NGOẠI TÌNH
I
Đêm đêm
ngày ngày
những người lính trăn trở quẫy đạp
đứt dây
rách toạc
bao cánh võng đơn võng đôi
ướt nhẹp những đám kiến nâu kiến gió…
ở bao miền quê
hàng triệu cô gái tươi tắn ngoan hiền
giật mình hốt hoảng lo sợ
- lần “có tội” đầu tiên
(Người ở nông thôn miền Bắc gọi hiện tượng kinh nguyệt là “có tội”)
những người đàn bà rất mực Đàn Bà
ba mươi hai tuổi bốn mươi mốt tuổi
vú căng bưởi đào quệt vôi đợi Tết
mông đùi đàn bà rừng rực đống rấm cháy lụi gộc tre …
từng tế bào trong xương chuyển hóa
mùa xuân thứ hai của phận đàn bà
chồng còn sống mà như vợ góa
hồi xuân
tái xuân
da thịt nà nuột tươi nhuần
nhấm nháp ngốn ngấu chính mình
những người đàn bà sung mãn
đêm uống “nước sông” ngày ăn “cơm nhạt”
hồi xuân
tái xuân
bữa tiệc cuối của phận đàn bà
cơm canh chẳng người đụng đũa
xôi khô chè vữa
những cô dì thím mợ trong họ ngoài làng
cơm độn sắn khoai ăn còn lửng dạ
dáng vóc phổng phao chân tay chắc nịch
nhạt mùi chồng
quên hơi hướng đàn ông
“ruộng đồng của ta thẳng cánh cò bay
chồng cày vợ cấy thỏa chí từ nay…” (Trích lời một ca khúc)
ruộng đồng ngày càng dài rộng
vẫn như ngàn năm con trâu đi bừa
vẫn thế - muôn đời vợ cấy
câu ca dao xa xưa hóa thành hoài niệm
(Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa - ca dao)
những người đàn bà cày ngầm ruộng chiêm
nước lút đuôi trâu
nước ngập bụng em
loang đỏ !...
(Máu do đỉa cắn, do vấp chân vào gốc rạ, lưỡi cày, cũng có thể do đang “có tội”)
cò đậu ngọn cong vạc bám cành mềm
quanh năm lầm lụi bới khoai mót lúa
“từ ngày anh đi việc đồng em giỏi dang”
ruộng cấy chăng dây cấy lúa thẳng hàng” (Trích lời một ca khúc)
II
Lợn tơ động đực bỏ cám phá chuồng
xệ lườn vịt bầu ướt mào gà mái
trâu nái cà lưng bóng nhờn cành duối
bò sữa cọ hông nhẵn thín gốc si
dửng dưng nhìn cỏ mật lá mía bẹ ngô …
gặp gỡ
làm quen
yêu
cưới “tập đoàn”
chỉ có mấy ngày trời
người ra trận hẹn về người hậu phương hứa đợi
mười chín năm con gái
làm đàn bà hai đêm
biết dăm ba điều vừa lạ vừa quen
còn bao chuyện hay ho chưa biết
khế chín dở ngập răng vài miếng
rượu nếp cái hoa vàng thấm ướt nửa môi
thực tập làm đàn bà hai đêm
lại sống đằng đẵng như thời con gái
chín năm
mười tháng
bốn bữa
bảy giờ…
nhưng làm sao còn có thể yên ổn thanh thản nhẹ nhõm như xưa
cái thời chanh mọng cốm mềm có khi nào trở lại !
ngực bung cơm mới
đùi giật hông rung
vú nở tuột khuy
mông cồn dãn vải
khỏa thân tắm ao bèo
da thịt ngứa ran nóng rẫy dấu răng vệt môi
còn cháy bỏng mười ngón tay chồng vuốt ve xoa nắn
đêm giá lạnh
chẳng cứ gì đêm lạnh
chạm giường chiếu sởn da gà
đụng gối chăn giá ngắt
chị buông xập màn
thổi đèn tắt phụt
giật tung dải rút
dứt vỡ khuy cài…
chăn bông nặng cuộn tròn đè thân vồng căng cứng
giường lún
giường nghiêng
giường gãy
giường sập
trong mơ
mơ như thật
bủn rủn rã rời
thâm chăn
ướt chiếu…
những giấc mơ đê mê khoái lạc
nhiều công lắm tội
thăng hoa thành Súy Vân
mê dại tựa Thị Mầu…
thành cây chuối mật nghiêng ngả trong vườn
bẹ lá tươi xanh ruột âm ỷ cháy…
những người đàn bà khao khát tình yêu khát thèm ân ái
da thịt có gai có lửa
ong bay khắp dạ kiến nhằn trong xương
lan toả xạ hương
rạo rực tê mê những vùng nhạy cảm
cơ thể giao động run rẩy
căng mặt trống bỏng dây đàn
gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn
xay vài thúng thóc giã nửa nong ngô
đủ sức làm “đo ván” dăm bác thợ nề vài ông thợ mộc
nhưng trong làng ngoài xã làm gì có đàn ông
làm gì có thợ xây phó cối
kiếm đâu ra đàn ông đáng mặt đàn ông khoẻ mạnh tự do
ở lại hậu phương chỉ
những người vẹo lưng lệch vai
đầu to chân ngắn tay dài
ưa tuyên truyền thích giảng rao đạo đức
bị trói buộc bởi bao danh xưng chức phận
may mắn lọt sàng vài mống thực sự đàn ông
họ lập tức bị giành giật chiếm giữ
hồn vía đêm ngày chịu giam cầm
thân xác sớm hôm bị ngấu nghiến
có chồng hai đêm
chị chỉ là đàn bà tập sự
thi cấy ở xã thi cày trong thôn
nửa đêm vùng dậy tát nước gầu sòng
uống nước mưa mặt cũng đỏ nhừ như say rượu
tứ thời kìm nén quanh năm khát thèm
vụ chiêm lại vụ mùa
năm Mùi đến năm Thân
thực tập làm đàn bà hai đêm
đàn bà chính thức
gần mười năm thất nghiệp
khép hờ cửa buồng
lách vạt ngô già nấp bụi mía non
thịt da ngún lửa tự đốt tự thiêu
trưa ôm bao thóc
chiều ghì cột nhà
đêm quặp chăn ép gối…
III
Mười năm
mười lăm năm
hai mươi mốt năm…
vẫn chỉ sống như thời con gái
nếu chị không hư hỏng
nếu chị không phản bội
nếu chị chẳng ngoại tình
chân đê gió mát trăng thanh
ngồn ngộn rơm phơi
rạ chưa kịp bó
phát cuồng hai kẻ “gian phu dâm phụ”
quấn chặt nhau như rắn như mèo
lửa cháy không buông nước dâng chẳng bỏ
lăn lộn giẫy đạp cấu cào
gẫy đậu dập vừng chìm bèo nát cỏ
hồng hộc hơi thở hổn hển tiếng rên…
nửa đêm về sáng đồng xa bãi vắng
trong làng ngoài xã không ai hay biết
nhưng có một bóng người nước mắt rơi lã chã
những giọt lệ vô hình người sống không nhìn thấy
chồng của người đàn bà ngoại tình đã về đến quê hương
ngày đậu trên ngọn muỗm sau miếu
đêm đánh đu cành thị cổng chùa
ba năm rồi anh theo mây gió
lồng bồng trong nắng lướt thướt trong mưa…
Khúc thứ Tư: TIẾNG VIỆT
I
Học tiếng cành cây rơi
âm thanh chùm quả rụng
nước chảy mây bay vượn hót chim gù
tiếng sóng thét gào biển bão
rừng tre cọt kẹt võng đưa…
đời trước dạy đời sau
động tác ở tay chân âm thanh từ miệng
tiếng nói lời chào thay hú hét
cha mẹ dạy con
trai gái tỏ tình…
khác nhau nóng lạnh nắng mưa
thảo nguyên bao la bình nguyên bát ngát
đất đai dị biệt khí hậu bất đồng
tiếng nói con người mỗi nơi mỗi khác
không hiểu lời nói
thay bằng nhựa cây sỏi màu gạch đỏ than đen
- em thương anh
- anh yêu em
vẽ hình cá diếc vẽ hình chim công
nói bằng da thịt …
lời nói nơi này bổng trầm thơ nhạc
nơi kia lanh chanh líu ríu như chim
có lời êm nhẹ sương rơi lá rụng
có câu nặng chịch sỏi lặn cát chìm
sáo diều chín ống đàn đá sáu thanh
giọng nói mẹ ta có thơ có nhạc
thương giận sáu cung buồn vui sáu bậc :
sông
dài
nước
lặng
mảng
gỗ (Tương ứng 6 dấu trong tiếng Việt)
lênh đênh
tiếng hạc lưng trời từng giọt trong veo
trầm ấm mõ vầu giòn sênh nẩy phách
được lời cởi dạ miệng nói mắt cười
dỗi hờn chì chiết quang đứt mẹt trôi
bà ngồi nhai trầu
tay đưa võng gai miệng kể “ngày xưa…”
mẹ ta đánh khẽ giơ cao
la mắng chỉ ví von
răn dạy toàn ca dao tục ngữ:
“ương như ổi xanh nghịch như quỉ sứ
chớ ăn thùng bất chi thình
một điều nhịn là chín điều lành
vụng may sao bằng khéo vá…”
II
Hàng triệu trang giáo trình hình ảnh…
Hà Nội
in tại Cục Tác chiến
Sài Gòn
soạn thảo ở Bộ Tổng tham mưu
chỉ dẫn cặn kẽ
lô cốt mấy ngăn rào gai mấy lớp
rải thảm cánh rừng ấy bằng B.52
hủy diệt khu đồi này bằng trọng pháo…
chữ viết hoa ngang dọc thẳng hàng
đều tăm tắp như đội quân danh dự
số đen chì than chữ xanh mực nước
bay bướm
sắc sảo
ngang tàng
viết từ bàn tay tài hoa của những người có học
từng tu nghiệp ở Mỹ ở Nga
không ít người trong họ thực sự có tài
tất cả
viết bằng chữ Việt !
những tư lệnh chính ủy quân giải phóng
quân phục gabacđin cỏ úa Tô Châu
tướng lĩnh Sài Gòn bận đồ trận kaki Tếchdát
chụm đầu bàn định những kế hoạch tuyệt mật dưới hầm sâu
cách nhau vài trăm bước chân
cũng có thể cả ngàn cây số
chiến tranh
bên nào cũng muốn chiếm giữ nhiều đất giành giật nhiều dân
nhưng mục tiêu tối cao ý đồ tối thượng
- tiêu diệt thật nhiều “địch quân”
chiến tích càng lẫy lừng
nếu đối phương có thật nhiều binh lính sĩ quan bị giết !
tất cả
nói bằng tiếng Việt !
những người lính dù, biệt động
mũ bêrê áo trận rằn ri
dàn quân xông lên đồi vừa bắn vừa la:
- mồ tổ tụi bây
- hạ súng đầu hàng hay chịu chết !…
chiến sĩ giải phóng tiểu liên AK gắn lê nhọn hoắt
lựu đạn xếp chồng trước mặt
lính trẻ văng tục
- mả mẹ chúng mày
rồi hạ quyết tâm
- còn một người vẫn còn trận địa !
lời qua tiếng lại
đe dọa thách thức
giọng Bắc giọng Nam…
tất cả
nói bằng tiếng Việt!
đạn AR.15 bắn gần găm nát ngực
những người lính đội mũ tai bèo đổ gục
măng vầu gãy ngang mía non bật gốc
lời cuối cùng lọt qua cặp môi hết máu
- mẹ…ơi !…
tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi
hứng trọn những loạt AK vào đầu
chìm trong quầng lửa mìn cờlâymo chói mắt
- Trời Phật ơi !
- em ơi !
- các con ơi !
những tiếng la lạc giọng lịm dần
ằng ặc trong ồ ồ máu xối
chú lính thông tin gập lưng cõng máy bộ đàm
khuôn mặt non choèn mới hết tuổi trẻ con
ruột sổ lòng thòng kéo lê trên sỏi đá
khóc hù hụ
thều thào kêu ba gọi má !…
tất cả mọi người
nói bằng tiếng Việt !
những người dân nghèo trồng lúa khắp cù lao sông Tiền sông Hậu
đốt than đước rừng ngập mặn U Minh
nuôi tôm sú ở Năm Căn
bán mì gõ ngang cầu Ông Lãnh …
có người nhà phải đi quân dịch
vô lính cộng hoà làm dân vệ bảo an
đêm đêm vàng mã đèn nhang
mùng một ngày rằm hoa trái lên chùa
van vái cầu xin chồng con được giải ngũ
những người đàn bà thợ dệt Nhà máy Mùng tám tháng Ba
công nhân seo giấy tập chân núi Đáp Cầu
chẻ gỗ làm diêm Thống Nhất bên sông Đuống
đội than ngoài Uông Bí, Cửa Ông
cày cấy trên những cánh đồng năm tấn Lý Nhân, Tiền Hải
có chồng con ngoài mặt trận
sớm mai ngủ dậy chỉnh tề áo khăn
một lời không nói nửa miếng chưa ăn
chắp tay khấn vái cầu xin Trời Phật Tổ tiên
phù hộ độ trì người thân thoát mũi tên hòn đạn…
tất cả mọi người
nói bằng tiếng Việt !
tiếng Việt Nam tiếng mẹ tôi
Nguyễn Du viết Kiều
Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm
Cao Văn Lầu soạn Dạ cổ hoài lang
người Huế hát Nam ai Nam bằng
Phú Thọ - trống quân, hát ghẹo hát xoan
liền chị liền anh Bắc Ninh mời trầu giã bạn…
tiếng Việt
Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ làm thơ viết kịch
những đêm trăng Thanh Tước rừng bia mộ long lanh sương đọng
vẳng trong gió não lòng
khắc khoải nghẹn ngào xót đau day dứt
“Người Đàn Bà Hát” (Biệt danh của nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung)
hát Nỗi nhớ mùa đông (Phú Quang phổ thơ Thảo Phương)
chữ Việt thời chúng tôi sống
én bay ngược gió cá lội ngược sông
tiếng Việt thời chúng ta sống
hoạ mi hót trong bão giông…
Khúc thứ Năm: HÌNH NHƯ AI CŨNG KHỔ
I. NHẰN TRẤU NUỐT GẠO
Ngày ấy dòng điện còn ngủ vùi trong lưu tốc sông Xêsan sông Đà
dầu ứ đọng từ mấy triệu năm trong các địa tầng, dưới thềm lục địa
chủ Pháp cũ giám đốc Việt mới vét sạch sành sanh những vỉa than lộ thiên
ở Hồng Gai Cẩm Phả
chỉ còn than béo than non ăn ngầm dưới thăm thẳm đất sâu
những giống ngô nuốt vào bụng giấu trong búi tóc
mang về từ xứ người đã mấy trăm năm
gầy guộc thấp tè chen với cỏ gừng cỏ gấu
thóc lép mỏng nhân dày trấu
thoái hoá hai vụ chiêm mùa
thóc Ỏn gạo Dự nếp Quýt tám Xoan dẻo ngọt thơm bùi
sàng sẩy mỗi sào dăm bảy thùng
nia thừa nong thiếu
gà ri nhẹ như trái dứa
lợn ỷ lợn Mường nhỉnh hơn đon lúa
dai dẳng chiến tranh suốt đời túng đói
câu ca buồn bao đời truyền lại
“tứ thời rau muống tứ thời tương”
đình miếu thấp le te
chùa Một Cột nho nhỏ xinh xinh
gánh hát
chiếu chèo
chéo khăn mụn vải
nước lọ cơm niêu ngô đèo khoai rãi
da ếch bịt trống bầu khô làm đàn
quạt mo gối nan
tương cà gia bản “vẩy cá hơn lá rau”
chõng nứa giường tre một đời chồng vợ
râu tôm ruột bầu
xuống bể mò cua lên rừng hái bứa
ngả vại tương bần
trưa chấm sắn luộc tối trộn ngô bung
con mơ thịt vịt dầm tương
vợ thèm bánh đúc
chén mắt trâu hạt mít chồng nhấp từng giọt rượu sắn rượu khoai
chó Laika bay vào vũ trụ
người quê tôi đau bụng vẫn chỉ nuốt gừng
nhức đầu xông ngải cứu cúc tần
bong gân quệt vôi
dập xương bó lá
thầy giáo làng thu học phí bằng mẹt khoai lang
mảnh vải diềm bâu, xâu cá
mẹ chỉ đủ tiền mua dép lốp cho chị gái sang Phủ Lý học lớp ba
tôi vào lớp một
chân đất dẫm gai bồ quân
tủi thân nằm ôm chó đá cổng đình
nửa đêm mẹ ra góc vườn ngồi khóc
tháng tám dốc bồ ngày ba giáp hạt
khói chỉ bay loãng tuếch trên mái bếp cuối ngày
nửa làng ăn xin cả xóm ăn mày
trẻ trâu đói lả bẻ mía non
người lớn vặt trụi ngọn khoai lá đậu ngoài đồng
chết đuối - lặn xuống ao trộm cá
ngã gẫy chân tay - trèo cây hái mít xanh
bần hàn cố đế túng quẫn thâm căn
vay mượn truyền đời nợ nần mãn kiếp
sợ hãi ngấm thịt xương
buồn đau hoà khí huyết
thiếu ăn nên thiếu máu
ngồi xuống đứng lên choáng váng sa sẩm mặt mày
đói rỗng đầu hoa mắt run rẩy chân tay
bom đạn đi qua bão lụt đi qua xơ xác tiêu điều
đồng ruộng chiêm khê mùa thối
sân đình nước đọng à uôm ếch nhái
gạch lục lát đường cậy bán từng viên
phòng khi thất bát
giàn bếp treo mươi túm khoai lang
đáy cót lúa dăm nồi, gạo trong ang vài đấu
sắn lát nửa nong ngô tẽ lưng bồ
ăn dè xẻn khoai chiêm thắc thỏm đợi lúa mùa
cầu Trời lũ lụt đừng dâng bão dông đừng đổ !...
đeo đẳng mấy chục năm
ở Thế kỉ Hăm mốt vẫn không bỏ được thói quen
mỗi khi gặp hột thóc lẫn trong bát cơm
tôi nhằn vỏ trấu nuốt trôi hạt gạo
người đàn ông cuối cùng trong làng khoác lên mình áo lính
làng quê phố thị rặt con gái đàn bà
cõi nhân gian què quặt thê lương
đất nước có một thời hình như ai cũng khổ !
II
LÍNH NÔNG DÂN
Xứ sở lúa nước cá ruộng rau vườn
khi giặc dã lúc yên bình
sung quân tuyển lính
quốc gia trông vào lực điền tráng đinh
thưa thớt người kẻ chợ
dấu tích Chân Lạp trên những đôi tay chai sạn
chân Giao Chỉ bàn cuốc đen đúa to bè
gót chai rạn nẻ tứa máu tươi, ngón quặp ngón toè
mồ hôi dầu ướt đẫm vai u
da sần thịt bắp
chiến tranh chống ngoại xâm
binh lính hai bên khác nhau tiếng nói
chiến thư - phiên dịch
binh vận - thông ngôn
lính nông dân triều Lý đánh Tống, thời Trần chống Nguyên Mông
nghĩa quân Lam Sơn, tượng binh châu Diễn châu Hoan
chém Liễu Thăng xua Mộc Thạnh
đuổi giặc Minh về “quý quốc”
tử sĩ liệt sĩ được cúng tế hoa trái đèn hương
bình đẳng ở miếu đền trường sinh trong sử sách
những người lính Việt xả thân giết giặc nhiều như cây rừng
trả xong thù nhà nợ nước linh hồn siêu thoát nhẹ tênh
nội chiến - người Việt thắng trận huy hoàng
thảm bại cũng là người Việt Nam
lính họ Trịnh Đàng Ngoài đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong
lính Quang Trung Nguyễn Huệ chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long
người nghèo đâm chém người nghèo
nông dân giết nông dân
đuổi được giặc ngoại bang lại cắn xé nhau
huynh đệ tương tàn
đất nước chìm vào nội chiến !
lính nông phu thành thạo cuốc cày vụng về súng đạn
trứng chọi đá đá trơ trứng vỡ
trứng của Mẹ Âu Cơ chọi nhau
tan ra nước nát thành bụi thành tro
tay chém đứt chân răng nghiền nát lưỡi
những lính Việt bị giết
được tung hô ở miền này
nguyền rủa ở vùng kia !
kể từ Trịnh - Nguyễn phân tranh
bao nhiêu người Việt lại chết vì người Việt ?
có những “thời đại” khiến ta hãnh diện tự hào
ngẩng mặt đỏ bừng ngóng mặt trời bừng đỏ ở tít tịt trên cao
phấn hứng căng da nở thịt
người Việt chẳng sợ ai
chỉ sợ lẫn nhau
và sợ chính mình !
kháng chiến trường kì chiến trận liên miên
đời cha đuổi giặc chưa xong đời con đánh tiếp
đàn bà vắng chồng
không chồng - con gái
trẻ con không được sinh ra
ai cầm súng thay người tử trận ?
người Việt miền Bắc người Việt miền Nam
mấy chục năm chiến tranh
mỗi ngày bao nhiêu đạn bom mấy ngàn người chết
chết trận chết đói chết rét
chết cô đơn cô quả buồn phiền
mỗi tuần trăng khuyết trăng tròn
mỗi con nước dềnh nước cạn
hàng ngàn tráng đinh chết trận
như lá tre trong bão bay vèo
sung rụng lấp cỏ gà dạt ao bèo tấm
những người thoát chết suốt đời thương cảm
đêm rằm não lòng mùng một rưng rưng
lê thê dằng dặc mấy chục năm
Thập niên Bốn mươi
Thập niên Năm mươi
Thập kỈ Sáu mươi…
nước mắt dân Việt chảy bợt môi sạm má
máu người Việt tuôn nhão đất
xiêu cây nẻ đá
ta vượt qua những năm tháng nặng nề bi thương ấy
sự chịu đựng đáng kinh ngạc
người trong cuộc cũng không ngờ
đi qua chiến tranh
như sa cành khế
leo rễ đa
hóc xương gà
chắt lọc từ cơm cà chuối xanh rau má
máu trong mỗi thân xác người Việt nhiều nhặn gì đâu
liệu có chứa đầy vỏ qủa bầu khô đựng nước vối
người thợ cày tu cạn vẫn chưa hết khát !…
may mà Cha Rồng Mẹ Tiên xót thương
mười tám Vua Hùng lo ngại
Tứ bất tử Thánh nhân giật mình
truyền dạy con dân nước Việt biết cách kết thúc chiến tranh
để còn có người trẩy Phong Châu Giỗ Tổ tháng Ba
mở Hội Phủ Giầy dâng hương Đền Gióng
dựng tháp Báo Thiên sửa đền Bát Đế
kết đàn hoa tế Biển thả đèn lửa cầu Trời…
nhưng ta thầm đau thầm tiếc
giá Cha Lạc Mẹ Âu
mười tám Vua Hùng
tiên liệt tiền nhân
Rùa Vàng từng tặng vuốt chế nỏ Thần
Long Vương cho mượn kiếm báu để Lam Sơn tụ Nghĩa…
giúp con cháu thần dân nước Việt tránh được những thế kỉ đau thương
cứu mấy chục triệu người Việt Nam khỏi chết !
đừng để chiến tranh xảy ra
nếu nhất định phải xảy ra
không bị đẩy đến tận cùng khốc liệt
nhưng với mỗi quốc gia với từng dân tộc
lấy gì đo đếm để biết chiến tranh nào là nhanh hoà bình nào là chậm
chiến tranh nào không thể không đối mặt
chiến tranh nào có thể tránh xa
cuộc chiến nào vì nước
cuộc chiến nào thịt nấu nồi da ?
chiến tranh lùi vào dĩ vãng
ngày ngày ta tự hỏi
đêm đêm tự trả lời
những cuộc thi vấn đáp lặng lẽ trong tim trong dạ
giám khảo
thí sinh
cũng chỉ một người
đuổi chuột chạy
bình hoa rạn vỡ ?…
Khúc thứ Sáu: CHẲNG NỠ TRÁCH DÒNG SÔNG
Trịnh - Nguyễn phân tranh
sông Gianh ngót trăm năm chia đôi đất chia đôi nước
hai mươi năm
sông Hiền Lương hứng trọn nhát đao chặt lãnh thổ thành hai khúc
miền Bắc
ngoài Bắc
miền Nam
ở trong Nam !…
nếu Thạch Hãn chảy qua vùng đất khác
dân cư đã không dồn tụ về đây
sẽ không có thị xã tỉnh lị này
càng không có Cổ thành Quảng Trị
mấy triệu năm
những lạch nước chảy từ núi non gom góp nên dòng
hợp lưu thành suối thành sông
thuở ấy chưa có ma mút khủng long
càng chưa có con người
lẽ nào ta lại oán giận sông Gianh trách dòng Bến Hải
kết tội Thạch Hãn cản đường tiến quân vào Thành Cổ
thôi thì sông cứ chảy ngược trôi xuôi
cứ trải dài mở rộng như ngàn đời vẫn thế !
ta xót xa ngậm ngùi tự hỏi
sao Thành Cổ không ở cách Thạch Hãn thêm dăm bảy dặm
sao xuân hè năm Bảy hai không lặp lại những gì vẫn xảy ra
nắng nẻ đá chết cây, gió nóng quạt cạn sông khô suối
nước lũ từ thượng lưu không giận dữ đổ về
Thạch Hãn sẽ không cuồn cuộn chảy
nước ăm ắp hai bờ
để sông sâu thành nông, nước đầy hoá cạn
Thạch Hãn sông hoá Thạch Hãn cát
chẳng cần lâu lắc gì chỉ tám mốt ngày thôi
(Trận chiến giữ Thành Cổ kéo dài 81 ngày)
sẽ có mấy ngàn người lính không chết chìm chết ngạt chết trôi
những trung đoàn chỉ cần ít phút vượt qua sông cạn
không bì bõm ngụp lặn cả đêm giữa dòng nước xiết
anh ta
em ta
cha ta
chồng ta
không phải chết !
gần bốn chục năm sau
từ mặt sông Thạch Hãn có những cầu đá nhiều bậc dẫn lên bờ
từng cặp ghế nhựa ghế mây xếp dọc bờ sông kè đá
Cà phê Mi Thứ, Kem chè Dư Âm, Quán nhạc Sông Xanh…
dìu dặt đèn hoa
nhang trầm toả hương ngan ngát
những cặp trai gái nhỏ xuống bờ sông rót vào dòng nước
những giọt cà phê đầu tiên giọt rượu đầu tiên
gọi thầm người đã khuất
nghe nói đã nhiều năm Thạch Hãn chảy hiền hoà
không dâng lũ cuốn đất lở bờ
không dìm người chết đuối
mọi tội lỗi sông cao thượng nhận về mình
chỉ có dòng sông sám hối ?
“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”
năm Nhâm Tý – Bảy hai
máu binh sĩ Sài Gòn máu quân giải phóng
đỏ ngầu nước sông Thạch Hãn
ướt sũng gạch vụn Cổ Thành !.
Khúc thứ Bảy: CHẾT TRẺ
Không được gì nữa
Không mất gì nữa
Không cần gì nữa
Không sợ gì nữa
Người Chết nói thật
Hãy tin lời Người Chết !
I. LINH HỒN
Những đứa trẻ nhà quê
tóc thả trái đào
áo nâu quần cộc
ra đường cái quan túm vạt áo cha
lớn ngộc còn nhay ti mẹ
mẹ đi cấy sớm mẹ về chợ khuya lại bú tí bà
vú bầu vú mướp đã lâu không còn mùi sữa
chúng tôi ra đời từ những vùng quê heo hút
Na Hang, Xích Thổ, Bá Thước, Con Cuông
ham chơi đáo thích đánh khăng chọi cù
quanh quẩn đồng làng chăn trâu cắt cỏ
sớm học cách làm chồng làm vợ
đào ao dựng nhà
mùng ba tết được cha dạy bói chân gà
tháng sáu học ông nội xem rễ si búp đa tính mưa đoán nắng
ngày tết chơi súng diêm pháo đất
vào lính được mặc quần mới áo lành
nằm ngủ trong màn đắp chăn thay chiếu
lần đầu tập bắn đạn thật giật mình nghe tiếng nổ xé tai
những chú lính nhà quê ra trận vụng về ngờ nghệch
phía đối phương lính cũng ngơ ngác y hệt chúng tôi
trai Tháp Mười, Bù Đăng, Kinh Xáng…
cùng trang lứa
mười bảy mười chín hai mươi
bộ đội nghĩa vụ quân sự chọi nhau với lính quân dịch cộng hoà
như chia hai phe đá bóng trên cánh đồng mới gặt
cầu thủ con nhà nghèo nghiệp dư chân đất
những trận đánh dằng dai mùa Khô sang mùa Mưa
không dễ phân thắng bại
có khi may mắn tàn trận “lưới” hai bên vẫn sạch
nhiều khi “thủng lưới” trăm lần ngàn lần
mỗi bàn thắng một thân trai gục ngã
lực lượng chênh lệch càng sớm phân định thắng thua
máu quân lính hai bên ít đổ
đáng sợ là những trận đánh dằng dai cân sức cân tài
không bên nào “nhường điểm”
cáng nhau dìu nhau vào chấm mười một mét
bên thua - cả năm trái ra ngoài
chỉ cần một lần bóng bật xà lăn qua vạch cầu môn
- một bên toàn thắng !
không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
dễ như người lính nhanh như người lính nhiều như người lính
đương nhiên mặc nhiên tất nhiên hồn nhiên như lính
loạt hoả tiễn rời giàn phóng
làm nổ tung những căn hầm cố thủ
chỉ mấy phần trăm giây
những người lính chết tức khắc
không đớn đau
không hay biết
như dây điện đứt lìa
bóng đèn phụt tắt
như trứng quạ từ tháp chuông rơi xuống sân nhà nguyện
mảnh ngói nóc chùa Diên Hựu văng xuống ao sen
thân thể tử sĩ khoẻ mạnh căng đầy
sạch sẽ thơm tho hồng hào
ngồn ngộn thịt múi da săn
ván thiên long đinh nắp quan tài bật
có người máu chảy cạn
thân hình lép xẹp cá khô
lùng nhùng tấm chăn lính màu rêu
huyệt nông choèn vun mãi không đầy mộ
ngày nào chăn trâu bờ đê chơi bịt mắt trốn tìm
anh ẩn vào bụi cây nấp sau mô đất
tìm không thấy
mắt em đỏ hoe giọng em ngẹn ngào môi em méo xệch
túm được anh
em mừng như tìm thấy trâu bò đi lạc
chùm bom khoan rơi trúng dãy nhà hầm
nửa trung đội chết trong lúc ngủ
tìm các anh từ sáng đến chiều
thâu đêm suốt sáng
kẻ dọc vạch ngang bới từng hòn cuội
sàng đất sảy cát lay cây rung cành
chặn dòng suối tát bùn lọc nước
mười mấy mạng người
thịt xương gom chưa đầy mảnh võng
táng một huyệt chưa đầy
đủ mộ
nỡ nào chia !
sớm muộn trước sau những người lính cũng sẽ trở về
trên các toa tàu
xe lăn
nạng gỗ
riêng chúng tôi
khuất chìm trong hư vô không ai nhìn rõ
những người lính sống bình thường
rồi chết
chưa xấu
chưa kịp tốt
không thành ma qủy chẳng hoá thánh thần
tụ tán trên tàn cây lá cỏ
ẩn giữa giọt sương trốn trong gơn gió
không phải xuống Địa ngục chẳng được lên Thiên đường
trở về nơi mẹ cha sinh hạ nuôi ta thành người
vạt rừng hoang sơ cánh đồng phóng khoáng
trở về với con diều cuối cùng cánh võng đầu tiên
ngược chiều những đoàn quân hăm hở rùng rùng ra trận
người chết bay ra người sống đi vào
gặp em trai ngủ ngồi trong công sự
bạn chăn bò ôm súng tựa gốc cây nhai trệu trạo lương khô
có người sống những thời khắc cuối cùng
vô tâm nói cười
đang lặng lẽ bước vào cõi chết
chỉ người cõi Âm chúng tôi mới biết
mẹ thét lạc giọng kinh hoàng
nhìn ta tóc rối xoã vai
thân hình trong veo xanh lè như lá
cha gặp con trai trong cơn mộng mị
ta ngồi ôm chân giường khóc thầm
rồi lặng lẽ bay đi…
người trong làng ngoài phố nửa tin nửa nghi
thấy lảng vảng trong sương nghe lào thào trong gió
thoắt gần thoắt xa khi khóc lúc cười
trâu già nhận ra cậu chủ chăn dắt bao năm
cổ nghẹn cỏ rơm gõ sừng dậm chân
cặp mắt chén tống rưng rưng nước đục
khôn ngoan nghĩa tình chó Mực
rên ư ử gừ gừ trong họng
cụp tai sợ hãi ve vẩy đuôi mừng
không nhảy lên ngửi tay liếm mặt
cũng chẳng nỡ nhí nhách cắn ma
chúng tôi vô hình vô ảnh
bay ngang bàn thờ ngồi trên nóc tủ
”véo” sôi gấc mẹ đồ “nhón” thịt vịt cha đơm
ngồi bông bênh trên khói bếp em gái ghế cơm
bay lượn quanh nhà
nấp sau cánh hoa lan hoa huệ
đốm lửa đầu nén nhang cháy bùng
di ảnh trên bàn thờ mắt long lanh ướt
chúng tôi trở về
lượn lờ ở cổng đình rụt rè quanh đền miếu
ma làng
nguời cùng xóm chết già
tổ tiên nội ngoại
chỉ loáng thoáng mấy người chết trẻ
đón tiếp ma mới chúng tôi mười chín hai mươi
chia rượu ngô vài hơi thuốc lào dăm điếu
nghe nói sau khi chết người ta thành gió
không hướng không chiều
nghe nói chết rồi con người thành cỏ
cỏ mọc lan man cỏ bám vật vờ
nghe nói chết đi thịt xương hoá bụi
bụi bay lang thang bụi cuốn bơ vơ…
vừa mới hóa thân từ kiếp người
- bụi lơ lửng trên cao
sắp được đầu thai làm người
- bụi bay là ngọn cỏ
ơi những hạt bụi tiền nhân tiền kiếp
lại phải luân hồi
sắp được đầu thai
đang là bố là mẹ là vợ là chồng
lại hoá gió lang thang cỏ xanh bụi hồng
không còn yêu thương không còn giận dữ
tiếc nuối người đi đau lòng người ở
nhưng nếu còn được làm bụi làm cỏ
cái chết với ta cũng nhẹ đôi phần
ừ thì chết nhưng không hủy diệt
dẫu là mất cũng không mất hết !
thực hư nào hay
đi trên cỏ chợt thấy run chân
hạt Bụi - Ai cay xót mắt mình
người thợ chẳng vô tình
đời trước dạy đời sau
để lại khe hở cho gió lọt trên mái nhà
vào ra quanh khung cửa…
nuối tiếc xót đau
linh hồn thét gào thành giông thành gió…
II. XƯƠNG CỐT
Mỗi năm chúng tôi chỉ được về quê quán một lần
trong Lễ Xá tội vong nhân Rằm tháng Bảy
trước gà gáy canh ba
linh hổn[ì nhà mẹ cha
trở lại với cây với đá
nơi ấy mồ hoang mới thực nhà mình
xương cốt ở đâu linh hồn về đó
mộ phần thất lạc linh hồn lang thang…
xương cốt chúng tôi
khỉ đầu đàn bọc lá chuối rừng thờ ở góc hang
lẫn vào cát chìm trong suối
hóa ụ kiến vàng gò mối
huyệt khoét bằng lưỡi xẻng cá nhân nhỉnh hơn bàn tay
võng dù làm vải liệm mảnh nilông thay quan tài
mấy chục năm trời
rễ cây rừng hoang tham lam hút kiệt
trăm người chết tìm được vài huyệt mộ
lẫn giữa đất đỏ lá rừng có đám mùn đen
lẽ nào đó lại là tất cả những gì còn lại
của anh ta em ta bạn ta đồng môn đồng tuế !
trận địa năm xưa đã lút giữa đại ngàn
rễ cỏ tranh xuyên vào hốc mắt
đá đè vỡ xương đầu dập nát xương chân
cây che phủ nắng không lọt tới
đồng đội chôn vội chúng tôi giữa hai trận đánh
giặc vây chặt cánh rừng
đạn xuyên trước mặt pháo cày sau lưng
những Nghĩa - Địa - Hoang chìm lấp dưới rừng
đồng đội ngày ấy về đâu ở đâu
nhiều người đã già lắm người đã chết
rừng cây đổi dạng núi đá thay hình
mồ hoang đã lâu không còn dấu vết…
những người khiêng cáng thương binh
trúng đạn chết dần trên đường về hậu cứ
người sốt ác tính sống lâu hơn người khoẻ
nằm mươi ngày nửa tháng trên võng vải lủng lẳng đòn tre
cái chết đến không vội vàng
dịu nhẹ khẽ khàng
chết nhiều khi không hiểu tại sao
chảy hết máu hay vì đói khát
chết mà không biết chết lúc nào
cây rừng lớn thêm dâng võng lên cao
thịt rữa nát - võng dù còn bền chắc
võng rung cùng cây võng chao theo gió
xương đen - nắng nỏ
cốt trắng - gội mưa…
(còn tiếp)
Nguồn: Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn. Nhà xuất bản Văn học, 2009.
www.trieuxuan.info |