Lý luận phê bình văn học
17.03.2010
Lan Khai
Lê Văn Trương (1)

LÊ VĂN TRƯƠNG
MỚ TÀI LIỆU CHO VĂN SỬ VIỆT
NAM


“Sống được tích sự gì cho ta, nếu sống chẳng là để sửa chữa những lầm lạc của ta, thắng đoạt những thành kiến của ta và càng ngày càng mở rộng thêm tư tưởng và tâm hồn ta? Hãy yên tâm... mỗi ngày ta lại cố gắng để đến gần sự thực thêm một ít...”.


La Révolte trong tiểu thuyết Jean Christophoe của Romain Rolland


 


I. LÊ VĂN TRƯƠNG VỚI TRÁI TIM


Kể các nhà văn hiện thời, ông Lê Văn Trương là người được hoan nghênh và lại cũng là người bị công kích một cách... ồn ào nhất. Ta hãy khoan tách bạch, trong hai thứ tình cảm vừa nói, cái nào tự dưới lên và cái nào từ trên xuống. Ta chỉ biết rằng cả hai dù trái ngược nhau đều chứng tỏ một thực trạng: Lê Văn Trương đã khiến nổi thiên hạ chú ý đến mình. Quả vậy, ông đã nhảy xổ vào làng văn, như luồng gió, làm bật tung cánh cửa, ùa vào trong nhà. Ông đã vượt lên trên hết thảy các văn sĩ đồng thời bằng cái khối sách cao ngất, bằng sự nổi danh chớp nhoáng và bằng cái số lớn độc giả của ông. Tất cả các cái trên đây, đã đành, chưa hẳn là cái chứng cớ của một tài năng thực sự và cao sâu; tôi cũng cứ ghi lấy, như các điều nhận xét nhân dịp tôi nói về một văn sĩ.


Điều cần, ấy là một câu hỏi mà tôi vẫn thường tự đặt cho tôi, mỗi khi tôi thấy mình bị bao phủ bởi những tiếng khen chê cùng hết sức sôi nổi: “Ta có nên khen hoặc chê bừa đi không? Ta có nên khen hoặc chê trước khi ta đã thực hiểu, nhất là trước khi ta đã chắc chắn ở sự sáng suốt và sự công bình của ta?”. Ở đời, cái đáng sợ mất đi nhất, ấy là sự bình chính. Tôi quyết định (trong tập nghiên cứu và phê bình này cũng như trong các tập sau nói về các nhà văn khác) sẽ bình tĩnh mà nhận xét, phân tích, ghi chép cái sở trường và cái sở đoản của ông Lê Văn Trương, những cái nó đã làm nền móng cho tác phẩm của nhà văn ấy. Cái việc tôi khởi công đây, tôi tin là một việc nên làm: Lê Văn Trương, dù sao, cũng đã gây nên được ở quanh tên tuổi ông một mối dư luận, trên cái đất nước mà đời sống tinh thần của người dân hằng khiến ta có thể ngờ là đã tê liệt. Tôi không dám ngông đến nỗi chực phát minh ra một Lê Văn Trương mà các bạn hoặc thù của ông chưa từng thấy. Tôi chỉ cố gắng trình bày ông đúng với ông được chừng nào hay chừng nấy mà thôi. Âu cũng là một mớ tài liệu được dùng cho quyển văn sử Việt Nam sau này.


*


* *


Cái bị chê dữ nhất, ở người cũng như ở tác phẩm Lê Văn Trương, ấy là cái thói lắm điều. Phe địch của ông đã từng vin vào thói ấy mà giễu cợt ông. Họ bảo ông khoác lác, họ kêu ông bằng cái danh hiệu ngộ nghĩnh “Huênh hoang tôn ông”. Thói ấy, lắm khi, còn khiến ngay các bạn ông khó chịu hoặc mỉm cười nữa.


Sự nói nhiều, theo ý tôi, chẳng phải là một cái gì đáng để ta nói nhiều về nó, ấy chẳng qua là một sự cần, một sự tất nhiên cho những tâm hồn nào bồng bột, nông nổi và hay lan rộng. Vậy thì, chê bai một người nói nhiều, ta lắm khi đã tỏ ra ích kỷ và có khuynh hướng chuyên chế mà không tự biết. Nhiều bạn còn bảo tôi: “Giá Lê Văn Trương nhịn nói đi thì hơn!”. Bắt buộc một sự như thế thực là một điều phi lý.


Phàm mọi sự vật, trên thế gian này, đều không thể bỗng chốc thay đổi được, theo những câu, mới nghe tưởng là tiện lắm: “Tôi muốn” hoặc “Tôi không muốn”. Một thực trạng nào ngay cả một quái trạng nữa sở dĩ hiện dưới giác quan ta thế này mà không thế khác, ấy là bởi những nguyên nhân có khi rõ rệt, có khi ngấm ngầm ta không thể nhận được.


Một tâm tính cũng vậy. Và, do thế, cái ta muốn với cái ta có thể thường bị ngăn cách bởi biết bao trở lực. Sự ấy, ta gọi là cái điều kiện con người (condition humaine). Chính nó giữ không cho người trở nên ông Thánh cũng như không cho người hóa thành con vật. Nó là cái đặc điểm của người. Ta chớ buồn rầu về nó, bởi như thế tức là ta không muốn làm người nữa. Ta đừng thù ghét nó, bởi giễu cợt thường là tỏ ra thiếu một tấm lòng.


Henri Bergson, trong cuốn sách khảo về triết lý cái cười, đã nói rất đúng: “Không cảm tình là bạn nối khố của cái cười” (I’insensibilité qui accompagne d’ordinaire le rire).


Bọn ta đã là giống biết rung động, bọn ta lại biết cả thế nào là tình thương, ta “hãy, trong một lúc, thử chú trọng đến hết thảy mọi cái gì nói và làm quanh ta, hãy hoạt động, bằng tưởng tượng, với những kẻ đương hoạt động, cảm xúc với những kẻ đương cảm xúc, tóm lại hãy để cho mối đồng tình của ta đến được cái độ phát triển rộng nhất của nó: tức thì ta sẽ thấy dù vật khinh dị nhất cũng trở nên nghiêm trọng, và tất cả đều có một sắc thái đứng đắn ngay” (essayez, un moment, devous intéresser à tout ce qui se dit et tout ce qui se fait, agissez, en imagination, avec ceux qui agissent, senter avec ceuxqui sentent, donnez enfin à votre sympathie son plus large épanouissement: comme sous un coup de baguette magique vous verrez les objets les plus léger prendre du poids, et une coloration sévère passer surtoutes choses).


Đã vậy, ta nên cứ để ông Lê Văn Trương nói tùy theo sở thích của ông. Lê Văn Trương không lắm điều thì ông còn là cái gì! Ta chỉ cần xem tại sao Lê Văn Trương lại thích nói và nói nhiều như vậy, ông muốn bảo ta những gì.


*


* *


Lê Văn Trương, bất cứ lúc nào và ở đâu, đã nói nhiều hơn ai hết. Hình như không nói, ông không chịu được. Thói quen ấy bắt nguồn từ một trạng thái tâm lý kể cũng ngộ: muốn yêu hay ghét, muốn tin tưởng hay phản đối, muốn hành động hay gì gì nữa, Lê Văn Trương, trước hết, phải nói cái đã. Ông cần phải cắt nghĩa, biện bạch, hô hào và kích thích, trái tim ông mới nóng lên. Không nói, Lê Văn Trương rất có thể chỉ là một mớ tro tàn. Tôi lấy làm lạ cho những người thường vẫn kêu ca về thói lắm điều của ông, coi thói ấy như một tai nạn. Theo ý tôi, nếu có tai nạn thực, nạn nhân đầu tiên của Lê Văn Trương chẳng phải ai khác hơn là chính Lê Văn Trương vậy.


Nếu không tin, các bạn hãy đọc bất cứ một đoạn lý luận dài dòng trong bất cứ tiểu thuyết nào của Lê Văn Trương, các bạn sẽ thấy lời tôi là đúng. Ví dụ, những câu ông cụ thừa Hân đã dặn con trai cụ, cậu An, trước khi cụ mất:


... “Thầy suốt đời nghèo, phải giật gấu vá vai mới đủ tiền cho con ăn học, con có biết tại làm sao không? Là bởi thầy trót học được của thánh hiền những điều liêm sỉ; lại bởi thầy là máu huyết của một dòng họ đã ngót mấy trăm năm nay không ai làm một điều gì trái với lương tâm. Các cụ tổ nhà ta, thứ nhất là ông đẻ ra thầy đã đem đến cho thầy một tấm gương hiền đức khảng khái nó làm chói lòe cả một đời thầy...”.


... “Thầy nghèo bởi vì thầy cũng hiền đức quá, khảng khái quá. Thầy nghèo bởi vì thầy không thể đem lương tâm đi bán, thầy không thể giày xéo lên cái nhân cách làm người, sao cho cao quý mà ông đẻ ra thầy đã dạy thầy, đã đào tạo cho thầy. Thầy còn nhớ lúc ông sắp lâm chung cũng gọi thầy vào dạy bảo... như thầy gọi con ngày hôm nay. Đã ngoài ba mươi năm rồi, thầy còn nhớ mãi những điều trăng trối cuối cùng của ông:


“Con phải noi gương cha ông mà ăn ở sao cho không lỗi đạo làm người. Con chỉ nên nghĩ đến đạo làm người mà không nên nghĩ đến danh lợi. Danh lợi đến thì càng hay, không thôi; nhưng cái đạo làm người dù thế nào con cũng phải giữ cho vẹn. Trong những trường hợp khó xử, con cứ lặng hỏi lòng con thì rồi nó sẽ nói cho con biết đường nào là đường con phải theo để xứng đáng với cha ông...


“Những huấn điều cao quý ấy, suốt đời thầy, thầy đã tuân theo. Trong cái đời làm thừa phái, thiếu chi trường hợp có thể làm giàu, thầy đều không lợi dụng. Đỗ cử nhân, nếu thầy chịu luồn cúi thì ngày nay ít ra thầy cũng Tổng đốc, Tuần phủ rồi, nhưng thầy không thể luồn cúi được. Thầy không thể đem hạ cái khí làm người cương cường khảng khái xuống được... Thầy muốn cho các con long đong học đạo làm người còn hơn thấy các con luồn cúi mà được giàu sang.


“Ở vào thời buổi này làm giàu rất dễ, nếu có thể muối mặt hạ mình xuống làm một con vật vô lương tâm. Giữ cái phận thanh bần cho toàn nhân cách, ấy mới là khó hơn... Đã nhiều phen thấy cảnh nhà túng thiếu, thầy cũng rắp toan... mưu làm giàu bằng đủ mọi cách bất nhân bất nghĩa, đê nhục, đớn hèn nhưng bao giờ đến phút cuối cùng, tiếng gọi của lương tâm cũng đắc thắng... Giữ toàn tấm lòng thanh, giữ toàn nhân cách làm người, chí khí làm trai, làm sao cho hành vi mình cũng chính đại quang minh, do cái đạo làm người... Mày chỉ xứng đáng làm người ở cái chỗ mày cố chết để chiến đấu với những cám dỗ đê hèn của vật chất... Mày đã biết sống một cách cao quý, mãn nguyện vì mày đã hơn người, bọn tầm thường chỉ biết có thỏa mãn mà không biết bấm bụng để giữ nhân cách được thanh cao, phẩm giá được trong sạch, lương tâm được sáng sủa... Thầy muốn rằng bao giờ con cũng đem đặt danh dự làm người, cái danh dự của dòng họ ta lên trên mọi sự mưu toan... lương tâm con không bị cắn rứt, nhân cách làm người của con không bị thương tổn còn hơn là giàu có sang trọng...” (Một lương tâm trong gió lốc).


Đọc những lời lặp đi lặp lại, những lời đúng là của một kẻ ốm gần mất trí, những lời tưởng là hùng hồn để chỉ nói một hay hai ý tưởng luân lý sơ đẳng. Ta đừng vội ngờ Lê Văn Trương cốt đa ngôn để thử sự kiên nhẫn của ta, hoặc ông quá mê say sự cải cách nhân tâm thế đạo! Lê Văn Trương chỉ đương cố đánh thức cái lòng đạo đức của chính ông đấy mà thôi. Vì chỉ sống bằng lý trí, Lê Văn Trương, thỉnh thoảng vùng nhận thấy cái khô khan, cái lặng lẽ, cái rỗng không sâu thẳm của lòng mình. Ông đâm chóng mặt và, cuống cuồng, ông vồ lấy một giọt rượu mạnh lý tưởng để tự đốt nóng tim ông bằng cách pha thêm rất nhiều lời nói, những lời liên miên, những lời sảng loạn, những lời mà ông chỉ cần ở chúng có độc một hiệu lực: tự thôi miên mình. Người đứng nghe ông, thường thường bị sốt ruột bởi sự nói nhiều của ông, nhưng đôi khi cũng cảm động bởi cái giọng chân thành của ông.


 Phải, còn gì thực hơn những tiếng kêu mà một người thốt ra để đòi hỏi, cầu xin những cái chính người ấy thiếu? Lê Văn Trương nếu có thể thành thực được ông cũng chỉ thành thực với ông, với những cái ông không có. Và, bọn ta, những độc giả của ông, chúng ta chỉ là một lũ nghe lỏm ông mà thôi!


Ấy thế mà, trong bức thư đặt sau bài tựa tiểu thuyết một người. ông Trương Tửu, một phê bình gia có tiếng, không hiểu nghĩ ngợi quanh quẩn ra sao, lại đã viết: “Tôi đã đọc hết bản thảo Một người của anh (trỏ ông Trương). Tôi thành thực cảm ơn (nói cảm ơn cộc lốc cũng đủ chán) anh đã đem lại cho tôi một lạc thú tinh thần hiếm có. Bằng một nghệ thuật mãnh liệt và nhuần nhị, anh đã gợi trong lòng tôi...” và “Trong bốn tiếng đồng hồ, ngòi bút thần diệu của anh đã hoàn toàn quyến rũ và mê đắm tôi...”.


Tôi, cũng như ông Trương Tửu, đã đọc tiểu thuyết Một người của ông Lê Văn Trương, tôi cũng đã hết sức cảm động, không phải cảm động theo lối của ông Trương Tửu, nghĩa là “hoàn toàn bị quyến rũ và mê đắm”. Tôi đã cảm động như khi nghe một người mù rên rỉ đòi ánh sáng. Và chỉ thế thôi. Tôi đã ngạc nhiên đến gần như bất bình, khi thấy ông Tửu xài đến cái “nghệ thuật mãnh liệt và nhuần nhị” với cái “ngòi bút thần diệu”.


Trong khi chỉ cốt là nói cho mình dù là nói qua Một người hay là qua các tiểu thuyết khác ông Lê Văn Trương có bao giờ kịp nghĩ đến... ông Trương Tửu hay là đến tôi? Đừng nói ông Lê Văn Trương đã nghĩ đến nghệ thuật vội! Và, mỗi khi nghe ai, ví dụ ông Trương Tửu, bàn tán về nghệ thuật, cũng như về sự lắm điều của ông Lê Văn Trương, tôi đều muốn vì ông này đáp lại, bằng một đoạn của một câu của Mạnh Tử: “Ngô bất đắc dĩ dã”.


Lê Văn Trương, thoạt đầu, chỉ nói cho mình. Rồi, nhân một phút tĩnh trí, ông nhận ra rằng những cái nó cần cho ông lại chính là những cái nó cần cho phần đông quanh mình. Ông liền nảy ra cái ý định, có lẽ nó là cái ý định lớn lao nhất trong đời ông: Kêu gào tha thiết hộ người, như ông đã kêu gào tha thiết hộ mình. Thế rồi, lập tức, ông đạp tung hai cánh cửa mà nhảy xổ vào làng văn. Với một ngòi bút trong tay và một lý tưởng đạo đức không lấy gì làm cao siêu lắm ở trong đầu, Lê Văn Trương bước từng ba bậc thang lên một đài ngôn luận. Ông đã đem tới cho tâm hồn quần chúng xứ này một sự bồng bột mới, sau khi nó đã bị những vết thương đẫm máu làm tê tái và đã bị xâm chiếm bởi cái trống rỗng sau một sự cười cợt kéo dài quá cái hạn định hợp với lẽ phải. Ấy là cái lý do của sự hoan nghênh nhiệt liệt mà một số đông đã dành cho tác phẩm của ông, mặc dầu ông vẫn bị một số khác chẳng những giễu cợt mà còn coi thường.


 Trong số các người tin theo ông, chiếm phần lớn là thanh niên nam nữ. Tuổi trẻ bao giờ cũng ham lý tưởng, nhất là cái tuổi trẻ ở xứ này vẫn tìm tòi lý tưởng như tìm ánh sáng. Họ đã hồi hộp nghe ông giảng dạy. Tâm hồn họ đã rung động, sôi nổi, lòe lửa ra với những lời tha thiết của ông. Họ đã níu lấy vạt áo ông, trong cuộc chạy tìm cái tuyệt đích. Hàng nghìn bức thư, từ khắp các nơi trong nước, đã gửi tới ông để tỏ lòng khen phục ông, để nhận ông làm hướng đạo.


 Để đáp lại cái cảm tình ấy và sự đợi chờ ấy, Lê Văn Trương đã đề xướng những gì? Ông đã cực lực cổ động cái tinh thần quốc gia và đề xướng một cuộc “cách mệnh tinh thần” dựa theo “thiên lương” và “ánh sáng của Khổng học”([1]) ông tin đó là “một quan niệm làm người khác thiên hạ”([2]). Cái thái độ ấy của Lê Văn Trương nguyên lại ở sự kém hèn của giống mình, trong cái tấn kịch Âu Á gặp nhau trên đất nước này. Ông xét thấy cần phải đổi mới, cướp đường mà tiến lên để theo cho kịp người”.


Trong khi ấy, quay nhìn thực trạng xã hội Việt Nam, ông thấy “ủ trong lòng nó một hiểm tượng”.


“Một phần đông thanh niên bị văn minh vật chất cám dỗ, bị giáo dục gia đình kìm kẹp lý tưởng, tinh thần bị thành kiến hư bại của xã hội dựa theo khuôn trưởng giả, đã nhãng quên cái trí làm trai, thiên chức của tuổi trẻ và danh dự làm người.


“Lăn lóc mãi trong vực thẳm của khoái lạc đê hèn, ngụp lặn mãi trong bùn nhơ của phồn hoa hỗn tạp, cặm cụi theo mãi vết chân đẫm máu của con “bò vàng”, họ đã đàn áp hết lương năng, giày xéo lên tất cả những tình cảm thiêng liêng của cõi lòng.


“Đối với họ, Tổ quốc là một ngụy ảnh, Nghệ thuật là một hư ngôn, Danh dự là một phiếm ngữ, Tình yêu là một vô ý nghĩa, Tình bạn là một xơ mướp.


“Họ tận tụy thờ một thần tượng: thần khoái lạc; họ chỉ còn tin một luân lý: tìm khoái lạc; họ chỉ còn theo một châm ngôn: giày xéo lên tất cả để tìm và hưởng khoái lạc”.


“... Nhìn kỹ cái xã hội Việt Nam hiện tại, người ta thấy gì?


“Chỉ thấy đức hạnh bị hắt hủi, ngây thơ bị giày xéo, ngay thẳng bị thiệt thòi, đểu giả được người ta hoan hô, lố bịch được người ta sùng mộ, trâng tráo được người ta ca tụng, những quân lừa thầy phản bạn được người ta bia đá tượng đồng”.


“Cả một xã hội là một tịch mịch thê lương, trong trái tim đương kêu gào thảm thiết”.


Đã có được một thái độ và một lý tưởng ở trong đầu mà ông tin là hoàn toàn, ông liền viết, viết rất nhiều, cũng như ông đã nói rất nhiều. Ông đã tỏ ra săn sóc đến cái phần hồn của quần chúng hơn tất cả các văn sĩ hiện tại, săn sóc một cách đôn đốc, hăng hái, mê say. Tôi nói đôn đốc, hăng hái, mê say, tôi không nói sáng suốt, hợp lý và đúng với cái luật nền tảng của tâm lý. Hơn nữa, nói như trên đây, phải chăng tôi có ý thừa nhận Lê Văn Trương làm bậc giáo sư lý tưởng của tâm hồn quần chúng, cái bó đuốc rất cần để quần chúng khỏi ngã xuống hang sâu vực thẳm? Câu trả lời cho vấn đề này tự nó sẽ đến trong trí ta, một khi cái nguyên động lực của sự hoạt động xã hội của Lê Văn Trương đã được phân tích rõ rệt.


*


* *


Mở đầu sách La Fantastique existence de Mary Baker Eddy, Stéfan Zweig đã nói: “Cái lúc huyền bí nhất trong một đời người chính là cái lúc người nhận được cá tính của mình, đối với nhân loại là cái lúc nhân loại sản sinh ra các tôn giáo (L’homme vit son instant le plus mysté-rieux quand il prend consience de sa personnalité; I’humanité quand elle accouche de ses religions).


Ở Lê Văn Trương, cái lúc ông nhận rõ được cá tính ông với tất cả sự nghèo nàn của cá tính ấy có huyền bí hay không, tôi không biết. Duy điều này tôi dám chắc là, khi nảy ra cái ý định kêu gào hộ người như ông đã kêu gào cho ông, Lê Văn Trương đã mừng rơn như xẩm vớ được gậy. Là bởi, bản tâm của ông chẳng phải cái bản tâm của kẻ đã sáng mình thì sáng cho người, “tự giác nhi giác tha” như Phật Tổ đã dạy. Thực hành cái thiên chức của nhà tư tưởng, nhà đạo đức bằng sự hoạt động của nhà văn sĩ, Lê Văn Trương chỉ cốt thỏa cái khao khát ngầm ngấm như của Balzac, khi ông này nói: “Tôi muốn thống trị Âu châu về mặt tinh thần” (Je veux gouverner I’ Europe intellec-tuellement).


Cái dục vọng làm chúa tể trong cõi tâm hồn kẻ khác này, Lê Văn Trương đã hớ hênh cho ta thấy tiểu thuyết Một người, trang 137:


“... Tôi cho ở đời này cái sự nghiệp lâu bền và đáng giá nhất là cái sự nghiệp văn chương. Đấy anh xem, những công trình vĩ đại như Kim Tự Tháp, như Vạn Lý Trường Thành, như Đế Thiên Đế Thích còn đổ nát được. Duy sách vở các triết nhân là vẫn còn. Đã mấy nghìn năm, người ta cũng vẫn đọc và vẫn thấy khoái trá vô cùng. Những tác phẩm ấy, tôi dám chắc sẽ cùng bền với trời đất này. Sự nghiệp văn chương thực là vĩ đại, nó như khí giời, nó như cơm trắng, bao giờ người ta cũng cần phải dùng đến. Khí giời với cơm trắng còn là của Trời sinh ra, chứ văn chương lại chính của người tạo nên. Loài người sở dĩ dám sánh với Trời là ở chỗ ấy, ở chỗ cũng sáng tạo được những cái kiệt tác như Trời”. Lê Văn Trương chước thư lập ngôn có phải do bởi một sự cần thiết vì người đâu! Ông đã hết sức vị kỷ, ông đã chỉ cốt được là một ông Trời!


Cứ kể về một mặt, cái mộng vương bá của ông đã tạm gọi là được thỏa: Nhờ phép mầu của văn chương, ông đã tha hồ thay hình biến tướng, lúc thì là một công tử sành sỏi ăn chơi vàng trời, lúc thì là một tay doanh nghiệp đáng ngồi ngang với Bạch Thái Bưởi, lúc thì là một người chồng rất mực, “một người cha” gương mẫu, là đấng ngàn năm xưa, hiền triết Diogène đã phải đốt đuốc giữa ban ngày để tìm nhưng chưa thấy, và, sau cùng, ông luôn luôn là một tình lang lý tưởng, phàm giai nhân nào cũng nên mơ ước!


(còn tiếp)


Nguồn: Rút từ Lan Khai tuyển tập, tập 2, Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, sắp phát hành.


 


 


 







([1]) (2) (3) Một lương tâm trong gió lốc, tr 21.




 



trieuxuan.info