Tản văn
25.07.2011
Nguyễn Thái Sơn
Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm (2)

NGOẠI TÌNH


I


Đêm đêm


ngày ngày


những người lính trăn trở quẫy đạp


đứt dây


          rách toạc


                        bao cánh võng đơn võng đôi


ướt nhẹp những đám kiến nâu kiến gió…


ở bao miền quê


hàng triệu cô gái tươi tắn ngoan hiền


giật mình hốt hoảng lo sợ


                             - lần “có tội” đầu tiên


       (Người ở nông thôn miền Bắc gọi hiện tượng kinh nguyệt là “có tội”)


 


những người đàn bà rất mực Đàn Bà


ba mươi hai tuổi bốn mươi mốt tuổi


vú căng bưởi đào quệt vôi đợi Tết 


mông đùi đàn bà rừng rực đống rấm cháy lụi gộc tre …         


từng tế bào trong xương chuyển hóa


mùa xuân thứ hai của phận đàn bà


chồng còn sống mà như vợ góa


hồi xuân


tái xuân


da thịt nà nuột tươi nhuần


nhấm nháp ngốn ngấu chính mình


những người đàn bà sung mãn


đêm uống “nước sông” ngày ăn “cơm nhạt”


 


hồi xuân


tái xuân


bữa tiệc cuối của phận đàn bà


cơm canh chẳng người đụng đũa


xôi khô chè vữa


những cô dì thím mợ trong họ ngoài làng


cơm độn sắn khoai ăn còn lửng dạ


dáng vóc phổng phao chân tay chắc nịch


nhạt mùi chồng 


quên hơi hướng đàn ông             


 


“ruộng đồng của ta  thẳng cánh cò bay        


chồng cày vợ cấy thỏa chí từ nay…” (Trích lời một ca khúc)


ruộng đồng ngày càng dài rộng


vẫn như ngàn năm con trâu đi bừa


vẫn thế - muôn đời vợ cấy


câu ca dao xa xưa hóa thành hoài niệm


   (Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa - ca dao) 


những người đàn bà cày ngầm ruộng chiêm


nước lút đuôi trâu


nước ngập bụng em                                  


                       loang đỏ !...


 (Máu do đỉa cắn, do vấp chân vào gốc rạ, lưỡi cày, cũng có thể do đang “có tội”)


 


cò đậu ngọn cong vạc bám cành mềm


quanh năm lầm lụi bới khoai mót lúa


 “từ ngày anh đi việc đồng em giỏi dang”


ruộng cấy chăng dây cấy lúa thẳng hàng” (Trích lời một ca khúc)


 


II


Lợn tơ động đực bỏ cám phá chuồng


xệ lườn vịt bầu ướt mào gà mái


trâu nái cà lưng bóng nhờn cành duối


bò sữa cọ hông nhẵn thín gốc si


dửng dưng nhìn cỏ mật lá mía bẹ ngô …


gặp gỡ


         làm quen


                       yêu


                             cưới “tập đoàn”


                                           chỉ có mấy ngày trời  


người ra trận hẹn về người hậu phương hứa đợi   


mười chín năm con gái


làm đàn bà hai đêm


biết dăm ba điều vừa lạ vừa quen


còn bao chuyện hay ho chưa biết


khế chín dở ngập răng vài miếng


rượu nếp cái hoa vàng thấm ướt nửa môi


thực tập làm đàn bà hai đêm


lại sống đằng đẵng như thời con gái


chín năm


           mười tháng


                      bốn bữa


                                   bảy giờ…


nhưng làm sao còn có thể yên ổn thanh thản nhẹ nhõm như xưa


cái thời chanh mọng cốm mềm có khi nào trở lại !


ngực bung cơm mới


đùi giật hông rung


vú nở tuột khuy


mông cồn dãn vải


khỏa thân tắm ao bèo


da thịt ngứa ran nóng rẫy dấu răng vệt môi


còn cháy bỏng mười ngón tay chồng vuốt ve xoa nắn


 


đêm giá lạnh


              chẳng cứ gì đêm lạnh


chạm giường chiếu sởn da gà


đụng gối chăn giá ngắt


chị buông xập màn


                  thổi đèn tắt phụt


                       giật tung dải rút


                                     dứt vỡ khuy cài…


chăn bông nặng cuộn tròn đè thân vồng căng cứng


giường lún


          giường nghiêng


                       giường gãy


                               giường sập


                                            trong mơ


mơ như thật


            bủn rủn rã rời


                          thâm chăn


                                        ướt chiếu…


 


những giấc mơ đê mê khoái lạc


                                  nhiều công lắm tội


thăng hoa thành Súy Vân


mê dại tựa Thị Mầu…


thành cây chuối mật nghiêng ngả trong vườn


bẹ lá tươi xanh ruột âm ỷ cháy…


những người đàn bà khao khát tình yêu khát thèm ân ái   


da thịt có gai có lửa   


ong bay khắp dạ kiến nhằn trong xương 


lan toả xạ hương


rạo rực tê mê những vùng nhạy cảm


cơ thể giao động run rẩy


căng mặt trống bỏng dây đàn


 


gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn


xay vài thúng thóc giã nửa nong ngô


đủ sức làm “đo ván” dăm bác thợ nề vài ông thợ mộc


nhưng trong làng ngoài xã làm gì có đàn ông


làm gì có thợ xây phó cối  


kiếm đâu ra đàn ông đáng mặt đàn ông khoẻ mạnh tự do


 


ở lại hậu phương chỉ


                    những người vẹo lưng lệch vai


đầu to chân ngắn tay dài


ưa tuyên truyền thích giảng rao đạo đức


bị trói buộc bởi bao danh xưng chức phận


may mắn lọt sàng vài mống thực sự đàn ông


họ lập tức bị giành giật chiếm giữ


hồn vía đêm ngày chịu giam cầm


thân xác sớm hôm bị ngấu nghiến


 


có chồng hai đêm


chị chỉ là đàn bà tập sự


thi cấy ở xã thi cày trong thôn


nửa đêm vùng dậy tát nước gầu sòng


uống nước mưa mặt cũng đỏ nhừ như say rượu                     


tứ thời kìm nén quanh năm khát thèm


vụ chiêm lại vụ mùa


năm Mùi đến năm Thân


thực tập làm đàn bà hai đêm


đàn bà chính thức


               gần mười năm thất nghiệp


 


khép hờ cửa buồng


lách vạt ngô già nấp bụi mía non


thịt da ngún lửa tự đốt tự thiêu


trưa ôm bao thóc


          chiều ghì cột nhà


                              đêm quặp chăn ép gối… 


 


III    


Mười năm


           mười lăm năm


                          hai mươi mốt năm… 


vẫn chỉ sống như thời con gái


nếu chị không hư hỏng


nếu chị không phản bội


nếu chị chẳng ngoại tình


                              


chân đê gió mát trăng thanh


ngồn ngộn rơm phơi


rạ chưa kịp bó


phát cuồng hai kẻ “gian phu dâm phụ”


quấn chặt nhau như rắn như mèo


lửa cháy không buông nước dâng chẳng bỏ


lăn lộn giẫy đạp cấu cào


gẫy đậu dập vừng chìm bèo nát cỏ


hồng hộc hơi thở hổn hển tiếng rên…


 


 


 


nửa đêm về sáng đồng xa bãi vắng 


trong làng ngoài xã không ai hay biết


nhưng có một bóng người nước mắt rơi lã chã


những giọt lệ vô hình người sống không nhìn thấy


chồng của người đàn bà ngoại tình đã về đến quê hương


ngày đậu trên ngọn muỗm sau miếu


đêm đánh đu cành thị cổng chùa 


ba năm rồi anh theo mây gió


lồng bồng trong nắng lướt thướt trong mưa…


Khúc thứ Tư: TIẾNG VIỆT


I


Học tiếng cành cây rơi


âm thanh chùm quả rụng


nước chảy mây bay vượn hót chim gù


tiếng sóng thét gào biển bão


rừng tre cọt kẹt võng đưa…


đời trước dạy đời sau


động tác ở tay chân âm thanh từ miệng


tiếng nói lời chào thay hú hét


cha mẹ dạy con


trai gái tỏ tình…


 


khác nhau nóng lạnh nắng mưa


thảo nguyên bao la bình nguyên bát ngát


đất đai dị biệt khí hậu bất đồng        


tiếng nói con người mỗi nơi mỗi khác


không hiểu lời nói


thay bằng nhựa cây sỏi màu gạch đỏ than đen


- em thương anh


- anh yêu em


vẽ hình cá diếc vẽ hình chim công


nói bằng da thịt …


lời nói nơi này bổng trầm thơ nhạc


nơi kia lanh chanh líu ríu như chim 


có lời êm nhẹ sương rơi lá rụng 


có câu nặng chịch sỏi lặn cát chìm


 


sáo diều chín ống đàn đá sáu thanh


giọng nói mẹ ta có thơ có nhạc


thương giận sáu cung buồn vui sáu bậc :


sông


  dài


     nước


       lặng


          mảng


                  gỗ       (Tương ứng 6 dấu trong tiếng Việt)


                      lênh đênh


 


tiếng hạc lưng trời từng giọt trong veo


trầm ấm mõ vầu giòn sênh nẩy phách


được lời cởi dạ miệng nói mắt cười


dỗi hờn chì chiết quang đứt mẹt trôi


                         


bà ngồi nhai trầu


tay đưa võng gai miệng kể “ngày xưa…”


mẹ ta đánh khẽ giơ cao


la mắng chỉ ví von


răn dạy toàn ca dao tục ngữ:


“ương như ổi xanh nghịch như quỉ sứ


chớ ăn thùng bất chi thình


một điều nhịn là chín điều lành


vụng may sao bằng khéo vá…” 


 


II


Hàng triệu trang giáo trình hình ảnh…


Hà Nội


            in tại Cục Tác chiến


Sài Gòn


            soạn thảo ở Bộ Tổng tham mưu


chỉ dẫn cặn kẽ


              lô cốt mấy ngăn rào gai mấy lớp


rải thảm cánh rừng ấy bằng B.52


hủy diệt khu đồi này bằng trọng pháo…


chữ viết hoa ngang dọc thẳng hàng 


đều tăm tắp như đội quân danh dự


số đen chì than chữ xanh mực nước


bay bướm


sắc sảo


ngang tàng


viết từ bàn tay tài hoa của những người có học


từng tu nghiệp ở Mỹ ở Nga


không ít người trong họ thực sự có tài


 


tất cả


viết  bằng chữ Việt !


những tư lệnh chính ủy quân giải phóng


quân phục gabacđin cỏ úa Tô Châu


tướng lĩnh Sài Gòn bận đồ trận kaki Tếchdát  


chụm đầu bàn định những kế hoạch tuyệt mật dưới hầm sâu


cách nhau vài trăm bước chân


cũng có thể cả ngàn cây số


chiến tranh


bên nào cũng muốn chiếm giữ nhiều đất giành giật nhiều dân


nhưng mục tiêu tối cao ý đồ tối thượng


                                  - tiêu diệt thật nhiều “địch quân”


chiến tích càng lẫy lừng


nếu đối phương có thật nhiều binh lính sĩ quan bị giết !


tất cả


nói bằng tiếng Việt !


        


những người lính dù, biệt động


mũ bêrê áo trận rằn ri


dàn quân xông lên đồi vừa bắn vừa la:                


 - mồ tổ tụi bây                                       


 - hạ súng đầu hàng hay chịu chết !…


chiến sĩ giải phóng tiểu liên AK gắn lê nhọn hoắt


lựu đạn xếp chồng trước mặt


lính trẻ văng tục


               - mả mẹ chúng mày     


rồi hạ quyết tâm


                      - còn một người vẫn còn trận địa !


lời qua tiếng lại


                đe dọa thách thức


                      giọng Bắc giọng Nam…                                               


tất cả


nói bằng tiếng Việt!


       


đạn AR.15 bắn gần găm nát ngực


những người lính đội mũ tai bèo đổ gục


măng vầu gãy ngang mía non bật gốc


lời cuối cùng lọt qua cặp môi hết máu


 - mẹ…ơi !…


tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi


hứng trọn những loạt AK vào đầu


chìm trong quầng lửa mìn cờlâymo chói mắt


- Trời Phật ơi !


- em ơi !


- các con ơi !


những tiếng la lạc giọng lịm dần


ằng ặc trong ồ ồ máu xối


chú lính thông tin gập lưng cõng máy bộ đàm


khuôn mặt non choèn mới hết tuổi trẻ con


ruột sổ lòng thòng kéo lê trên sỏi đá


khóc hù hụ


thều thào kêu ba gọi má !…


 


tất cả mọi người


nói bằng tiếng Việt !


 


những người dân nghèo trồng lúa khắp cù lao sông Tiền sông Hậu


đốt than đước rừng ngập mặn U Minh


nuôi tôm sú ở Năm Căn  


bán mì gõ ngang cầu Ông Lãnh …


có người nhà phải đi quân dịch


vô lính cộng hoà làm dân vệ bảo an 


đêm đêm vàng mã đèn nhang


mùng một ngày rằm hoa trái lên chùa


van vái cầu xin chồng con được giải ngũ


những người đàn bà thợ dệt Nhà máy Mùng tám tháng Ba


công nhân seo giấy tập chân núi Đáp Cầu


chẻ gỗ làm diêm Thống Nhất bên sông Đuống


đội than ngoài Uông Bí, Cửa Ông


cày cấy trên những cánh đồng năm tấn Lý Nhân, Tiền Hải


có chồng con ngoài mặt trận                    


sớm mai ngủ dậy chỉnh tề áo khăn                                 


một lời không nói nửa miếng chưa ăn


chắp tay khấn vái cầu xin Trời Phật Tổ tiên


phù hộ độ trì người thân thoát mũi tên hòn đạn…


tất cả mọi người


nói bằng tiếng Việt !     


 


tiếng Việt Nam tiếng mẹ tôi


Nguyễn Du viết Kiều


Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm


Cao Văn Lầu soạn Dạ cổ hoài lang


người Huế hát Nam ai Nam bằng


Phú Thọ - trống quân, hát ghẹo hát xoan


liền chị liền anh Bắc Ninh mời trầu giã bạn…


tiếng Việt 


Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ làm thơ viết kịch


những đêm trăng Thanh Tước rừng bia mộ long lanh sương đọng


vẳng trong gió não lòng


khắc khoải nghẹn ngào xót đau day dứt


“Người Đàn Bà Hát” (Biệt danh của nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung)


                   hát Nỗi nhớ mùa đông (Phú Quang phổ thơ Thảo Phương)


 


chữ  Việt thời chúng tôi sống


én bay ngược gió cá lội ngược sông              


tiếng Việt thời chúng ta sống


hoạ mi hót trong bão giông…


 


Khúc thứ Năm: HÌNH NHƯ AI CŨNG KHỔ


I. NHẰN TRẤU NUỐT GẠO


Ngày ấy dòng điện còn ngủ vùi trong lưu tốc sông Xêsan sông Đà


dầu ứ đọng từ mấy triệu năm trong các địa tầng, dưới thềm lục địa


chủ Pháp cũ giám đốc Việt mới vét sạch sành sanh những vỉa than lộ thiên


                                                                                                   ở Hồng Gai Cẩm Phả


chỉ còn than béo than non ăn ngầm dưới thăm thẳm đất sâu


 


những giống ngô nuốt vào bụng giấu trong búi tóc


mang về từ xứ người đã mấy trăm năm


gầy guộc thấp tè chen với cỏ gừng cỏ gấu


thóc lép mỏng nhân dày trấu


thoái hoá hai vụ chiêm mùa


thóc Ỏn gạo Dự nếp Quýt tám Xoan dẻo ngọt thơm bùi


sàng sẩy mỗi sào dăm bảy thùng


                                             nia thừa nong thiếu


gà ri nhẹ như trái dứa


lợn ỷ lợn Mường nhỉnh hơn đon lúa


 


dai dẳng chiến tranh suốt đời túng đói


câu ca buồn bao đời truyền lại


“tứ thời rau muống tứ thời tương”


đình miếu thấp le te


chùa Một Cột nho nhỏ xinh xinh


gánh hát


chiếu chèo


chéo khăn mụn vải


nước lọ cơm niêu ngô đèo khoai rãi


da ếch bịt trống bầu khô làm đàn


quạt mo gối nan


tương cà gia bản “vẩy cá hơn lá rau”


chõng nứa giường tre một đời chồng vợ


râu tôm ruột bầu


xuống bể mò cua lên rừng hái bứa


ngả vại tương bần


trưa chấm sắn luộc tối trộn ngô bung


con mơ thịt vịt dầm tương


vợ thèm bánh đúc      


chén mắt trâu hạt mít chồng nhấp từng giọt rượu sắn rượu khoai


 


chó Laika bay vào vũ trụ


người quê tôi đau bụng vẫn chỉ nuốt gừng


nhức đầu xông ngải cứu cúc tần


bong gân quệt vôi


dập xương bó lá


thầy giáo làng thu học phí bằng mẹt khoai lang


                                                        mảnh vải diềm bâu, xâu cá


mẹ chỉ đủ tiền mua dép lốp cho chị gái sang Phủ Lý học lớp ba


tôi vào lớp một


chân đất dẫm gai bồ quân


tủi thân nằm ôm chó đá cổng đình


nửa đêm mẹ ra góc vườn ngồi khóc


 


tháng tám dốc bồ ngày ba giáp hạt


khói chỉ bay loãng tuếch trên mái bếp cuối ngày


nửa làng ăn xin cả xóm ăn mày


trẻ trâu đói lả bẻ mía non


người lớn vặt trụi ngọn khoai lá đậu ngoài đồng


chết đuối - lặn xuống ao trộm cá   


ngã gẫy chân tay - trèo cây hái mít xanh


bần hàn cố đế túng quẫn thâm căn


vay mượn truyền đời nợ nần mãn kiếp


sợ hãi ngấm thịt xương


buồn đau hoà khí huyết


                                   


thiếu ăn nên thiếu máu                                


ngồi xuống đứng lên choáng váng sa sẩm mặt mày


đói rỗng đầu hoa mắt run rẩy chân tay


bom đạn đi qua bão lụt đi qua xơ xác tiêu điều


đồng ruộng chiêm khê mùa thối


sân đình nước đọng à uôm ếch nhái


gạch lục lát đường cậy bán từng viên


phòng khi thất bát


giàn bếp treo mươi túm khoai lang


đáy cót lúa dăm nồi, gạo trong ang vài đấu


sắn lát nửa nong ngô tẽ lưng bồ


ăn dè xẻn khoai chiêm thắc thỏm đợi lúa mùa


cầu Trời lũ lụt đừng dâng bão dông đừng đổ !...


 


đeo đẳng mấy chục năm


ở Thế kỉ Hăm mốt vẫn không bỏ được thói quen


mỗi khi gặp hột thóc lẫn trong bát cơm


tôi nhằn vỏ trấu nuốt trôi hạt gạo


người đàn ông cuối cùng trong làng khoác lên mình áo lính 


làng quê phố thị rặt con gái đàn bà


cõi nhân gian què quặt thê lương


đất nước có một thời hình như ai cũng khổ !


 


II


LÍNH NÔNG DÂN


 


Xứ sở lúa nước cá ruộng rau vườn


khi giặc dã lúc yên bình


sung quân tuyển lính


quốc gia trông vào lực điền tráng đinh


thưa thớt người kẻ chợ


 


dấu tích Chân Lạp trên những đôi tay chai sạn


chân Giao Chỉ bàn cuốc đen đúa to bè


gót chai rạn nẻ tứa máu tươi, ngón quặp ngón toè


mồ hôi dầu ướt đẫm vai u


da sần thịt bắp


 


chiến tranh chống ngoại xâm


binh lính hai bên khác nhau tiếng nói


chiến thư - phiên dịch


binh vận - thông ngôn


lính nông dân triều Lý đánh Tống, thời Trần chống Nguyên Mông


nghĩa quân Lam Sơn, tượng binh châu Diễn châu Hoan


chém Liễu Thăng xua Mộc Thạnh


đuổi giặc Minh về  “quý quốc”


tử sĩ liệt sĩ được cúng tế hoa trái đèn hương


bình đẳng ở miếu đền trường sinh trong sử sách


những người lính Việt xả thân giết giặc nhiều như cây rừng 


trả xong thù nhà nợ nước linh hồn siêu thoát nhẹ tênh


nội chiến - người Việt thắng trận huy hoàng


thảm bại cũng là người Việt Nam


lính họ Trịnh Đàng Ngoài đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong


lính Quang Trung Nguyễn Huệ chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long


người nghèo đâm chém người nghèo


nông dân giết nông dân


đuổi được giặc ngoại bang lại cắn xé nhau


huynh đệ tương tàn


đất nước chìm vào nội chiến !


 


lính nông phu thành thạo cuốc cày vụng về súng đạn


trứng chọi đá đá trơ trứng vỡ


trứng của Mẹ Âu Cơ chọi nhau


tan ra nước nát thành bụi thành tro


tay chém đứt chân răng nghiền nát lưỡi


những lính Việt bị giết


được tung hô ở miền này


nguyền rủa ở vùng kia !


kể từ Trịnh - Nguyễn phân tranh


bao nhiêu người Việt lại chết vì người Việt ?


 


có những “thời đại” khiến ta hãnh diện tự hào


ngẩng mặt đỏ bừng ngóng mặt trời bừng đỏ ở tít tịt trên cao


phấn hứng căng da nở thịt


người Việt chẳng sợ ai


chỉ sợ lẫn nhau


và sợ chính mình !


kháng chiến trường kì chiến trận liên miên


đời cha đuổi giặc chưa xong đời con đánh tiếp


đàn bà vắng chồng


không chồng - con gái  


trẻ con không được sinh ra


ai cầm súng thay người tử trận ?


 


người Việt miền Bắc người Việt miền Nam


mấy chục năm chiến tranh


mỗi ngày bao nhiêu đạn bom mấy ngàn người chết


chết trận chết đói chết rét


chết cô đơn cô quả buồn phiền


mỗi tuần trăng khuyết trăng tròn


mỗi con nước dềnh nước cạn


hàng ngàn tráng đinh chết trận


như lá tre trong bão bay vèo


sung rụng lấp cỏ gà dạt ao bèo tấm


những người thoát chết suốt đời thương cảm


đêm rằm não lòng mùng một rưng rưng


 


lê thê dằng dặc mấy chục năm


Thập niên Bốn mươi


Thập niên Năm mươi


Thập kỈ Sáu mươi…


nước mắt dân Việt chảy bợt môi sạm má


máu người Việt tuôn nhão đất


                                      xiêu cây nẻ đá


ta vượt qua những năm tháng nặng nề bi thương ấy


sự chịu đựng đáng kinh ngạc


người trong cuộc cũng không ngờ


đi qua chiến tranh


như sa cành khế


                    leo rễ đa


                            hóc xương gà


chắt lọc từ cơm cà chuối xanh rau má


máu trong mỗi thân xác người Việt nhiều nhặn gì đâu 


liệu có chứa đầy vỏ qủa bầu khô đựng nước vối


                          người thợ cày tu cạn vẫn chưa hết khát !…


may mà Cha Rồng Mẹ Tiên xót thương


mười tám Vua Hùng lo ngại


Tứ bất tử Thánh nhân giật mình


truyền dạy con dân nước Việt biết cách kết thúc chiến tranh


để còn có người trẩy Phong Châu Giỗ Tổ tháng Ba


mở Hội Phủ Giầy dâng hương Đền Gióng


dựng tháp Báo Thiên sửa đền Bát Đế


kết đàn hoa tế Biển thả đèn lửa cầu Trời…


nhưng ta thầm đau thầm tiếc


giá Cha Lạc Mẹ Âu


mười tám Vua Hùng


tiên liệt tiền nhân


Rùa Vàng từng tặng vuốt chế nỏ Thần


Long Vương cho mượn kiếm báu để Lam Sơn tụ Nghĩa…


giúp con cháu thần dân nước Việt tránh được những thế kỉ đau thương


cứu mấy chục triệu người Việt Nam khỏi chết ! 


đừng để chiến tranh xảy ra


nếu nhất định phải xảy ra


không bị đẩy đến tận cùng khốc liệt


nhưng với mỗi quốc gia với từng dân tộc


lấy gì đo đếm để biết chiến tranh nào là nhanh hoà bình nào là chậm


chiến tranh nào không thể không đối mặt


chiến tranh nào có thể tránh xa


cuộc chiến nào vì nước 


cuộc chiến nào thịt nấu nồi da ?


chiến tranh lùi vào dĩ vãng


ngày ngày ta tự hỏi


                     đêm đêm tự trả lời 


những cuộc thi vấn đáp lặng lẽ trong tim trong dạ


giám khảo


           thí sinh


                cũng chỉ một người


 


đuổi chuột chạy  


bình hoa rạn vỡ ?…


Khúc thứ Sáu: CHẲNG NỠ TRÁCH DÒNG SÔNG


Trịnh - Nguyễn phân tranh


sông Gianh ngót trăm năm chia đôi đất chia đôi nước


hai mươi năm


sông Hiền Lương hứng trọn nhát đao chặt lãnh thổ thành hai khúc


miền Bắc


           ngoài Bắc


miền Nam


             ở trong Nam !…


 


nếu Thạch Hãn chảy qua vùng đất khác


dân cư đã không dồn tụ về đây


sẽ không có thị xã tỉnh lị này


càng không có Cổ thành Quảng Trị


mấy triệu năm


những lạch nước chảy từ núi non gom góp nên dòng


hợp lưu thành suối thành sông


thuở ấy chưa có ma mút khủng long


càng chưa có con người


lẽ nào ta lại oán giận sông Gianh trách dòng Bến Hải


kết tội Thạch Hãn cản đường tiến quân vào Thành Cổ


thôi thì sông cứ chảy ngược trôi xuôi


cứ trải dài mở rộng như ngàn đời vẫn thế !


 


ta xót xa ngậm ngùi tự hỏi


sao Thành Cổ không ở cách Thạch Hãn thêm dăm bảy dặm


sao xuân hè năm Bảy hai không lặp lại những gì vẫn xảy ra


nắng nẻ đá chết cây, gió nóng quạt cạn sông khô suối


nước lũ từ thượng lưu không giận dữ đổ về


Thạch Hãn sẽ không cuồn cuộn chảy


                                        nước ăm ắp hai bờ


để sông sâu thành nông, nước đầy hoá cạn


Thạch Hãn sông hoá Thạch Hãn cát


chẳng cần lâu lắc gì chỉ tám mốt ngày thôi


                                                 (Trận chiến giữ Thành Cổ kéo dài 81 ngày)


sẽ có mấy ngàn người lính không chết chìm chết ngạt chết trôi


những trung đoàn chỉ cần ít phút vượt qua sông cạn


không bì bõm ngụp lặn cả đêm giữa dòng nước xiết 


anh ta


         em ta


                cha ta


                        chồng ta


                                không phải chết ! 


 


gần bốn chục năm sau


từ mặt sông Thạch Hãn có những cầu đá nhiều bậc dẫn lên bờ 


từng cặp ghế nhựa ghế mây xếp dọc bờ sông kè đá


Cà phê Mi Thứ, Kem chè Dư Âm, Quán nhạc Sông Xanh…


dìu dặt đèn hoa


nhang trầm toả hương ngan ngát


những cặp trai gái nhỏ xuống bờ sông rót vào dòng nước


những giọt cà phê đầu tiên giọt rượu đầu tiên


gọi thầm người đã khuất


 


nghe nói đã nhiều năm Thạch Hãn chảy hiền hoà 


không dâng lũ cuốn đất lở bờ


không dìm người chết đuối


mọi tội lỗi sông cao thượng nhận về mình


chỉ có dòng sông sám hối ?


 


“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”


năm Nhâm Tý – Bảy hai                              


máu binh sĩ Sài Gòn máu quân giải phóng


đỏ ngầu nước sông Thạch Hãn


ướt sũng gạch vụn Cổ Thành !.


 


Khúc thứ Bảy: CHẾT TRẺ


Không được gì nữa


Không mất gì nữa


Không cần gì nữa


Không sợ gì nữa


Người Chết nói thật


Hãy tin lời Người Chết !


I. LINH HỒN


Những đứa trẻ nhà quê


tóc thả trái đào


áo nâu quần cộc


ra đường cái quan túm vạt áo cha


lớn ngộc còn nhay ti mẹ


mẹ đi cấy sớm mẹ về chợ khuya lại bú tí bà


vú bầu vú mướp đã lâu không còn mùi sữa


chúng tôi ra đời từ những vùng quê heo hút


Na Hang, Xích Thổ, Bá Thước, Con Cuông 


ham chơi đáo thích đánh khăng chọi cù


quanh quẩn đồng làng chăn trâu cắt cỏ


sớm học cách làm chồng làm vợ


đào ao dựng nhà


mùng ba tết được cha dạy bói chân gà


tháng sáu học ông nội xem rễ si búp đa tính mưa đoán nắng


ngày tết chơi súng diêm pháo đất


vào lính được mặc quần mới áo lành


nằm ngủ trong màn đắp chăn thay chiếu


lần đầu tập bắn đạn thật giật mình nghe tiếng nổ xé tai


những chú lính nhà quê ra trận vụng về ngờ nghệch


phía đối phương lính cũng ngơ ngác y hệt chúng tôi           


trai Tháp Mười, Bù Đăng, Kinh Xáng…


cùng trang lứa


                 mười bảy mười chín hai mươi


bộ đội nghĩa vụ quân sự chọi nhau với lính quân dịch cộng hoà


như chia hai phe đá bóng trên cánh đồng mới gặt 


cầu thủ con nhà nghèo nghiệp dư chân đất


                                                           


những trận đánh dằng dai mùa Khô sang mùa Mưa


                                          không dễ phân thắng bại


có khi may mắn tàn trận “lưới” hai bên vẫn sạch


nhiều khi “thủng lưới” trăm lần ngàn lần


mỗi bàn thắng một thân trai gục ngã


 


lực lượng chênh lệch càng sớm phân định thắng thua


máu quân lính hai bên ít đổ                                                        


đáng sợ là những trận đánh dằng dai cân sức cân tài


không bên nào “nhường điểm”               


cáng nhau dìu nhau vào chấm mười một mét


bên thua - cả năm trái ra ngoài


chỉ cần một lần bóng bật xà lăn qua vạch cầu môn


                                                   - một bên toàn thắng !


 


không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử


dễ như người lính nhanh như người lính nhiều như người lính


đương nhiên mặc nhiên tất nhiên hồn nhiên như lính


 


loạt hoả tiễn rời giàn phóng   


làm nổ tung những căn hầm cố thủ


                                    chỉ mấy phần trăm giây 


những người lính chết tức khắc


                                    không đớn đau


                                                  không hay biết


như dây điện đứt lìa


                  bóng đèn phụt tắt


như trứng quạ từ tháp chuông rơi xuống sân nhà nguyện


mảnh ngói nóc chùa Diên Hựu văng xuống ao sen


 


thân thể tử sĩ khoẻ mạnh căng đầy


sạch sẽ thơm tho hồng hào


ngồn ngộn thịt múi da săn


                     ván thiên long đinh nắp quan tài bật


có người máu chảy cạn


                          thân hình lép xẹp cá khô


lùng nhùng tấm chăn lính màu rêu


huyệt nông choèn vun mãi không đầy mộ


 


ngày nào chăn trâu bờ đê chơi bịt mắt trốn tìm


anh ẩn vào bụi cây nấp sau mô đất


tìm không thấy


mắt em đỏ hoe giọng em ngẹn ngào môi em méo xệch


túm được anh


em mừng như tìm thấy trâu bò đi lạc


chùm bom khoan rơi trúng dãy nhà hầm


nửa trung đội chết trong lúc ngủ


tìm các anh từ sáng đến chiều 


thâu đêm suốt sáng


kẻ dọc vạch ngang bới từng hòn cuội


sàng đất sảy cát lay cây rung cành


chặn dòng suối tát bùn lọc nước


mười mấy mạng người


thịt xương gom chưa đầy mảnh võng


táng một huyệt chưa đầy


                                     đủ mộ


                                           nỡ nào chia ! 


 


sớm muộn trước sau những người lính cũng sẽ trở về


trên các toa tàu


                         xe lăn


                               nạng gỗ


riêng chúng tôi


khuất chìm trong hư vô không ai nhìn rõ


 


những người lính sống bình thường


rồi chết


chưa xấu


chưa kịp tốt


không thành ma qủy chẳng hoá thánh thần


tụ tán trên tàn cây lá cỏ


ẩn giữa giọt sương trốn trong gơn gió


không phải xuống Địa ngục chẳng được lên Thiên đường


 


trở về nơi mẹ cha sinh hạ nuôi ta thành người


vạt rừng hoang sơ cánh đồng phóng khoáng


trở về với con diều cuối cùng cánh võng đầu tiên


ngược chiều những đoàn quân hăm hở rùng rùng ra trận


người chết bay ra người sống đi vào


gặp em trai ngủ ngồi trong công sự


bạn chăn bò ôm súng tựa gốc cây nhai trệu trạo lương khô


có người sống những thời khắc cuối cùng


vô tâm nói cười


đang lặng lẽ bước vào cõi chết


chỉ người cõi Âm chúng tôi mới biết


 


mẹ thét lạc giọng kinh hoàng


nhìn ta tóc rối xoã vai


thân hình trong veo xanh lè như lá


cha gặp con trai trong cơn mộng mị


ta ngồi ôm chân giường khóc thầm


rồi lặng lẽ bay đi…


người trong làng ngoài phố nửa tin nửa nghi


thấy lảng vảng trong sương nghe lào thào trong gió


thoắt gần thoắt xa khi khóc lúc cười


 


trâu già nhận ra cậu chủ chăn dắt bao năm


cổ nghẹn cỏ rơm gõ sừng dậm chân


cặp mắt chén tống rưng rưng nước đục


khôn ngoan nghĩa tình chó Mực 


rên ư ử gừ gừ trong họng


cụp tai sợ hãi ve vẩy đuôi mừng


không nhảy lên ngửi tay liếm mặt


cũng chẳng nỡ nhí nhách cắn ma


 


chúng tôi vô hình vô ảnh


bay ngang bàn thờ ngồi trên nóc tủ


”véo” sôi gấc mẹ đồ “nhón” thịt vịt cha đơm


ngồi bông bênh trên khói bếp em gái ghế cơm


bay lượn quanh nhà


nấp sau cánh hoa lan hoa huệ


đốm lửa đầu nén nhang cháy bùng


di ảnh trên bàn thờ mắt long lanh ướt


 


chúng tôi trở về


lượn lờ ở cổng đình rụt rè quanh đền miếu


ma làng


            nguời cùng xóm chết già


                                              tổ tiên nội ngoại


chỉ loáng thoáng mấy người chết trẻ


đón tiếp ma mới chúng tôi mười chín hai mươi


chia rượu ngô vài hơi thuốc lào dăm điếu


 


nghe nói sau khi chết người ta thành gió


                              không hướng không chiều


nghe nói chết rồi con người thành cỏ


cỏ mọc lan man cỏ bám vật vờ


nghe nói chết đi thịt xương hoá bụi


bụi bay lang thang bụi cuốn bơ vơ…


vừa mới hóa thân từ kiếp người


                          - bụi lơ lửng trên cao


sắp được đầu thai làm người


                           - bụi bay là ngọn cỏ


ơi những hạt bụi tiền nhân tiền kiếp


lại phải luân hồi


sắp được đầu thai


 


đang là bố là mẹ là vợ là chồng


lại hoá gió lang thang cỏ xanh bụi hồng


không còn yêu thương không còn giận dữ


tiếc nuối người đi đau lòng người ở


nhưng nếu còn được làm bụi làm cỏ


cái chết với ta cũng nhẹ đôi phần


ừ thì chết nhưng không hủy diệt 


dẫu là mất cũng không mất hết !


 


thực hư nào hay


đi trên cỏ chợt thấy run chân


hạt Bụi - Ai cay xót mắt mình


người thợ chẳng vô tình


đời trước dạy đời sau


để lại khe hở cho gió lọt trên mái nhà


vào ra quanh khung cửa…


 


nuối tiếc xót đau


linh hồn thét gào thành giông thành gió…


II. XƯƠNG CỐT


Mỗi năm chúng tôi chỉ được về quê quán một lần


trong Lễ Xá tội vong nhân Rằm tháng Bảy


trước gà gáy canh ba


linh hổn[ì nhà mẹ cha


trở lại với cây với đá


nơi ấy mồ hoang mới thực nhà mình 


xương cốt ở đâu linh hồn về đó


mộ phần thất lạc linh hồn lang thang…


xương cốt chúng tôi


khỉ đầu đàn bọc lá chuối rừng thờ ở góc hang


lẫn vào cát chìm trong suối


hóa ụ kiến vàng gò mối


huyệt khoét bằng lưỡi xẻng cá nhân nhỉnh hơn bàn tay


võng dù làm vải liệm mảnh nilông thay quan tài


mấy chục năm trời


rễ cây rừng hoang tham lam hút kiệt


trăm người chết tìm được vài huyệt mộ


lẫn giữa đất đỏ lá rừng có đám mùn đen


lẽ nào đó lại là tất cả những gì còn lại


của anh ta em ta bạn ta đồng môn đồng tuế !


trận địa năm xưa đã lút giữa đại ngàn


rễ cỏ tranh xuyên vào hốc mắt


đá đè vỡ xương đầu dập nát xương chân


cây che phủ nắng không lọt tới


đồng đội chôn vội chúng tôi giữa hai trận đánh


giặc vây chặt cánh rừng


đạn xuyên trước mặt pháo cày sau lưng


những Nghĩa - Địa - Hoang chìm lấp dưới rừng


đồng đội ngày ấy về đâu ở đâu


nhiều người đã già lắm người đã chết


rừng cây đổi dạng núi đá thay hình


mồ hoang đã lâu không còn dấu vết…


 


những người khiêng cáng thương binh


trúng đạn chết dần trên đường về hậu cứ


người sốt ác tính sống lâu hơn người khoẻ


nằm mươi ngày nửa tháng trên võng vải lủng lẳng đòn tre


cái chết đến không vội vàng


dịu nhẹ khẽ khàng


chết nhiều khi không hiểu tại sao


chảy hết máu hay vì đói khát


chết mà không biết chết lúc nào


cây rừng lớn thêm dâng võng lên cao


thịt rữa nát - võng dù còn bền chắc


võng rung cùng cây võng chao theo gió


xương đen - nắng nỏ


cốt trắng - gội mưa…


(còn tiếp)


Nguồn: Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn. Nhà xuất bản Văn học, 2009.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info