ


Khúc VIII: Cuộc chiến không đổ máu


Khúc IX: Ngũ cung


Khúc thứ Nhất: BIÊN THÙY


I. Nhìn từ Vũ trụ


Trái Đất sáng như khối pha lê


xanh biếc


tuyệt đẹp


hình ảnh ấy có từ bốn chục tỉ năm


khi Trái Đất vừa mới ra đời


hào hứng bay kiên nhẫn bay trong vũ trụ


biển không chia thành các đại dương


không phân biệt Biển Đen Biển Đỏ


đất mênh mông nối thành lục địa


không có đường biên phân định lãnh thổ quốc gia


loài Người chưa xuất hiện


Trái Đất hiền hậu trong lành


hành tinh dậy thì tươi nhuần màu mỡ


chưa sôi nước mắt nóng hổi xót cay


chưa phơi xương trắng chưa tuôn máu đỏ


những triệu năm qua đi


Mặt Trời ít dần sức hút mờ dần ánh sáng


như cây nến cháy đến giọt cuối cùng


Địa Cầu sẽ dạt trôi trong giá lạnh


đặc quánh bóng đen


không còn ngày nay


không có bữa mai


bình minh hoàng hôn không có nữa


Trái Đất rơi tự do 


chìm nghỉm vào “lỗ đen” không đáy


chuyển động hỗn loạn trong vô cùng vô tận không gian


cháy bùng nổ vụn vỡ tan !…


ngót bốn chục tỉ năm


chưa có con người Trái Đất tẻ nhạt cô đơn


dòng sông chưa được thoả thuê ôm ấp những hình thể khoả thân


làn nước chưa thay gấm vóc lụa là giấu da trần thịt nõn


bãi sông hang đá im lìm


chưa rúng động bởi những cuộc làm tình bản năng


                                                              đam mê cuồng nhiệt


 những con người đầu tiên xuất hiện  


nương tựa nhau ôm ấp nhau


giao phối thật nhiều sinh đẻ thật nhiều


bầy đàn thêm đông


bớt sợ hãi rừng thiêng núi dữ


mặt đất đỡ hoang vu hang động không vắng vẻ


chó sói không vào hang bắt trẻ con


đông người xô ngã được cây cao


bẫy bầy voi to săn đàn trâu lớn


không lo thiếu thức ăn khi bão rừng lũ cuốn


đàn ông có thêm đàn bà   


gái tơ tha hồ chọn nhiều trai khoẻ


rừng của chung sông suối của chung thảo nguyên của chung


của chung bầy ngựa rừng đồi dứa chín


cha mẹ của chung con cái của chung


huống gì đất đai sông biển !…


II


Đàn bà biết lựa xương thú lông chim


con gái học cách chọn đất màu làm đẹp 


đàn ông ngày càng to cao khoẻ mạnh…


nắng ủ men những đồng mía bạt ngàn


mật ngọt hoá rượu cay nồng nàn quyến rũ


ma qủy xui khiến con người chế ra nước phép


để có thêm đồng bọn đồng minh


rượu ngấm vào tim tan hoà trong máu


đàn bà


         vồ gỗ đập quan tài


                      mo cau quạt mộ


đàn ông xé sách đốt đền


rượu rút ngắn thời gian trở thành nghệ sĩ


làm tăng nhanh số lượng nhà thơ


uống nhiều rượu núi ngỡ thấp vực tưởng nông


tăng ham muốn ở đàn ông


rạo rực tim đàn bà


rối lòng thiếu nữ…


 


người yêu người người sinh ra người


chặt gỗ dựng nhà cắt cỏ tranh lợp mái           


thuần dưỡng lợn lòi thành lợn ỷ Mường Khương lợn sề Móng Cái


chuối dại hoá chuối ngự chuối tiêu


hành tinh khổng lồ không thể lớn thêm


bớt hoang dã Địa Cầu càng chật


khỉ vượn hươu nai hẹp dần đất sống


chó sói đánh dấu lãnh địa 


                        móng chân cào toạc vỏ cây


“rừng nào cọp nấy”


          - hổ báo gầm gừ đọc tuyên ngôn


đất có Thổ công sông cần Hà bá   


con người gán sông núi cho thánh thần


rồi tự nhận phần chia phần


bộ tộc kết thành dân tộc


chiếm cứ lãnh thổ tạo dựng quốc gia 


hình thành biên giới biên cương biên ải biên thùy   


ta từng muốn được sống như thời man sơ ấy


bắt thỏ săn nai hái lượm trái cây


không ai thành tỉ phú


không ai phải ăn mày


mọi người đi cùng loại xe tuần lộc lôi chó kéo


không cần thủ tướng


không cần Đảng A


không cần Đảng B


không cần cả Đảng C


không cần nghị viên nghị viện


 


được sống ở thời mông muội ấy


ta chưa biết giẫm đạp lời thề khiến đời em dang dở


khi nhắm mắt xuôi tay khỏi bị trừng phạt


                  - những vòng dây lửa thắt trói linh hồn


 


cuộc sống bây giờ cần nhiều thứ quá 


nhà ở xe đi bằng cấp ghế ngồi


những danh hiệu danh xưng


nào danh gia danh vọng


bí danh bút danh lắm vào


cũng vô danh vô tích sự thôi.


III


Biên cương


là dãy núi hiểm trở thưa thớt mờ nhạt dấu chân


sườn đông nước này sườn tây nước khác


biên giới


             nhát cắt chia đôi con sóng


cây gạo cao to gấp trăm cột mốc  


hoa trên cành nước em rụng xuống cỏ nước anh


 


Trái Đất


chiếc bánh khổng lồ của Trời  


con người mài lưỡi dao vô hình xắt thành vài trăm miếng


hơn thiệt rủi may đã thành quá khứ


không thể đổi thay  


không chia lại nữa !


 


cư dân xứ Việt


con cháu ngàn đời của Rồng Tiên


được chia giải đất vừa hẹp vừa dài


uốn lượn từ Nam lên Bắc


như miếng bánh chưng ở góc miếng bánh dợm ngoài rìa


người Việt từ ngàn xưa lấy ấm là cần coi no làm trọng


nhân bánh của ta


sừng tê giác ngà voi đồi mồi


gỗ vàng tâm xà cừ lim táu


than béo than gầy Phấn Mễ, Hòn Gai, Hồng Quảng 


mỏng tang vài lớp đất đồi lấm tấm vàng cám Bồng Miêu


của nả chỉ bấy nhiêu


mà trộm đạo rình rập


giặc dã bên đông bên đoài


mấy ngàn năm máu chảy đầu rơi


 


mục đồng dựng cờ lau đánh trận


nữ nhi múa kiếm trên lưng voi trắng  


đè sóng dữ cưỡi cá kình đuổi giặc  


nghìn năm trước sang ngàn năm sau …


biên giới biên cương biên ải biên thùy


vẽ trên giấy vạch trên mặt đất


chẳng tốt đẹp gì mọi chia lìa ngăn cách


ta vẫn muốn như thuở hồng hoang  


tự do trú ngụ tự do thiên di vùng này vùng khác


như hươu nai cò vạc


chẳng tốt đẹp gì


nhưng nếu không có biên giới biên cương biên ải biên thùy


hành tinh càng hỗn loạn rối ren


đất đai vô chủ vô thần giành đi giật lại


 


biên giới


lắm khi phải chấp nhận trong hoài nghi


thừa nhận trong cay đắng


có thể thay đổi hiện tại sắp đặt tương lai


nhưng lịch sử không thể nào thay đổi  


lắm kẻ muốn định lại cương vực


lấn vùng này chiếm nơi khác


xê dịch đường biên từ Bắc xuống Nam từ Đông sang Tây


để “miếng bánh” của mình thêm to thêm ngon


những người mẹ Việt


Bà Trưng, Bà Triệu, Liễu Hạnh, Mỵ Nương


những người cha


Mai Hắc Đế, Triệu Quang Phục, Bố cái Đại Vương 


đất đai dưới gầm Trời - cội nguồn sự sống


phát tích văn minh Trống đồng


văn minh Lúa nước


văn minh Bánh chưng bánh dầy


văn minh Ca trù, Quan họ, Cồng chiêng…          


hổ thẹn với tiền nhân


mang tội với muôn đời sau


nếu để giặc chiếm


dù chỉ vũng trâu đầm


gốc cây


bờ ruộng…


 


IV


Đất mọc rừng


rừng vùi lấp triệu năm thành than thành quặng


ma mút khủng long


sứ giả lặng câm của thời Tiền sử


bất tử trong những nét vẽ trên vách hang sườn đá


 


ta đi trên mặt đất 


theo dấu chân khai sơn phá thạch


dân phu muôn đời đổ mồ hôi nước mắt


ruộng bậc thang quàng quanh vách núi


người Việt bao đời nuôi con


                              hoa trái thóc gạo cá tôm


người với đất nuôi nhau bằng những gì qúy nhất


 


thảo mộc chim muông hoá thân vào chữ viết


vàng tâm tạc tượng gỗ lim dựng cột ngói gốm lợp đình


để bà để mẹ để em ngả nón


ghép khuôn nấu đồng đúc trống Đông Sơn, Ngọc Lũ


luyện sắt dựng ngựa thần


                                  Thánh Gióng đuổi giặc Ân…


thần dân Ba Tư dựng vườn treo Babilon 


nô lệ lưu vực sông Nin xếp đá tảng tạo kim tự tháp


nông dân Khơme xây Angko Thom, Angko Vát 


người da đỏ vẽ trên xương ức đại bàng


người châu Phi xếp hình trên cát…


viết nên trường ca kể thành truyền thuyết


soạn chung thông điệp gửi đến muôn đời :


- Từ cát bụi sinh ra, con người lại trở về cát bụi ! 


 


Thành Cát Tư Hãn từng muốn đặt hành tinh trong tầm tên bắn


có những năm tháng cả nhân loại lo âu phấp phỏng


xe tăng in hình mặt trời, dấu thập ngoặc


                          cuốn xích cày nát châu Á châu Âu


đòi chia lại lãnh thổ quốc gia


vẽ lại đường biên giới


 


“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư


Núi sông bờ cõi đã chia


Sông có thể cạn núi có thể mòn…”


biên giới biên cương hữu dạng vô hình


đời trước truyền đời sau gìn giữ


Hốt Tất Liệt, Nã Phá Luân, Hít Le…


mang xuống mười tám tầng đất đen giấc mơ bá quyền bá chủ.


 


Khúc thứ Hai


MẸ NHẰN HẠT NA CHA NHAI DẬP MÍA


I


Đêm diệu huyền


đầu ngả sang đầu tay nóng bỏng tay


cây nghiêng ngả


trăng đầy hồ nổi sóng


- yêu nhau nhất trên đời !


anh cũng muốn thốt lên như thế


nhắc lại nhiều lần


yêu nhiều như lá rừng dạt dào như sóng bể


tình yêu tuyệt đối say đắm đam mê


tự do sáng trong buông thả


trốn tìm trong mắt rót mật vào tai


anh tin em nói như lòng nghĩ


nhưng không muốn đó là sự thật


 


đã có từ khi chúng mình chưa hiện hữu trên đời


tình yêu đầu tiên tình yêu lớn nhất


dành cho em cho anh


thuộc về mẹ cha


tự nhiên bản năng


trước cả những gì ước muốn


như nghé sữa bê tơ mèo con cá bột


em có thể không là của anh


                            suốt đời làm vợ người khác


anh có thể mất em


                  suốt đời đành là chồng người khác


lòng anh yên tĩnh mỗi khi bước qua cổng chùa


cảm ơn em vô hình bao lần kéo anh xổ khăn rách áo


để anh khỏi xuống tóc như bao sư già sư trẻ


trước khi ruổi ngựa vào rừng tìm Phép Màu


                                            chân tu thành Phật Tổ


hoàng tử nâng gươm cắt mái tóc xanh tạ tội vua cha


 


anh không rơi từ ngọn cây


em không lẫy ra từ ruộng nẻ  


ôm nhau thật chặt


như hai kẻ hành hương ngụp lặn trong nước thiêng sông Hằng


nuốt giọt cam lồ uống nước tàn nhang


giật mình bừng tỉnh


không phải lời niệm Phật


không lẩy ra từ Cựu ước, Tân ước, Coran, Địa tạng


tiếng nói tự đáy lòng


                  - ta yêu nhất Mẹ Cha !


 


II     


Núi sông đầu tiên


âm thanh đầu tiên ánh sáng đầu tiên ấm lạnh đầu tiên


tất cả trong vòm trời đầu tiên - bụng mẹ


vòm trời bụng mẹ ổ kén vàng tằm no lá dâu


tổ bám vách động Hương Sơn


treo cành thông già rủ mái chùa Yên Tử


 


ta như đại bàng non vỗ cánh bay chuyền


bụi trúc đằng ngà cỏ linh chi lót ổ


trứng chim công trắng nõn phập phồng chờ rạn vỏ


nước dãi chim yến trộn lẫn huyết hồng


lông tơ phượng hoàng ủ mây ngậm gió


ngơ ngác cất tiếng hí chào đời ngựa chín hồng mao


lòng mẹ


            - bầu trời đầu tiên


mẹ nhận biết khi ta còn mỏng manh


tơ nhện


chỉ mành


giọt mưa


sợi khói… 


   


nửa đêm về sáng bãi tha ma ngoài đồng


gốc lim cổng chùa cây gạo bến sông


đảo lá vặn cành phả làn gió độc


chướng khí lọt qua khe cửa vào chõng mẹ nằm


tơ nhện chỉ mành


                        con của mẹ


                                         đứt tung


                                               làm sao nối lại !


 


mẹ lăn sóng soài


            trời mưa đường trơn


mẹ ngã vặn lưng


                   cọc cầu ao mục gẫy dưới bùn


con của mẹ


              giọt sương


                       bốc hơi vào nắng


 


yếm mộc khăn gai


mẹ vắt dọc dây thừng phơi ngang sào nứa


chim lợn kêu đêm quạ khoang nhỏ dãi              


sương độc thấm loang vạt yếm


tà khí nhàu khăn


sữa mẹ hoá nhựa xương rồng


 


tháng tám dốc bồ ngày ba úp thúng  


cơm độn củ chuối cháo hầm sung non


mẹ ăn sắn độc xuyên rễ cỏ tranh


nuốt phải măng luồng mọc bên hang rắn


sợi khói


       con của mẹ


           bay theo mây trời !…


 


may mà cha nhồi rơm bện rạ chắn gió che mưa


bắc lại cầu ao


          đóng lút cọc gỗ bạch đàn


                                        ken dày tre đực


may mà đường trơn vãi tro ngõ lầy rắc trấu


mẹ bấm mười móng chân tứa máu


 


phập phồng cuống nhau khí huyết dồn về  


con dày thịt xương nhô tai mọc tóc


Bà Mụ nhào nặn tò he


Đất Trời cho con tim óc


linh hồn kết tụ từ lòng yêu thương hi vọng của cha


tò he hóa thân


            con biết ấm lạnh buồn vui cùng mẹ


đợi chín tháng mười ngày cha đón con ra


 


bì bõm lội ruộng chiêm tóc mẹ đẫm mưa


tàu bay Hencát, Đacôta xé gió trên đầu


mẹ nắm tay cha


lựa chân tránh từng rãnh cày gốc rạ


cả khi đã ngồi dưới hầm sâu bình yên trong lòng đất 


mẹ vẫn giấu con vào góc hầm kín nhất


 


đêm mùa đông giá lạnh


con rúc đầu vào nách mẹ lòng bà


gác chân qua bụng cha      


khói thuốc lào cay


quết trầu nồng  


sữa ngọt


mỗi khi nhớ lại mắt cay mũi nghẹt      


 


đêm tháng chạp mẹ quấn con bằng vạt áo bông đụp chằng mụn vá


giặc từ Bến Trại càn vào Đò Neo bủa qua Vô Hối 


Tây trắng Tây đen cắt đường bịt lối


tao nôi cánh võng đầu tiên của con


                                        cặp thúng cái tản cư


 


quang mây đánh võng lắc lư


hàng ngàn chiếc - nôi -  thúng treo trên vai cha mẹ


từ Hà Nam, Hải Dương chạy vào Nghệ An, Thanh Hóa


đồng bằng thành phố ngược lên Phú Thọ, Thái Nguyên


đói khát sợ hãi kiệt sức đẹn sài


bao đứa trẻ không tỉnh lại


bánh mật tháng mười bánh ú tháng hai


cà niễng thằn lằn sâu chè ếch cốm


cua bấy giữ mai tôm càng tách vỏ  


muồm muỗm nếp mùa chín vàng trên lửa…


hay ăn chóng lớn


chúng con tập lẫy tập đi


 


mẹ nhằn hạt na cha nhai dập mía


trứng rùa trứng rắn


mẹ ăn lòng trong phần con lòng đỏ


con nghẹn cá nạc bố nhằn xương vây.


 


III


Cha có niềm vui ngâm thơ hút thuốc uống chè


tết nhất tổ tôm hội hè cờ tướng


mẹ vào bếp ra đồng tứ thời bận rộn


ma chay cưới hỏi môi thắm quết trầu


đình đám giỗ chạp áo xống mới lành


ra sân chùa xem chèo khăn vấn khăn vuông mới nếp


nắng đội nón lá mưa quàng áo tơi


mùng một ngày rằm lên chùa lễ Phật


xoa chân xỏ dép mo cau


cơm chiêm niêu đất cà dừa dầm tương


bún riêu cua


            rau ghém ngó cần sung nếp


 


mẹ ru con toàn những khúc ca buồn


“bước xuống vườn cà trèo lên cây bưởi”


ai về phố Suôi ai qua làng Hối


“chiều chiều ra đứng ngõ sau…”


cùng ngậm ngùi tuổi Thân cha mẹ nấp bóng nhau


con không biết ngày đẻ tháng sinh


mẹ mới chỉ kể  “ngày ấy cha mẹ gặp nhau…”


                                           con đã chìm vào giấc ngủ


nghe đi nghe lại con vẫn vô tâm không nhớ


cha mẹ gặp nhau thương nhau khi nào


ngày nào chạm ngõ giờ nào rước dâu


con chưa kịp hỏi bà trở dạ sinh mẹ ở đâu


có bao điều về ông bà cha mẹ con hoàn toàn không biết


những dữ liệu của một thời quá vãng


chưa kịp ghi vào ổ mềm trong lòng ổ cứng trong tim


thời gian xoá hết !


giấu thân gầy trong áo nâu yếm gụ


gậy tre vót nhọn mũi xuyên vào đất


chân mẹ vẫn xiêu lưng cha vẫn lệch


bao buồn lo nén chặt trong lòng 


nhễ nhại trưa hè tái nhợt đêm đông


tóc rụng tóc rối quấn chuôi tram gỗ lược sừng


cuộn hình củ ấu trái cà treo ngọn na cành vối.


IV


Để lại những bài tập suốt tuần không ngó tới


mớ quần áo trai làng trai phố chật căng sứt chỉ mẻ khuy


dăm vần thơ ngớ ngẩn vài câu hát vu vơ


viết nguệch ngoạc trên cột nhà cánh cửa


nhưng lại hoàn toàn không hay biết


nỗi buồn lo nghẹn tim thắt dạ mẹ cha


từ lúc biết đứa con hứng hoa nâng trứng sắp đi xa


 


ăn bữa cơm cuối trong nhà mình


chỉ còn đêm nay ngồi trước ngọn đèn dưới mái nhà mình


đủ anh chị em


còn cha có mẹ


chỉ vài giờ nữa lên xe ra trận


chợt giật mình nhận ra những điều ngỡ xa lạ lắm


 


lưng cha còng bao giờ


                      sao mình không biết


cánh tay mẹ gầy guộc


mỗi ngày đơm sáu bát cơm độn khoai cho mỗi đứa con


                                                        ta cũng chẳng hay


đàn em thơ dại cao gầy lêu đêu


trái bếp gió lùa hắt nắng mủn mưa


đòn tay cột cái mối xông mọt nghiến  


mười tám năm


sinh ra trong nhà mình lớn lên ở nhà mình


ta như người xa lạ !  


 


không kịp nữa rồi


xe nhận quân đã sắp về làng


cờ, khẩu hiệu đỏ sân hợp tác


không còn kịp nữa                                            


xe chật đường thôn trống giục ngoài đình


ta nào biết cha mẹ anh em không bao giờ còn đủ đầy như thế.


                        


V


Cha chưa lên thủ đô


mẹ mới ra khỏi huyện


vẫn biết chúng con đói quay đói quắt ngoài trận mạc 


nhiều lần dạt qua biên giới


lắm khi bị vây hãm trong hang


vẫn biết chúng con ngủ hầm sưng khớp nằm võng vẹo lưng


sốt rét vàng da sưng gan phù lách


lẫn trong lá xanh có loài rắn lục


cá sấu lặn dưới nước đục nhử người xuống tắm ở quãng nước trong


hổ báo rình mồi cạnh lối mòn


rừng cháy suốt đêm


             những người lính chết trong cơn rét


 


tầm tã mưa rừng khốc hại mưa bom


dưới mỗi mái nhà những người mẹ người cha đều biết


dù thư gửi về cả năm chưa đến 


thư nào chúng con cũng an lòng cha mẹ:


- quân ta toàn thắng, bọn giặc toàn thua !


chúng con bắn súng quen tay


                               mắt to mắt nhỏ má sạn vai u 


vẫn không ngờ viên đạn sắc nhọn xuyên thủng


             lỗ chỗ giấc ngủ của cha xé toạc giấc mơ của mẹ


cả khi đạn bom làm thủng thịt gãy xương


                                                  chúng con đau xé    


trong cánh võng vải nhẹ bẫng ướt sũng mồ hôi


những người lính không tỉnh dậy sau cơn co giật


ở quê nhà hình như mẹ cha đều biết


 


đau nhói ruột gan nước mắt chảy ròng


cày rời khỏi tay cha


                     bò tế trâu lồng


đom đóm nổ trong mắt vàng lét xanh le


mẹ rùng mình như trúng gió …


 


những người mẹ người cha


có con ra trận có con tử trận


chết mòn chết dở bao lần


trước khi chết thật.


 


Khúc thứ Ba


HOÀ BÌNH CHIẾN TRANH


ĐÀN ÔNG & ĐÀN BÀ


NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ CHỒNG TRONG NHÀ


 Sống với nhau mười mấy ngày anh vào Vệ quốc


xa cách chục năm chị đã ngót ba mươi


chiến thắng Điện Biên


sau vài lần “đi phép mười ngày” anh xuất ngũ về quê


người lính nào chẳng muốn “nghỉ phép” suốt đời như thế


 


thoả sức đắp bù


“ăn giả bữa” cả đêm


“ăn vã ăn vụng” suốt ngày


có khi mong trời mưa muốn cả làng đi vắng


vợ chồng nhìn nhau


                   xấu hổ…


                          không dám tin là thật


 


có chồng trong nhà


tháng trước tháng này tháng nữa


đêm nào cũng quấn lấy chồng


đêm nào cũng được chồng ôm


chị nói thầm hát thầm cười thầm thẹn thầm


rưng rưng nghẹn ngào…


mặc kệ chồng lo toan những điều to tát


chị quảy rơm gánh rạ


ngăn gió lùa máng lợn cũi trâu


không để tàn tro nguội lửa


vá buồm


         se thừng


                       phơi chão


                                  tát nước lòng thuyền


dây lèo bánh lái đá ngầm bãi cạn đã có chồng lo


chị chỉ biết làm vợ làm dâu làm mẹ


hương hoa trên ban thờ


gạo muối sẵn trong thưng …


 


tóc dài óng mượt bồ kết lá chanh


ngát dịu bạc hà hương nhu hoa bưởi


đằm duyên nhuận sắc


lắm khi chị giật thót nghi ngại chính mình                    


hơn hớn lúa chiêm tháng ba


rạo rực đê mê đón sấm


gió heo mật trèo ngọn mía


cuối thu trời lạnh se se


nắng hanh vàng rực ngọn cây


da dẻ đàn bà nứt căng đỏ lựng


anh dựng cày


              buộc trâu


                        kéo rào dấp ngõ


                                          lỡ buổi làm đồng…


chỉ đủ vợ đủ chồng ngần ấy tháng năm


kịp có ba con đủ cả gái trai                         


nhà lợp rạ ba gian vườn ba sào tươi tốt 


mái ấm gia đình không nắng hắt gió lùa mưa dột


con


       chụm chân kiềng chóng lớn mau khôn


vợ


      thị thơm muỗm ngọt mơ chua 


khoai mầm mật ứa thóc giống căng bồ


mít chín thơm đến cùng ớt ương cay tột độ


xanh mướt thài lài phân gio đủ độ


chồng


         dẻo trâu lò mật dai sức bò cày hăng như ngựa kéo


hả hê mưa nhàu cỏ bợ


vợ chồng đầy dầu dài bấc


giếng đá ngọt lành dây gàu săn chắc


anh cày em cấy vui thú đến trăm năm…


 


như đàn kiến nhao nhác trước trận mưa giông


gió lệch hướng bợt da, mưa muối chanh xót dạ


mùa thu năm ấy qua nhanh


gió bấc lạnh ngắt tràn về


mưa phùn giấu nước vào mái rơm


không bay lay phay không ngưng thành giọt


khói bếp bay là ngọn cau chẳng chịu lên trời   


 


tổng động viên !


tất cả cho tiền tuyến !


hồng chị cùng chồng những người đàn bà trong làng ngoài phố


chia tay vợ con cha mẹ họ hàng   


chia tay những năm tháng chóng vánh hòa bình


hai lần ra trận cách nhau mười mấy năm


bỏ lại những người ruột thịt đông gấp mấy lần


đàn ông từ nay khát da thịt vợ


phụ nữ thiếu cơm thèm vải


nhịn đàn ông


đói cháu con…


 


“NGẢ LƯNG” GIỮA HAI CUỘC CHIẾN


I


Với nhiều người Việt từng sống


đang sống


Thế kỉ Hai mươi dài


cực dài


chỉ Thập niên Sáu mươi đã lâu như cả thế kỉ yên bình từng trôi qua lặng lẽ


Tây Ban cầm sáu dây


cây đàn huyền diệu của văn hoá văn minh nhân loại


không dễ độc tấu hoà tấu mười chương khúc của Thập kỉ Sáu mươi


người ta thửa cây đàn mười hai dây ghép bằng sắt gang tre nứa


chỉnh đàn đến không thể căng thêm


để dây khỏi đứt tung âm thanh không lạc


thấp hơn nửa cung cao hơn nửa nốt


năm tháng - hàng phím lõm !…


 sau chín năm kháng chiến


những người lính Trung đoàn Thủ Đô, Đoàn quân Tây Tiến


tuổi nghấp nghé ba mươi bốn mươi


sung sức giữa thời trận mạc  


đủ sức đuổi giặc đến mũi Cà Mau


bịt chặt cảng Đà Nẵng, Sài Gòn


không để giặc ngoại xâm đổ bộ lên đất liền lần nữa


những đại đoàn chủ lực


Quân Tiên Phong, Chiến Thắng, Đồng Bằng…


                                           bừng bừng nhuệ khí


hạ trại ở Đồng Lê án binh quanh Nhật Lệ


dừng cuộc trường chinh trước Khu Phi quân sự Vĩnh Linh


 


những người lính từng trải im lặng nhìn nhau


đất nước phải chia đôi ? 


không thể hiểu


không sao hiểu nổi !


Vĩ tuyến Mười Bảy


             Vĩ 


                 tuyến


                            Mười


                                   Bảy


                                         !!!


                                                ???…


(Ghi chú: năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam có đủ sức buộc Pháp rút


hoàn toàn để giải phóng cả nước, nhưng vì rất nhiều sức ép, phải kí hiệp định Giơnevơ chia đôi lãnh thổ)          


II


Sau ba ngàn ngày chiến trận


những dàn đại bác nguội dần


vỏ đạn, xác ca nô đợi hoá thân


thành nồi đồng điếu chảo gang


trăm vạn chiến binh náo nức thay nhau nghỉ phép


bao cô gái quê xốn xang ngóng trông bộ đội về làng


mơn mởn con gái tỉnh Đông xứ Đoài đồng dâu bãi mía


vừa kịp dậy thì


những cô hàng xén hàng tấm Hải Dương, Bắc Ninh, Nho Quan, Phủ Lý


chải mượt tóc bồng lá bún


mơ làm con dâu Cụ Hồ, vợ vệ quốc quân 


từ Thủ đô Gió ngàn, Sầm Nưa, Mường Lát


khoác áo trường chinh về lại kinh thành


những sĩ quan không cấp bậc quân hàm


oai hùng giầy đen


áo đại cán Tôn Trung Sơn bốn túi 


lọt mắt xanh tiểu thư Hàng Bạc, Đồng Xuân


chiến binh của những trung đoàn thiện chiến Bắc Bắc, Thủ Đô, Tu Vũ        


                                                              (Thuộc Đại đoàn 308)


hành quân ngang dọc giấc mơ thôn nữ


khăn nâu đồng tiền khăn đen mỏ quạ                  


Từ Sơn, Lục Ngạn, Canh Diễn, Nhật Tân…


                                                             


mẹ chồng sinh thêm con út con thêm        


nàng dâu hai năm ba lần vượt cạn


làng quê phố thị râm ran pháo cưới


những cô đỡ trẻ các bà mụ vườn


bao năm nhàn nhã chân tê tay dại


ngày ngóng người mời đêm chờ kẻ gọi


bây giờ tất bật đi sớm về khuya


 


“từ nay bom đạn hết rồi


con thuyền xuôi ngược thảnh thơi giữa dòng…” (Trích lời một ca khúc)     


trẻ trồng na già giồng bạch đàn


xẻ đá nung vôi đắp lò nướng gạch


“Thẻ Nhận ruộng” trường tồn cùng phim ảnh


thành báu vật trong các viện bảo tàng


 - kỉ niệm một thời gửi tới mai sau ?


ruộng mới nhận vừa chia lại gom vào hợp tác


“chiêm mùa cờ đỏ ven đê


sớm hôm tiếng trống đi về trong thôn”  (Trích thơ Tố Hữu)


 


chỉ vài trăm người biết


bộ đội công binh sắp mở đường mòn dọc Trường Sơn


chỉ mấy chục người hay


những con tàu không số vẫn âm thầm rẽ sóng biển Đông


                                   vạch Đường Hồ Chí Minh trên biển


cây dương cầm cũ dưới tán đại ngàn vang lên từng chùm hợp âm


                                                                           kết thành giai điệu   


Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết những nốt nhạc mở đầu


                                      hành khúc Giải phóng miền Nam


lại có chiến tranh !


chiến tranh sắp nổ ra !


những người làm mẹ làm cha


giao thừa năm ấy vẫn không ngờ cuộc chiến khốc liệt đã rất gần


Tết ấy với bao cuộc đời đã là Tết cuối


“cả nước lên đường


xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục” (Trích thơ Chính Hữu)


con trai lớn nhập ngũ


bố hoãn phục viên


cỏ thao trường chưa kịp hồi sinh


lại dập nát dưới đế giày lính mới


chồng thôi làm nhà ngói


vợ bán bò chặt tre đong thóc trữ sắn khoai


con gái vội lấy chồng


                      gấp gáp đẻ con trai


cả những người dân thường cũng hiểu


chiến tranh lần này dằng dai khốc liệt


vợ chồng li tán gia đình nát tan


chục triệu người Việt Nam mang thương tích suốt đời


mấy triệu người sẽ chết.


 


NHỮNG ĐỨA CON KHÔNG THỂ TƯỢNG HÌNH


 


Ngay cả trong chiến tranh


mỗi khi ém quân trong rừng


lính khoẻ mạnh như đi an dưỡng


cá suối thịt rừng bột trứng lương khô


gạo nếp nấu chè đậu xanh ngâm giá


chiến dịch chưa mở màn


binh lính nhàn cư chỉ huy nhàn nhã


không sợ thồ balô nặng trĩu “xẻ dọc Trường Sơn”


không sợ hùm beo rắn rết


những cái chết đủ hình đủ dạng đeo bám rình rập đợi chờ


những người lính đàn ông con trai mạnh mẽ


mười chín, ba mươi


                   sinh lực căng tràn


công nhân khuân vác Bến Bính, Phà Đen


chân sào thuyền buôn


vai nổi u hằn vết thừng chão kéo thuyền


xuôi ngược sông Chu sông Mã


lực điền Quảng Bình, tráng đinh Thanh - Nghệ


thợ sơn trành Bình Định


trai Cầu Vồng Yên Thế…


lưng săn ngực nở vai đầy


đùi ếch chân dê tay càng cua biển


mụn trứng cá dày như kiến


không e ngại bất kể điều gì                   


khổ sở


         dư thừa


                     năng - lượng - đàn – ông


 


Thập kỉ Sáu mươi


đã có mấy người biết khái niệm đồng tính đồng giới


lính trẻ chúng tôi chưa được ai bày vẽ cách “thỏa mãn” cho mình


chưa phải kiểm thảo không bị cản ngăn


cứ ngỡ đã phát kiến ra điều kì diệu !


dừng chân một đêm ở rừng tre


rừng chuối


                mắc võng mấy ngày đợi hành quân tiếp 


mưa đầu mùa                                          


măng tre mập mạp tua tủa mọc lên


năm bảy chồi non chen chúc nẩy từ thân chuối mẹ


ông già Xêđăng bập thuốc rê sâu kèn nhả khói cười kha kha :  


 - chưa có khi mô… như thế !


quẳng balô xuống cỏ


dựng súng gốc cây


nằm lăn trên lá khô đá tảng duỗi chân dang tay


ăn dăm bảy bát cơm măng vầu mắm ruốc


lính phởn phơ sức lực lại ứ đầy


 


những chiếc võng lép kẹp vỏ đậu nhẹ bẫng tàu dừa


những chiếc võng nặng trĩu căng phồng


đố tục giảng thanh


chuyện tiếu lâm chuyện phòng the chăn gối


râm ran rôm rả rúc rích tiếng cười


 


những người lính da trần như nhộng


nằm ôm nhau ngủ chung võng suốt đêm


võng một hóa võng đôi


trĩu nặng dềnh lên dập xuống như thuyền


dây võng níu căng nghiêng cây tróc vỏ


sên vắt thức giấc tìm mồi rào rạo lá khô


dưới những tấm võng có từng đám kiến nâu kiến gió…


 


 - không vậy


suốt đêm nhiều đêm chúng em mất ngủ            


- không làm thế


có khi phải tìm vô bản, tụt lại dọc đường


vào rừng phát rẫy lấy vợ Vân Kiều


bám xe nhảy tàu về quê hương…


 


sau những cơn vật vã trăn trở bất an 


được “giải tỏa”                         


những người lính ngủ ngon ngáy pho pho như sấm


gương mặt dãn chùng thảnh thơi mãn nguyện


nụ cười bí hiểm đậu khóe môi


 


bao bạn bè đồng đội


                                 chỉ vậy


                                              rồi thôi  


mang đủ nỗi khát thèm xuống Đất


hương vị Đào Tiên chỉ có trên Trời


tình yêu tình dục


nghe kể rồi tưởng tượng


không sờ tay không nhìn tận mắt


bạn tôi em tôi chết trận


riêng điều ấy mười mươi có thật !


 


chôn vội lấp vàng những thi thể con trai


chưa từng cọ sát da thịt phụ nữ mỡ màu ấm nóng


chưa nhìn thấy ngồn ngộn thân hình đàn bà


không bị lá chuối áo tơi nón mê che khuất                


những đứa con – một – nửa không thể tượng hình từ trăm ngàn người lính


thành máu thịt sên vắt kiến gió kiến nâu


đom đóm lập loè bay


hoang dại rừng xanh hun hút vực sâu…


Thập kỉ Sáu mươi Thập kỉ Bảy mươi


đêm dài như tháng


tháng bằng cả năm


đàn bà sợ tuần rụng trứng


đàn ông uổng phí tinh trùng.


(còn tiếp)


Nguồn: Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn. Nhà xuất bản Văn học, 2009.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info