Lý luận phê bình văn học
15.02.2020
Trần Mạnh Hảo
Thơ: Ta hay Tây, hướng nội hay hướng ngoại?


I


Ngày 21 tháng 7 năm 1969, ba chàng ngự lâm pháo thủ do nhà du hành vũ trụ Neil Armstrong chỉ huy đã bước ra khỏi tàu Apollo 11 của Hoa Kỳ để đáp xuống nguyệt cầu. Nhân loại như đứa trẻ con tò mò, nghịch ngợm, lần đầu tiên đã liều mạng đặt chân lên xứ sở của thần linh, bước những bước trần thế lên thế giới mộng mơ, thế giới huyền thoại và thi ca của chính mình. Trong vòm trời không đáy của huyền thoại Hy Lạp, thần Zeus, vị chúa tể của muôn loài, cao cả và hùng mạnh đến thế, nhưng mới chỉ dám đặt trụ sở triều đình mình trên đỉnh núi Olympos, chứ chưa hề dám tơ hào đến mặt trăng, chưa dám mang bầu đoàn thê tử lên đóng đô ở nơi người phương Đông cổ giam hãm chị Hằng và người Việt chúng ta từng gởi một vị đại sứ trên đó là chú Cuội.


Con người đã tìm thấy gì trên mặt trăng hay chỉ góp phần làm sa mạc hóa những giấc mơ hàng triệu năm của nhân loại ? Rằng hóa ra, mặt trăng chỉ là một miền đất đá khô cằn, không có dưỡng khí và nước… Trong dịp kỷ niệm 25 năm con người đặt chân lên mặt trăng, vừa qua, các báo Mỹ và phương Tây đã nêu ra nhiều ý kiến trái ngược nhau về sự được thua do hành động phiêu lưu rất kỳ diệu ấy. Có báo cho rằng, việc bỏ ra hàng chục tỷ đôla để mang về mấy chục ký đất đá và nỗi sợ hãi về sự cô đơn thăm thẳm của loài người trong vũ trụ, liệu có đắt quá chăng ? Rằng tham vọng khai mỏ, khoét rỗng mặt trăng để tìm kim cương liệu có thực tế và hợp ý Chúa chăng ? Rằng công cuộc thuộc địa hóa mặt trăng, phải chăng là hành trình cuối cùng của nhân loại trong quá trình xâm lăng toàn diện của nền khoa học thực dụng vào thế giới tâm hồn của con người ?


Quả thật, những vấn đề báo chí phương Tây nêu trên không phải là không có lý. Mặc dù, sự kiện con người lên mặt trăng là sự thành công lớn lao của khoa học, của nền văn minh phản lực và văn minh vi tính. Sau hai ngày rưỡi bay lượn như tinh cầu của Hoàng Tử Bé Saint Exupery, con tàu Apollo 11 đã vượt qua 384.000 km để đáp xuống mặt trăng. Nhưng thực ra, con tàu kia đã được chắp đôi cánh của thi ca và tôn giáo cách đây gần hai nghìn năm khi Đức Jésus Chris chui ra khỏi mộ đá và bay lên trời. Nền văn minh Thiên Chúa giáo xuất hiện với khát vọng đi tìm thiên đường, tìm nơi vĩnh hằng cho con người tồn tại sau cái chết. Thi ca và tôn giáo là hai cánh thiên thần của nền văn minh lúc nào cũng hướng lên trời cao ấy mà cầu nguyện: “Lạy cha chúng tôi ở trên Trời, chúng tôi nguyện danh cha cả sáng”. Nếu nền thi ca phương Tây, sau hơn bốn nghìn năm từ thuở Kinh Cựu Ước ra đời là nền thi ca hướng ngoại, luôn ngước mắt lên thẳm xanh ngóng đợi sự xuất hiện của Thiên Chúa, thì nền thơ phương Đông từ thuở kinh Veda và Kinh Thi xuất hiện lại là nền thi ca hướng nội: luôn luôn dõi theo nhìn vào bề sâu của tâm hồn con người để tìm tới Chân Thiện Mỹ.


Người phương Đông, hay thi ca phương Đông đi tìm mặt trăng trong bản thân mình, trong thăm thẳm hồn mình chứ không tìm mặt trăng ở ngoài trái đất. Người phương tây, hay văn minh phương tây đã bay hết hai ngày rưỡi để đến mặt trăng, nhưng người phương Đông, mà cụ thể là thi hào Lý Bạch đã đi tìm mặt trăng bằng phương pháp Thủy Thần từ năm 762 sau công nguyên, nghĩa là đã 1232 năm rồi, chưa thấy ông trở về. Mặt trăng với Lý Bạch nói cho cùng không phải chỉ có vài chục ký đất đá mang về, không phải là Xahara trá hình như một phi hành gia đã gọi, mà là vòng nguyệt quế của tuổi thơ nhân loại. Ở đó, ông đã bế mặt trăng trên tay như bế một em bé, như ẵm một bầu rượu. Trong bài thơ Nguyệt hạ độc chước, Lý Bạch coi mặt trăng chỉ là một người bạn nhậu: “Cử bôi yêu minh nguyệt / Đối ảnh thành tam nhân”. Ôi chao, pha rượu vào ánh trăng và ngược lại, hóa ra chỉ có một thân mình mà thành ba vị: thân ta, bóng ta, và bóng trăng, tam vị nhất thể, một mà ba, ba mà một, gần với thần học Ấn Độ giáo mà sau này Do Thái giáo đã tiếp nhận: ba ngôi thiên Chúa là một… Lý Bạch không phải nhờ mũi tên của Hậu Nghệ để tìm trăng, theo thuyết có âm có dương, trong dương có âm, diễn ra là trong ta có trăng, trong trăng có ta, do đó trăng hay không trăng là tùy ở cái tâm mà thôi. Thuyết âm dương của Dịch, thuyết của vũ trụ đồng nhất đã được phương Đông tiến rất xa về thế giới quan so với phương Tây.


Thi ca phương Đông, do đó, không hề phân biệt hiện thực và siêu thực. Hai cái đó như hồn và xác, như sắc đẹp và mùi hương hoa ở chung với nhau, ở trong nhau. Khi Trần Tử Ngang viết: “Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả”, hay khi Thôi Hạo viết: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản / Bạch vân thiên tái không du du…” thì quả tình không còn biết đâu là hiện thực, đâu là siêu thực nữa rồi. Nền thi ca phương Tây, nhìn chung là nền thi ca của thế giới nhị nguyên, khác với thế giới nhất nguyên của thi ca phương Đông. Nền thi ca lôgíc, thi ca phân tích của phương Tây đi từ thực đến ảo, từ cái có thể đến cái không thể… Thi ca phương Tây hầu như đã chấp nhận cái chiều hiện hữu của không gian và thời gian, cùng với tôn giáo đã chắp cánh cho khoa học đi vào vũ trụ, leo trèo lên những vòm tinh tú đê nhìn về quê hương trái đất trong một nỗi cô đơn cùng tận. Trái đất nhìn từ mặt trăng hệt như con tàu của ông Noe đang lênh đênh trên cơn đại hồng thủy vũ trụ. Con người ra khỏi trái đất, cố tìm xem có bạn hàng xóm nào chăng, càng tìm càng vô vọng, càng thấy trái đất mỏng manh dễ vỡ, càng thấy lạnh lẽo vì con người là sinh vật hoàn toàn cô đơn, bị cô lập trong vũ trụ vô biên.


Descartes kéo nền văn minh phương Tây ra khỏi bàn tay của Chúa Trời, đưa nó vào vòm trời của duy lý: “Tôi tư duy tôi tồn tại”. Có lẽ, sau ba thế kỷ, Descartes chưa hiểu hết ý của đại thi hào Dante khi ông lôi nền văn minh Thiên Chúa giáo đang lơ mơ ngủ gà ngủ gật trong nỗi ngủ dài nửa giáo đường, nửa thiên đường xuống tuốt tuột chín tầng địa ngục để thức tỉnh nó ? Thi Ca – được gọi bằng tên gọi khác là Dante, đã tìm ra đủ vần điệu để dẫn nền văn minh u tối thời trung cổ xuống địa ngục, không phải để đầy đọa nó, mà cốt giúp nó luyện tội để tìm lại thiên đàng của thiêng liêng và huyền thoại: Từ khi nền văn minh duy lý chia tay với thần linh để đi vào thế giới thực dụng với máy móc và tiện nghi, thi ca hầu như đã biến thành chàng Hamlet nửa điên nửa tỉnh luôn luôn tìm đủ mọi phương cách nghi ngờ sự tồn tại của chính mình. Thơ ca phương Tây từ đó, một nửa mang hoài niệm xa xưa về thần thánh của Dante, một nửa mang tinh thần day dứt và đau khổ của Hamlet, nó muốn thoát khỏi tồn tại bằng đủ phương cách, đủ các thứ chủ nghĩa: cổ điển, hiện thực, lãng mạn, siêu thực, hiện sinh, cấu trúc, hiện đại và hậu hiện đại… Nhưng đỉnh Olempia của thần thoại đã biến thành nơi phóng đi các thứ tàu vũ trụ để đi tìm gương mặt cụ thể của hư vô ở ngoài trái đất, ngoài con người. Từ bỏ cả thi ca và thượng đế, hầu như nền văn minh thực dụng đang lao ra khỏi trái đất để đi tìm lợi lộc và thuộc địa trên vũ trụ. Lên tới gần nóc của duy lý, gần như nó cảm thấy mình bất lực với một nhận thức mơ hồ rằng: cần phải tìm cách trở về nguồn, trở về phương Đông…


Hình như cuộc hành hương về Jerusalem đang bắt đầu thì phải ? Té ra, mọi thần linh, mọi tôn giáo đều sinh ra từ phương Đông: từ Đức Phật đến Chúa Kitô, từ Khổng Mạnh – Lão Trang đến thánh Ala của tiên tri Mahomet… Và kỳ lạ thay, mặt trời, địa bàn, bánh xe, chữ viết con số Ảrập, số không, café, thuốc súng và giấy viết đều được sinh ra đầu tiên từ phương Đông. Mở đầu Kinh Cựu Ước của dòng dõi Apraham vùng Tiểu Á và Trung Đông, Đức Chúa Trời hình như đã sai Moisen viết rằng: “Khởi thủy là Lời”. Vâng, cũng có nghĩa rằng: Khởi thủy là Thi Ca.


Thi Ca phương Đông từ đó đã thi theo chiều thứ tư của không gian để tìm tới cái vô chiều của không gian, của hồn người ( thực ra không gian không có chiều nào cả nhưng chiều nào nó cũng có). Nó- Thi ca được diễn đạt bằng giấc mơ mặc khải của Trang Tử: mơ thấy mình là bướm, thức dậy không biết mình vừa hóa thành bướm hay bướm vừa hóa thành mình ? Thi ca phương Đông không quan tâm đến tồn tại hay không tồn tại. Nó không thích rách việc khi tự biến thành hai cánh tay diễn dịch và quy nạp của tư duy. Nó tham dự vào cuộc chia ly của tình yêu, tự động xẻ vầng trăng làm hai nửa: nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. Thi ca phương Đông cũng tự nhiên nhi nhiên như trời đất. Nó là tuổi thơ, là đứa trẻ con của loài người. Đến cả đấng nhân tạo hóa kia mà người phương Đông còn gọi là hóa nhi nữa là… Thi ca phương Đông không chỉ tìm thấy mặt trăng, mà còn biết làm mặt trăng rung động chỉ bằng một tiếng trống: “Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt !”. Mặt trăng ấy, biến hóa khôn lường, có khi lại là tấm lòng của người chinh phụ gởi đến khắp nơi theo vó ngựa của chàng: “Mặt chinh phu trăng rõi rõi theo”. Mặt trăng ấy, là mặt trăng của thi ca phương Đông. Mặt trăng ấy cư ngụ không chỉ nơi to rộng của trời biển, mà còn biết cách ẩn mình trong mắt kiến:


“Kiến con đi đón trăng rằm


Trăng chui vào mắt kiến nằm trăng chơi


Trăng to giữa biển, giữa trời


Vẫn tìm mắt kiến làm nơi ẩn mình”


(TRĂNG VÀ KIẾN- Thơ Trần Mạnh Hảo)


Thế giới vô chiều của thơ ca phương Đông là thế giới tâm linh con người. Biết đâu, nhờ sự tung tẩy và vu vơ đến phi lý của mộng tưởng thi ca, con người càng lúc càng nhận ra rằng, cái thế giới vi mô của tâm hồn con người có khi lại vô tận hơn, sâu thẳm hơn, rực rỡ và cao xa hơn cái thế giới vĩ mô có tên là vũ trụ ?


Có phải nền văn minh vật chất sở dĩ phải mò lên thóc mách mặt trăng, sao Kim, sao Hảo, tham vọng đi tìm bí mật của thiên hà chỉ vì nó bất lực không biết cách đi vào thế giới tâm linh con người ? Con người phải lang thang ra ngoài trái đất cốt tìm ra chìa khóa để mở bản thân mình ? Chiếc chìa khóa ấy có lúc là tôn giáo, lúc là thi ca, lúc là khoa học… Cầm được chiếc chìa khóa trời ban trong tay, con người hám lợi nhìn vào bản thân mình như nhìn vào két bạc, do đó vẫn chưa mở nổi bản thân mình. Và vì vậy, thi ca – tình nhân của Cái Đẹp vẫn lảng vảng nơi ranh giới hư và thực, thiên đường và hạ giới để toan mượn chiếc chìa khóa Thánh Phêrô để mở vào cái bí mật khôn cùng của chúng ta đang nằm phía sau lưng tồn tại?


Đại thi hào Goethe, người đã đặt được hai bàn tay lên hai thế kỷ: 18 và 19, bằng tác phẩm Faust bất hủ, giống như Dante bằng Hài kịch thần tiên (La divina commedia) đã đặt hai bàn tay lên thế kỷ thứ 13 và 14. Goethe làm nốt cuộc đối thoại của Dante với địa ngục, nhưng lần này cụ thể hơn trong cuộc bán đấu giá, cuộc nhượng quyền sở hữu bản thân, quyền sở hữu linh hồn của chàng Faust cho quỷ Méphistophélés. Thi ca được biểu tượng bằng chàng Faust đem linh hồn mình bán cho quỷ để đổi lấy sự khôn ngoan. Nhưng sự khôn ngoan thì có giới hạn, còn linh hồn con người thì vô hạn. Sự thất bại của bác sĩ Faust chính là lời cảnh báo của Goethe trước nền văn minh duy lý. Và dường như vậy, Goethe đã mang thi ca quay về phương Đông, nơi ra đời của Chúa Trời và Kinh Thánh ? Hành trình của Dante và Goethe đi tìm Chân Thiện Mỹ thông qua trạm dừng chân của ma quỷ, thực ra từ khởi nguồn, phương Đông đã rốt ráo hơn, bản chất hơn khi không tách ma quỷ ra khỏi con người, ra khỏi thi ca: THI TRUNG HỮU QUỶ. Quỷ thần không hề ở ngoài con người, mà nó tồn tại trong con người và thi ca. Cũng như vậy, Phật Giáo khởi nguồn là một triết học, là niềm thi ca hơn là một tôn giáo. Phật, hay Niết Bàn ở trong mỗi chúng sinh. Địa ngục cũng ở trong mỗi chúng sinh. Wallace Stevens từng nói: “Thi sĩ là gạch nối giữa con người và vũ trụ”. Văn minh phương Đông mà cụ thể là thi ca phương Đông quan niệm rằng tâm linh con người là vũ trụ, không tách vũ trụ ra khỏi con người, tách hồn ra khỏi xác, tách siêu thực ra khỏi hiện thực như nền văn minh và thi ca phương Tây.


II


Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn trong bài tiểu luận thông minh và rậm rạp của mình: Tiếp cận giá trị thơ ca in trong báo Văn nghệ số 36 có đoạn viết: “… Chúng tôi chỉ muốn trao đổi vắn tắt với nhà thơ Trần Mạnh Hảo rằng, không nên quan niệm “muốn siêu thực, thơ phải đi tới tận cùng, tới đầu mút của hiện thực cái đã”. Chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa hiện thực là hai phương pháp sáng tác xây dựng trên những nền tảng triết học và mỹ học hoàn toàn khác nhau, giống loài bò sát và loài chim là hai cấu trúc sinh học khác nhau. Không nên nghĩ rằng muốn bay như chim phải bò thật giỏi như bò sát đã”.


Trước hết thơ muốn đạt được giá trị nghệ thuật, nó phải vừa là bò sát vừa làm chim. Bởi vì, theo thuyết tiến hóa của Darwin, loài chim đã tiến hóa từ loài bò sát. Thi ca tìm thấy khả năng chim muông ngay trong lòng loài bò sát không phải đợi hàng chục triệu năm theo quy trình tiến hóa thời gian như Darwin đã chỉ ra, mà theo phép vũ trụ đồng nhất phi thời gian, phi không gian của tâm linh con người. Rằng, thi ca mô phỏng hành trình phát triển của bào thai trong bụng mẹ: chỉ cần chín tháng mười ngày, nó đã có thể lặp lại quy trình tiến hóa từ thế giới đơn bào đến đa bào, qua tảo, cá lưỡng tiêm, rồi loài cá, loài bò sát, loài chim, loài thú và đến con người mà khởi thủy vốn đã phải mất cả tỉ năm. Nhưng thi ca đã từng bay lên trời bằng đôi cánh của thần thoại, sau khi từ giã nền-văn-minh-bò-sát-hiện-thực, nó chợt thấy trống trải và cô đơn nên đã tự đốt đôi cánh Inca để đi trên mặt đất hiện thực của con người bằng bốn chân của loài có vú, chứ không còn trườn bằng cái bụng hiện thực như xưa. Và thi ca đã biết bám vào mặt đất bằng đôi chân của chính con người hiện thực, trước khi bộ óc con người biết khám phá ra thế giới siêu hình và các thần linh. Trên tinh thần của thi ca phương Đông, chúng tôi cho rằng cái siêu thực, cái siêu hình đã nằm ngay trong lòng cái hiện thực, cái hữu hình. Do đó, ngay từ khởi nguồn thi ca phương Đông, những bài thơ hay nhất đã rất siêu thực vì nó đạt được cái tận cùng của hiện thực. Cần phải tiếp nhận câu: “Muốn siêu thực thơ phải đi tới tận cùng tới đầu mút của hiện thực cái đã” trên tinh thần trường cửu của thi ca phương Đông, chứ không phải trên sự nhận thức giai đoạn của chủ nghĩa siêu thực phương Tây.


Thực ra, chủ nghĩa siêu thực của nghệ thuật phương Tây đã chỉ còn là quá vãng, đã hết thời. Nghệ thuật phương Tây, sau những cơn dò đường, thay ngừơi tình như thay áo, đã bỏ chủ nghĩa siêu thực trong nghĩa địa của hoang phế, để đi qua các thứ chủ nghĩa hiện sinh, cấu trúc, hiện đại và hậu hiện đại, giờ có khi nó đã trườn qua giai đọan phản hậu hiện đại để phản chính nó rồi nên ? Chừng như các thứ chủ nghĩa nghệ thuật của phương Tây đã chán mọi trò chơi phi thân, trò chơi leo cột mỡ hay trồng cây chuối ? Nó đang trở lại với đôi chân cổ điển và truyền thống của chủ nghĩa hiện thực… ? Dù ngay cả chủ nghĩa hiện thực ( là một quan niệm của văn học Âu Tây) cũng không cứu nổi văn học hay làm văn học tiến lên; chỉ vì NÓ tách cái THỰC ra khỏi cái SIÊU, tách cái VÔ ra khỏi cái HỮU.Và trên cơ bản của nền văn minh duy lý, phương Tây, một lần nữa, bằng truyền phái huyền thoại của Mỹ La-tinh đang quay lại thế giới trẻ thơ của tâm linh con người, một cuộc về nguồn, về với quê hương của mặt trời, của thần thánh và thi ca có tên là phương Đông. Gần đây, một số nhà thơ Việt Nam giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa hiện đại đang bước vào thời kỳ tàn phai, kêu gọi nền văn nghệ Việt Nam đi tìm gương mặt mới của mình dưới vòm trời ảm đạm của những nền nghệ thuật đã ế ẩm, đã xế chiều. Đưa nền thi ca Việt Nam vào các cuộc thí nghiệm liên tu bất tận của nền văn minh thực nghiệm, kể ra cũng chả chết ai, ngoài sự mất thời gian và công sức cho một hành trình lẽ ra phải quay trở lại chính mình, quay về với tinh thần hướng nội của mình. Tất nhiên việc học tập cái tốt cái hay của phương Tây rất là đáng làm. Trong khi phương Tây đang tìm về phương Đông, mình lại lẽo đẽo chạy theo các thứ chủ nghĩa phương Tây. Biết đâu, sau những cuộc phiêu lưu theo đuôi các chủ nghĩa nghệ thuật phương Tây, những nhà thơ tây hóa của Việt Nam giật mình tưởng mình đã tới đích khi thấy nền thi ca kia lù lù dừng lại ngay trước ngôi nhà phương Đông của mình. Tìm kiếm, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt để một hồi hóa ra lại quay về ngọn nguồn của dòng suối nơi Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lý Bạch, Trần Tử Ngang tuôn chảy. Cuối thế kỷ 19, Freud mới khám phá ra vô thức, mở màn cho chủ nghĩa siêu thực ra đời. Trong khi kinh Dịch đã biết luật âm dương trong nhau từ mấy nghìn năm trước. Cái siêu thực đã nằm trong hiện thực; thơ cứ hay, nó sẽ đạt được hai yếu tố: hư và thực.


T.M.H.


Bài in trên báo Văn nghệ số 84, ra ngày thứ bảy, 3-12-1994.


 

trieuxuan.info