Lý luận phê bình văn học
18.03.2010
Lan Khai
Lê Văn Trương (tiếp và hết)

Nào đã hết cho!


Lê Văn Trương còn là một Bạo Chúa là khác nữa, trong cái thế giới tưởng tượng của ông. Ông Bạo Chúa ấy đã hò hét, quát lác đến ghê sợ, đã bẻ hành bẻ tỏi, xoay xỏa, hành hạ tất cả các hạng người thực đủ tam khoanh tứ đốm. Chỉ tiếc có một điều: cái nhân loại do ông tạo ra kia, vì cứ phải răm rắp tuân theo ý muốn của ông quá, đã thành ra một loại người máy!


Lê Văn Trương là một tâm tính trịch thượng, một tâm tính có thể chuyên chế đến tàn bạo được, nhưng Lê Văn Trương cũng biết đóng vai nhà ngoại giao, dù vụng về. Ông đã thành thực vơ lấy cái triết lý sức mạnh của Nietzsche, nhưng ông vẫn luôn miệng xưng tụng các đức tính của trái tim. Phải, trong tay có thiên binh vạn mã như Thành Cát Tư Hãn, như Tần Thủy Hoàng đế, như Néron, như Kiệt, Trụ còn chẳng ăn ai nữa là chực chuyên chế với một ngòi bút là tất cả khí giới trong tay!


Bởi vậy nên Lê Văn Trương đã lúng ta lúng túng vớ hai món bửu bối là cái triết lý sức mạnh và trái tim. Ông đã nhiều phen, như người Pháp thường nói: không biết nên nhảy nhót bằng chân nào. Và tôi, vì tình đồng chủng (người Việt Nam há không biết gì là tự ái sao!), tôi đã nêu, ở đầu thiên này, cái đề: Lê Văn Trương với trái tim, chứ không đề: Lê Văn Trương với triết lý sức mạnh. Tôi không muốn một nhà văn Việt Nam phải dùng lại món hàng ngoại quốc ấy để làm xương sống cho cả cái sự nghiệp của mình!


II. LÊ VĂN TRƯƠNG VỚI CUỘC ĐỜI


Dù kẻ tín đồ bậc nhất của ông đi nữa cũng phải thất vọng vì ông, một khi mà Lê Văn Trương bước từ cõi tưởng tượng vào thực tại.


Tôi chắc ai đã một lần đụng chạm với Lê Văn Trương, người ấy tất sẽ giữ mãi, trong trí nhớ, cái hình ảnh một thanh niên ngoài ba chục tuổi, tầm vóc cao nhớn, dáng đi lừ lừ như một con cá trắm lội, với một màu da bánh mật, với một gương mặt rắn câng, một cái trán hẹp của người thiết thực, có đôi mắt sâu, gườm gườm, và có những cái nhìn nhanh như chớp. Miệng không rộng, môi trên hơi kênh lên bởi một chiếc răng cửa khểnh. Cái miệng ấy, mỗi khi toét ra cười, thường cho ta một cảm tưởng dễ chịu nó sẽ mất đi ngay, nếu Lê Văn Trương bắt đầu nói. Lê Văn Trương nói, cũng chẳng khác chi người bị trói cố cựa cho dây đứt. Ông vừa nói vừa thở hổn hển; bao nhiêu thớ thịt trên mặt ông đổ xô lại hai bên sống mũi; trán ông rúm thành những đường nhăn ngang nó muốn kéo đôi lông mày thưa lên gần mái tóc để ngắn một cách trơ trẽn; hai mắt ông long lanh và cặp lòng đen thường đảo lộn, đưa ngược lên rồi hạ thấp dần xuống một bên góc mắt. Trong khi nói, ông lại hay có thói quen đưa cánh tay phải ra phía trước, ngón trỏ dựng đứng lên trời, hoặc cả bàn tay xòe rộng và lia qua lia lại trước mặt người nghe, như cái bàn tay của nhà thôi miên. Không rõ bản tâm ông muốn tự kỷ ám thị hay muốn thôi miên kẻ chịu chuyện để ông có thể tùy thích muốn nói gì cũng được?


Nghe Lê Văn Trương, những ai có tính bộp chộp và hay quyết đoán trong sự bày tỏ ý mình thường cáu kỉnh hạ một câu phán đoán: “Đồ nói khoác!”. Trái lại, ta sẽ chỉ mỉm cười, nếu ta có óc nhận xét, hiểu sự phức tạp của con người, khoan dung và kiên nhẫn. Là bởi, chẳng hạn đánh đùng một cái, Lê Văn Trương ở đâu nhảy xổ đến bảo ta rằng: “Tao vừa cho thằng ăn mày chỗ kia cả ngàn bạc” ấy không phải Lê Văn Trương định giễu ta là một thằng khờ. Không đâu! Lê Văn Trương, chính lúc ấy, đương sống rất sôi nổi và trọn vẹn cái tâm trạng của một ông Mạnh Thường Quân đấy, tuy sự thực, ông chẳng đã quẳng cho ai lấy một đồng trinh. Lê Văn Trương có lừa ai đâu; ông chỉ tự mê hoặc ông mà thôi. Hình như không làm thế Lê Văn Trương sẽ cảm thấy cuộc sống của mình nghèo nàn và trống rỗng.


Tôi chưa từng được theo sát Lê Văn Trương, những khi ông hoạt động ở các địa hạt khác, ngoài cái thế giới văn sĩ. Tôi, tuy vậy cứ đoán cũng chắc được rằng Lê Văn Trương, trong các nơi này, cũng đã bị giễu cợt, ghét bỏ và thù oán. Bởi sao? Bởi ông đã có thể khơi ra các cái ấy ở đây, ông tất đã có thể khơi các cái ấy ra ở kia. Và, ở kia, các cái ấy còn tàn bạo gấp nghìn lần ở đây nữa: trong thế giới văn sĩ, thiếu hẳn cái nó hằng dựng đứng hai thằng người lên trước mặt nhau ấy là đồng tiền. Lê Văn Trương thích tiền lắm, vì ông biết nó là một trong các khí giới tốt nhất cho kẻ chuyên chế. Ông đã chịu khó “mười năm luân lạc”, ông đã vỗ ngực khoe “Tôi thầu khoán”, nghĩa là ông đã từng lẻn ra thế giới văn sĩ để đuổi theo con bò vàng. Lê Văn Trương lăn xả vào đồng tiền. Sự xung đột, sự thù ghét phải là một cái gì không thể tránh được. Huống hồ, Lê Văn Trương lại còn là... Lê Văn Trương!


Nhưng... viết đến đây, tôi không thể không dừng bút mà bâng khuâng... Tôi nghĩ vơ vẩn mãi về cái điều kiện con người chung của chúng ta. Tôi nghĩ đến những cái tật cố hữu của mọi thằng người, những cái tật mà ta cứ đeo, như kẻ tội nhân đeo xiềng xích! Những tật ấy sinh cùng với ta và chỉ mất trừ khi nào chính ta cũng không còn. Chúng không sợ học vấn, chúng coi thường kinh nghiệm, chúng cười vào mũi sự thanh tâm đi tới cái trí thiện của ta. Một tình thương mênh mông tràn vào lòng tôi. Tôi ai oán cho giống người, trong họ, có cả tôi nữa. Và, tôi chợt nhớ một câu của một thi sĩ Pháp, Emile Verhaéren: “Hạnh phúc, ấy là yêu được tất cả. Thiên tài, ấy là đem mình phân phát cho tất cả” (Le bonheur, c’est d’aimer tout. Le Gðnie, c’est de se donner à tout).


 


III. LÊ VĂN TRƯƠNG TRƯỚC ÁI TÌNH


Muốn rõ cái tội của mỗi anh đàn ông, ta chỉ việc đẩy anh chàng đến trước một người đàn bà.


Tôi đã có dịp nhận xét Lê Văn Trương, khi ông đứng trước một người đàn bà.


Vậy Lê Văn Trương là người thế nào? Cái tôi của Lê Văn Trương, trong khu vực này, ra làm sao?


Trên kia, tôi đã chứng tỏ rằng Lê Văn Trương chỉ sống thuần bằng trí não, rất thiết thực đối với đồng tiền. Và, theo bức truyền thần tôi đã vẽ ông, Lê Văn Trương là một người khỏe mạnh. Nhiều người ở gần Lê Văn Trương đã nói rằng ông có thể ngồi viết luôn mười tiếng đồng hồ, trong một ngày. Tôi lại đã thấy ông thức sáng đêm để dự một cuộc hành lạc mà không biết mệt. Tóm lại, Lê Văn Trương nói theo sự lầm tưởng của người mình có chân thật rất tốt([1]) nghĩa là Lê Văn Trương có thể luôn luôn bị thôi thúc bởi nhục dục. Ông cần phải có đàn bà thường khi. Với đàn bà, ông thường không từ chối một cách thỏa dục nào.


Nhưng, một khi xác thịt đã thôi mè nheo ông, óc ông liền nhảy ra sân khấu. Nó nhận xét, giải nghĩa và kết luận. Thế rồi cả tâm hồn ông chồm dậy và lại kêu gào những cái gì là trong sạch, là cao quý, là tuyệt phẩm.


Sự tiếp xúc giữa ông với đàn bà tức khắc làm cho “dây thần kinh bị điện giật”, da thịt bốc lửa... đặt cái hôn nóng cháy lên môi... Một cánh tay gò lấy đầu... hai làn môi nóng hôn trả lại”, và qua lần áo lụa, mắt ông “ức đoán thấy những bộ phận tròn trĩnh và nõn nà giấu ở trong... lại mùi nước hoa, mùi phấn... ngần ấy cái làm cho hoa mắt”. Thế rồi, ngay sau đấy, một cái gì lạ gieo vào thân trí... một hối hận, đem đến cho cử chỉ... một ngượng nghịu... thầm trách ông được là vì trời đã sinh cho ông một “khối óc đủ khôn ngoan để tìm lấy con đường phải” và “đi tìm lấy những cái nó che lấp những điều trái của mình”. Bằng cách nào? Bằng cách gào tướng lên: “muốn cho người yêu trong sạch, trong sạch mãi mãi và chẳng phải thẹn thùng...”. Lúc này, ông tạm thôi ham muốn, để thấy “lòng bồn chồn vì... những viễn tưởng tẻ lạnh sắp có của hậu nhật. Một thê lương bi đát vụt theo đến gặm nhấm tim gan rồi bơm cái rã rời ra khắp cơ thể”. Ông “thấy một sự cần dùng là phải yêu và được yêu” để cho “đủ sức mạnh đối phó với cái bất ngờ của ngày mai, đương đầu với phù trầm của số kiếp”. Ông náo nức lên với cái lý tưởng rồi có khi ông lại cảm hứng như một thi nhân “... và để cho nước mây chứng kiến cuộc tình duyên của chúng mình”.


Ở trong địa hạt tình ái, Lê Văn Trương cũng hằng bị xô đi đẩy lại bởi nhiều cái trái ngược nhau như thế, nên, lúc tỉnh, ông đau khổ vô cùng. Có điều, chẳng bao giờ ông chịu hé răng thú thực rằng mình đau khổ. Người hùng kia mà! Ta sở dĩ biết được cái đau khổ âm thầm trong tâm ông, ấy chỉ vì thỉnh thoảng được nghe ông tự nhiên nói giọng từ bi hỷ xả rất trái ngược với cái tinh thần khác kỷ mà ông hằng ngày vẫn lớn tiếng tuyên truyền:


“Tuy chàng thụ cái giáo dục của Khổng giáo, chàng không cố chấp đem mình ra trong những tư tưởng hẹp hòi”.


“Chàng xét bà Hàn chẳng có tội gì. Chồng chết bà mới có bốn mươi tuổi, bà có quyền nghĩ đến sự hoan lạc cho những ngày còn lại. Cũng biết một đôi chút về sinh lý, chàng cho cử chỉ của bà Hàn là một cử chỉ rất thường của những đàn bà góa đã không được gần đàn ông trong lâu năm... Loài người bị dục tình thôi thúc, có nghĩ đâu đến những ảnh hưởng về sau này... Cái khổ của đời... là phải du vào tình thế mà những bổn phận không đi đôi với những ước muốn tự nhiên... An muốn ghét... mà lòng rộng xét của chàng lại không cho ghét. Chàng chỉ ái ngại”([2]).


IV. TÁC PHẨM LÊ VĂN TRƯƠNG


XÉT THEO PHƯƠNG DIỆN TIỂU THUYẾT


Nhân phê bình một văn sĩ Pháp, Guy de Maupassant, văn hào Nga Lev Tolstoi cho rằng một công trình sáng tác mỹ thuật phải gồm có ba điều kiện sau đây:


1. Sự tương quan thường, nghĩa là sự tương quan đạo đức của tác giả đối với cái đề mình trị (le rapport normal, c’est à dire moral entre l’auteur et le sujet qu’il traite). Nói nôm là sự phân biệt cái thiện đáng tả với cái bất thiện không đáng tả.


2. Sự sáng suốt trong cách phô diễn, hay cái đẹp về hình thức cũng là một (la clarté de l’exposition ou la beauté de la forme, ce qui est tout un).


3. Sự thành thực nghĩa là cái yêu hoặc cái ghét thốt ra tự tim của tác giả đối với cái mình nói (La sincérité, c’ét à dire un réel sentiment d’amour ou de haine pour ce que dépeint l’artiste)([3]).


Nếu ta đem áp dụng ý kiến của Lev Tolstoi vào cái trường hợp Lê Văn Trương thì ta thấy ông có điều kiện thứ nhất và điều kiện thứ ba; ông thiếu hẳn điều kiện thứ hai.


Lê Văn Trương đã tự nhận là tay hướng đạo của tâm hồn quần chúng, ông tất nhiên phải có một thái độ đạo đức trước sự vật.


Lê Văn Trương, về một phương diện, quả thật đã chân thành, như tôi đã nói.


Giờ, tôi kể về cái sáng suốt trong cách phô diễn nó là cái điều kiện mà Lê Văn Trương thiếu hẳn, hay nói tác phẩm Lê Văn Trương thiếu thì cũng vậy.


Sự thiếu sót do các lẽ sau đây:


a) Lê Văn Trương hay lải nhải lặp đi lặp lại những cái ông đã nói lải nhải nhiều lần (xem các đoạn văn trích).


b) Lê Văn Trương ham độc đoán, ham sai khiến, lại không có quan sát nên các nhân vật của ông thiếu hẳn cái chất người (bà Hàn trong Một lương tâm trong gió lốc, vừa ở buồng An ra mà lại có thể túm ngay con gái mình đánh chửi, vì cô này nghe An ốm định vào thăm An. Nên nhớ bà Hàn đánh chửi con gái ngay trước mặt An. Các nhân vật của Lê Văn Trương còn phường tuồng nữa (Linh nhắm mắt, nắm hai tay đưa lên miệng hôn... hôn bàn tay tưởng tượng của ông xếp đã tát mình - Một người) và lỗ mãng (Linh đã ném vào giữa mặt cô gái nhảy tỏ ý yêu chàng câu: “Thưa cô tôi liệt dương”).


c) Các tiểu thuyết của Lê Văn Trương đều chỉ có một giọng. Thực thế qua những tình, những cảnh mà ông cố làm cho éo le, phiền phức, bao giờ ta cũng thấy độc một vai quen thuộc, hoặc đàn ông, hoặc đàn bà, một vai say bứ những lương tâm, đạo làm người, danh dự, sức mạnh, cả tiền nữa, nhảy ra sân khấu. Vai ấy nhảy múa, hò hét, lăn lộn, khóc, cười và giảng nghĩa một hơi để, sau cùng, tất nhiên thu cái toàn thắng về cho các món bửu bối của mình. Ý như trong các vở tuồng cổ: một vai trung thần, hay là hiếu tử, hay là tiết phụ, hay là nghĩa phu bắt đầu hãy khổ sở điêu đứng chán chê đi đã rồi, lúc sắp hạ màn, sẽ đốt pháo ăn mừng vì được nhà vua phong chức hoặc tứ hôn! Bởi vậy, tiểu thuyết Lê Văn Trương có một cái nhàm chết người, mặc dầu nhà xuất bản vẫn cổ động “rất ly kỳ, rất say đắm”.


Còn điều này nữa: nhiều người, tự nhận là những phê bình gia hẳn hoi, đã bảo Lê Văn Trương là một nhà quan sát, một văn sĩ tả thực nữa, mới là lạ chứ! Không, Lê Văn Trương có tả thực bao giờ. Ông chưa từng quan sát, ông chỉ giải thích.


Ngài không tin ư? Xin mời ngài đọc Một người, cái đoạn văn dài thườn thượt nói là tả hồ Hoàn Kiếm (từ trang 10 đến trang 20), hay là cái đoạn văn, Trong ao tù trưởng giả, nói về các “sa lông” các nhà phú hộ (từ trang 23 đến trang 26). Nhân tiện, tôi trích ngay đoạn văn dưới ra đây:


“Cứ nhắm mắt ngồi nhà, ta cũng phỏng đoán gần đúng được “sa lông” của ông X, hay ông Y, trang hoàng thế nào, bày biện thế nào, có những gì, nếu người ta nói cho ông X, ông Y có bao nhiêu ruộng, bao nhiêu nhà, lợi tức hàng năm bao nhiêu”.


Những tiểu tiết có khác, nhưng đại để thì cũng một cái tủ chè kê sát tường, một cái sập để ngoài tủ chè, và ở gian ngoài, ngay chỗ cửa vào kia là bốn cái ghế và một cái bàn kiểu Tàu với một bộ bát bửu, với một đôi lọ lộc bình cổ, với một ít đôn sứ, thấy rải rác các nơi, với một ít câu đối, hoành phi treo chỗ này chỗ nọ.


Có khác là gỗ trắc hay gỗ gụ, khảm hay không khảm, đổ sứ cổ hay không cổ.


“Một trăm nghìn bộ “sa lông” của những gia đình trưởng giả rập khuôn theo nhau cũng như một trăm một nghìn cái đầu óc trưởng giả có những khuynh hướng, ước vọng giống nhau và đều bị ảnh hưởng bởi những thành kiến, những tập quán hẹp hòi...”.


“Cái nhà mày là mày đó”.


“Cứ nhìn những cách bày biện trang hoàng của những gia đình trưởng giả cũng có thể nhận thấy cái tinh thần chung của họ...”


“Cái “sa lông”, của họ cũng như lòng họ là một thế giới không sóng gió” v.v...


Đọc mẩu văn này, ta thấy rõ ràng Lê Văn Trương không tả mà chỉ luận. Lê Văn Trương, không nhìn. Ông suy nghĩ và giảng giải. Ở ông, chỉ có óc làm việc. Ông là người duy trí, tâm hồn ông khô như cát. Nếu ông đã có và sẽ có một hành vi nào đáng cảm, ấy là vì trí ông đã chịu và quyết định cái hành vi ấy. Lê Văn Trương không bao giờ biết cái gì là trực nhiên hết.


V. KẾT LUẬN


Lê Văn Trương, thủy chung, vẫn đòi hỏi những cái tuy ông không có mà trí ông vẫn ca ngợi và thán phục. Ông chưa tính xong việc mình, ông lại đã hăm hở đòi tính lại việc người. Ông đã nhác việc nhà để chăm lo việc chú bác. Làm cái việc sau này, Lê Văn Trương liệu có thu được một chút hiệu quả nào như lòng ông muốn chăng?


Ông đã được thỏa mãn ít nhiều về cái thói chuyên chế, cái thói làm đàn anh kẻ khác: sự hoan nghênh những tác phẩm của ông và những bức thư của độc giả gửi tới đã cho ông được một ảo tưởng rất phỉnh phờ về cái quyền lực của ông trên tâm hồn kẻ khác. Chỉ thế thôi. Còn nói về ảnh hưởng tốt cho quần chúng thì tôi, tôi ngờ lắm!


Một là bởi cái quan niệm của ông về cuộc đời đã rất sai lầm. Chính cái quan niệm sai lầm này đã khiến ông Lê Văn Trương vẫn ca ngợi tình thương cùng đủ mọi đức tốt của trái tim có thể chửi vào mặt một con đĩ (Một người, trang 255), và gọi một bọn người cùng khốn là một lũ ăn cắp (Một lương tâm trong gió lốc, trang 80).


 Một nghìn chín trăm năm trước đây, chúa Jésus đã mở đầu cuộc thuyết pháp của ngài bằng câu: “Một là các người hãy thay bỏ cái quan niệm của các người về cuộc đời, hai là các người sẽ chết không còn một mống” (Changez votre conception de vie ou vous périrez tous). Ông Lê Văn Trương nên suy nghĩ kỹ về câu ấy! Nếu không, ông làm gì, nói gì đi nữa cũng bất quá như viết chữ trên mặt sông và diễn thuyết ngoài sa mạc.


Hai là các mẫu người lý tưởng mà ông quen chưng ra trước mắt quần chúng đều không người một chút nào hết. Chúng chỉ là những hình nhân múa rối, chúng chỉ là một câu dối lừa. Romain Rolland, trong sách Michel Ange, trang 10, đã nói: “Tôi không đời nào lại dựng tượng thờ các vị anh hùng mà nhân loại không thể gần gụi được. Tôi thù ghét cái thói duy tâm hèn nhát, nó khiến mắt ta không dám nhìn thẳng vào các nông nỗi bần tiện của kiếp người và những yếu hèn của tâm hồn. Phải bảo cho một dân chúng dễ xiêu lòng vì những ảo ảnh vô tích sự, gây nên bởi những lời nói huênh hoang, cái sự thực này: sự nói dối dù rất anh hùng khảng khái cũng chỉ là một sự hèn nhát. Ở đời chỉ có độc một sự anh hùng ấy là nhìn cuộc sống đúng với thực trạng của nó và cứ yêu được cuộc sống ấy như thường” (Je n’élève point de statues de héros inacessibles. Je hais l’idéalisme couard qui détourne les yeux des misères de la vie, et des Faiblesses de l’âme. Il faut le dire à un peuple trop sensible aux illusions décevantes des paroles sonores: le mensonge héroique est une lâcheté. Il n’y a qu’un héroisme au monde, c’est de voir le monde tel qu’il est, et de l’aimer). Tôi xin mượn câu của Romain Rolland để kết luận sách nhỏ này.


 


Mai - Juillet 1940


 Minh Phương xuất bản, xong ngày 15-09-1940 tại Nhà in Trung Bắc Tân Văn


Henri D’orleans, Hà Nội, 33 trang, 3100 cuốn.


Nguồn: Rút từ Lan Khai tuyển tập, tập 2, Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, sắp phát hành.


 


 


 







([1]) Tóm lại, không thể chối cãi được rằng các tài năng lớn thường đã là những người mà hạch sinh dục rất nảy nở; rằng trái lại, bọn hoạn quan không bao giờ để ai phải chú ý bởi tài năng của chúng. Ấy không phải có nghĩa rằng phàm các thượng đẳng nhân vật phần nhiều đều đa dục. Họ chỉ cần mang đặt các khả năng của họ vào trong cái trật tự tối cao của nghệ thuật, thẩm mỹ hoặc tôn giáo vậy. (It est incontestable, en tous cas, que les grands genies ont, toujours, été des homes dont les giandes génitales étaient bien développées; que, par contre, les eunuques ne se sont jamais signalés par leur génie. Ce qui ne veut pas les hommes supérieurs ont eté en génneral des hommes sensuels; Ils ont seulement transposé leurs possibilités dán I’ordre supérieur de I’Art, de I’Es thétique ou de la Religion) - I’homme de vant la médecine par le Docteur Jean Arril Blachette, page 66.




([2]) Các mẫu câu trong dấu ngoặc kép đều được trích ở Một lương tâm trong gió lốc.




([3]) Zola - Dumas - Guyde Maupassant par Léon Tolstoi, page 98 -99.



trieuxuan.info