Liên hệ giữa tâm và cảnh Tâm và cảnh cũng cùng chung một thể tính. Ðối tượng của nhận thức và chủ thể của nhận thức nương nhau mà hiện hữu. Khi ta đang thấy một cái hoa chẳng hạn, thì nhờ đối tượng là cái hoa mà ta biết rằng chủ thể (cái thấy) cũng đang hiện hữu:
Thây vật liền thấy tâm
Không vật tâm không hiện. (Kiến vật tiện kiến tâm
Vô vật tâm bất hiện) Bởi thế cho nên thượng sách là trở về chân tâm, vốn là cơ bản của cả tâm lẫn cảnh:
Thấy theo sắc mà hết
Nghe theo tiếng mà bay
Trở về là thượng sách
Hôm qua và sáng nay
(Nhãn quang tùy sắc tận
Nhĩ thức trục thanh tiêu
Hoàn nguyên đương biệt chỉ
Tạc nhật dữ kim triêu)
Liên hệ giữa thiện và ác:
Thiện từ tâm sinh ra
Ác cũng từ tâm khởi
Thiện ác vốn không thực
Chỉ có nơi tâm ta
Bỏ ác, đem vứt đâu?
Chứa thiện cất nơi nào? (Thiện ký tòng tâm sinh
Ác khởi ly tâm hữu?
Thiện ác thị ngã duyên
Ư tâm thực bất hữu
Xả ác tòng hà khứ?
Thủ thiện, kim thùy thủ)
Trên căn bản những nhận thức trên, Hương Hải đề nghị phương pháp sau đây:
1. Không chạy trốn sự vật. Ðối tượng của giác quan như âm thanh, hình sắc, hương vị v.v... sở dĩ áp đảo được tâm ta vì tâm ta chưa quán sát và thấu đạt được bản chất của tâm cũng như của những đối tượng ấy, Cầu sự an tâm bằng cách chạy trốn sự vật tức là thú nhận sự bất lực của mình. Bản chất của tâm cũng như của sự vật là chân tâm - nghĩa là thực tại không sinh diệt, mà văn học Bát nhã gọi là không. Nếu tâm đã trở về chân tâm thì cảnh cũng trở về chân cảnh: không cần có sự chạy trốn mà giải thoát trở thành hiện thực. Hương Hải viết: “Phàm người ta phần nhiều vì sự cho nên làm ngăn chặn lý, vì cảnh mà ngăn chặn tâm, muốn trốn chạy cảnh để tìm sự an tâm, quên sự giữ lý, mà không biết rằng chính tâm của họ ngăn chặn cảnh, lý của họ ngăn cản sự. Nếu họ biết làm cho tâm không thì tự nhiên cảnh cũng không, làm cho lý lặng thì tự nhiên sự cũng lặng, cảnh không còn khống chế được tự tâm nữa”. Ðể nêu rõ nguyên tắc không trốn chạy sự vật và không bỏ phàm theo thánh, không bỏ mê theo ngộ, thiền sư Hương Hải đã viết bài thơ sau đây:
Thân vọng tới gương soi bóng
Bóng với thân vọng giống nhau
Chỉ muốn giữ thân bỏ bóng
Vọng thân vốn có thực đâu
Thân kia với bóng đồng nhất
Một không một có được nào?
Kẻ muốn giữ một bỏ một
Cách xa sự thật biết bao!
Người nào ưa thánh ghét phàm
Sẽ mãi sinh tử phiền não
Phiền não vì tâm mà có
Vô tâm phiền não ở đâu?
Hễ đừng phân biệt cháp tướng
Ðương nhiên chứng được đạo mầu
(Vọng thân lâm kính chiếu ảnh
Ảnh dữ vọng thân bất thù
Ðãn dục khử ảnh lưu vọng
Bất tri thân tự bổn hư
Thân bổn dữ ảnh bất dị
Bất đắc nhất hữu nhất vô
Nhược dục tồn nhất xả nhất
Vĩnh dữ chân lý tương sơ
Cánh nhược ái thánh tăng phàm
Sinh tử hải lý trầm phù
Phiền não nhân tâm cố hữu
Vô tâm phiền não hà cư?
Bất lao phân biệt thủ tướng
Tự nhiên đắc đạo tu du).
“Vô tâm phiền não hà cư”! Nếu giữ được trạng thái “vô tâm” thì phiền não không còn chỗ để nương tựa. “Vô tâm”, theo Hương Hải là bí quyết của sự giác ngộ.
2. Giới luật cao nhất là sự vô tâm. Giới luật không phải là sự cấm đoán không cho con người tiếp xúc với sự vật. Nếu giới luật chỉ là sự cấm đoán ấy thì đó chưa phải là phương thuốc căn bản mà có là một sự trốn chạy. Giới luật cao nhất là sự quan sát thường trực để có thể ở trong thanh sắc mà thanh sắc vẫn phải phục tòng theo mình: “Biết rằng khi mê thì người theo cảnh, cảnh thiên sai vạn biệt và người thì không phải là đồng nhất với mình; khi ngộ thì cảnh đi theo người, người đã nhất trí dung hóa được vạn cảnh”. Ông lại nói:
“Giới luật của tự tính là giữ thái độ vô tâm đối với vạn pháp
Trí tuệ của tự tính là giữ thái độ vô ngại đối với vạn pháp,
{Tâm ta vững chãi} không thêm không bớt, như kim cương,
{Tâm ta tuy có} đi tới đi lui, cũng vẫn an trú trong định”.
(Nhất thiết vô tâm tự tính giới
Nhất thiết vô ngại tự tính tuệ
Bất tăng bất giảm tự kim cương
Thân khứ thân lai bản tam muội)
3. Thành Phật ngay trong giờ phút này. “Vô tâm” không phải là sự hờ hững thiếu chú ý. Vô tâm là cái thấy sáng suốt, không mắc kẹt bởi tư kiến và tư dục, không kỳ thị phân biệt; cái thấy không còn bị khuynh hướng nhị nguyên điều khiển. Ðối với cái thấy ấy thì không còn có sự phân biệt chủ thể và đối tượng, tâm và cảnh, mê và ngộ, có và không. Mở mắt mà nhìn thực tại với cái tâm “vô tâm” ấy thì giây phút nào cũng là giây phút giác ngộ nơi nào cũng là Phật. ‘Khi sự phân biệt chủ thể đối tượng đã chấm dứt, và chính ý niệm chấm dứt ấy cũng chấm dứt nữa, thì trí tuệ có mặt; tâm niệm nào cũng là Phật, không có tâm niệm nào không phải là Phật, ở đâu cũng thành đạo, không có cõi nào mà không là cõi Phật” Muốn thực hiện được trí tuệ Bát nhã kia, phương pháp hữu hiệu nhất là sống cuộc sống hàng ngày với sự thức tỉnh:
“Trong đời sống hàng ngày không có gì không phải là đạo, hễ tâm an thì đó là thiền”
(Nhật dụng vô phi đạo
Tâm an tức thị thiền)
Thì ra phương pháp của Hương Hải đề nghị không có gì là rắc rối khó hiểu. Hồi ông được vua Lê Dụ Tông mời vào cung, vua hỏi ông: “Trẫm nghe lão sư học rộng nhớ nhiều, xin thuyết cho trẫm được giác ngộ rành rõ”. Ông không thuyết pháp dài dòng, chỉ xin vua nhớ cho một bài kệ. Bài kệ này có thể tóm tắt được phương pháp của Hương Hải:
Mỗi giây phút trở về nghe ngóng tâm ta
Quan sát và tư duy cho cặn kẽ
Không cần đi tìm tri thức trong mộng
Sau này sẽ thấy mặt Phật trên mặt mình
(Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm trí thức
Tương lai diện thượng đỗ sư nhan)
Mục đích của sự tu học là giải thoát. Ðức Quan Thế Âm nhờ quan sát ngoại giới, soi thấu bản chất của ngũ uẩn mà đạt được tự do, cho nên được gọi là Quán Tự tại.
Hương Hải hường khích lệ các đệ tử thực hành theo bài kệ sau đây mà ông rất ưa nhắc lại:
Hãy tự do trong sự thấy, nghe, hay, biết;
Trong khi tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Hãy an trú nơi chính niệm
Như chim trên trời chỉ tự bay
Không lấy, không bỏ, không ưa, không ghét,
Nên giữ thái độ vô tâm trong mọi trường hợp
Thì mới có thể gọi là Quán Tự Tại.
“Vô tâm” là danh từ và phương châm rất đắc ý của Hương Hải. Hình ảnh đẹp nhất về vô tâm là hình ảnh mà ông đã trình bày cho vua Dụ Tông nghe, khi nhà vua hỏi về thâm ý của đạo Phật:
Nhạn bay ngang trời
Bóng chim đầm lạnh
Nhạn không có ý để lại dấu tích
Nước không có ý lưu bóng hình
(Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm)
THƠ NÔM CỦA HƯƠNG HẢI
Ðể có ý niệm về thơ Nôm của Hương Hải, ta hãy đọc một đoạn trong Sự Lý Dung Thông:
Những thánh hiền nguồn nhân biển quả
Xưa tu hành trí đã rộng cao
Trong nơi ba cõi ra vào
Mười phương tri thức ai vào khá nghi
Nguyện in thanh hải tịnh trì
Thềm lan bóng trúc hề tri viên ngần
Phên dày nước chảy khôn ngăn
Mây ruổi ngoài trần há động non cao
Sự nài bao hang sâu tiếng dội
Ðèn hãy dùng chớ nỗi chờ trăng
Ðường lên diệu lộ cao thăng
Giải, Hành hai chữ há rằng làm sai.
Tạng Như Lai(70) làu làu thanh tịnh
Nắm hương lòng(71) hằng kính hằng tin
Ðòi phen giải thoát tự nhiên
Dụng như chân trí, gương thiền ráng thâu
Lộc dương theo dấu hay đâu.
Nê ngưu vào biển rộng sâu khôn tìm(72)
Bao nhiêu chim bay về lạc tổ
May che ngoài ngõ ổ hang xưa...(73)
{...}
Ðạo viên minh ngại chi chân tục
Miễn lòng rồi(74) tri túc thời nên
Năm mươi lăm phẩm dưới trên
Luyện Tam Muội hỏa chí bền Kim Cương
Nhân thiên mấy đấng phóng quang
Tam hiền thập thánh một đàng cao siêu
Cày mây, cuốc nguyệt đã nhiều
Chứng vô thượng sĩ(75) danh tiêu mới nồng....
Học sinh Hương Hải thường được gọi là Tổ Cầu. Ðạo tràng của ông sáng lập và chủ trì cuối thế kỷ thứ mười bảy và đầu thế kỷ thứ mười tám đã trở thành một tùng lâm lớn, một thiền phái lớn mà pháp đăng còn truyền lại mãi cho tới ngày nay.
---------
(*) Kiến văn tiểu lục cho biết năm Giáp ngọ (1714) niên hiệu Vĩnh Thịnh, Hương Hải thiền sư 87 tuổi. Theo cách tính tuổi ta thì ông phải sinh năm Mậu thìn (1628) niên hiệu Vĩnh Tộ thứ mười đời Lê Thần Tông (N.H.C)
(*) Hương Hải thiền sư ngữ lục (VHv. 2379) và Ðại Việt sử ký tục biên (bản dịch của Ngô Thế Long và Nguyễn Kim hưng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991) đều ghi tên là Trịnh Liễu. Còn Việt sử thông giám cương mục là Trịnh Ðiềm, và Kiến văn tiểu lục là Trịnh Na (N.H.C.)
(65) Theo Kiến Văn Tỉeu Lục. Theo Thích Trí Hiếu, thì số tác phẩm của Hương Hải là hai mươi cuốn (Ðuốc Tuệ, số 7, ra ngày 21.1.1936, Hà Nội).
(*) Thực ra, Trịnh Căn đã chết từ năm 1709. Vì thế người đến thăm chùa Nguyệt Ðường phải là Trịnh Cương, lên nắm phủ Chúa trong những năm 1709-1729 (N.H.C)
(66) Bài thơ do Thiền sư Thích Trí Hiếu, trú trì chùa Xích Ðằng Nguyệt Ðường cho đăng trong Ðuốc Tuệ số 7, ra ngày 21.1.1936, Hà Nội).
(*) Theo Kiến văn tiểu lục, Hương Hải Thiền sư chết ngày 12 tháng năm năm Ất mùi (1715) (N.H.C).
(67) Chá Cô Khúc là một điệu hát vui giọng Nam ở Cổ Nhạc Phủ, khiến người miền Nam ở đất khách mỗi khi nghi lòng nhớ nhà. Thơ Hoàng Dĩnh Kiên có câu:
Trong nhà có khách Giang Nam viếng
Ðừng hát Chá Cô theo gió xuân.
(Tọa thượng nhược hữu Giang Nam Khách
Mạc hướng xuân phong xướng Chá cô)
(68) Thích Trí Hiếu có cho in trong tập san Ðuốc Tuệ số 7, ra ngày 21.1.1936, hai bài thơ của Hương Hải, một bài ngâm vịnh cảnh xuân, một bài đề tặng quan trấn thủ Sơn Tây. Sau đây là hai bài ấy, không thấy chép trong Kiến Văn Tiểu Lục:
1. Tam dương khai thái chuyển hồng quân
Cửu thập thiều quang sắc sắc tân
Dạ tính thanh phong chiêu ngọc lộ
Nhật tình thụy khí ái từ vân
Sơn cao lâm thụ hy kỳ mỹ
Bình địa viên hoa phức úc huân
Xứ xứ nghênh trường ca vạn thọ
Nhân nhân hòa mục vĩnh thiên xuân.
2. Hướng minh quy mệnh sự quân vương
Yết kiến tôn công khánh thọ đường
Tài dụng kinh luân kim đức hạnh
Ân thi lễ nghĩa quý văn chương
Ngoại trừ đạo tặc bình dân ái
Nội dưỡng chinh liêm sĩ tốt cường.
Quyền trấn Nam giao danh tứ hải.
Khuông phù quốc chính lạc quần phương.
(69) Trong Kế Ðăng Lục câu đầu là: “Sấu trúc trường tùng trích thúy hương”, câu ba là: “Bất tri thùy trú Nguyên Tây tự”.
(*) Theo Lê Mạnh Thát trong vài Về tác giả bài thơ “Xuân Nhật tức sự”. Tạp chí văn học, số 1-1984, thì “trong số 40 bài thơ do Lê Quý Ðôn chép lại trong Kiến Văn Tiểu Lục nói là của thiền sư Hương Hải, có đén 32 bài là của tác giả Trung Quốc đời Tống mà ta có thể tìm lại trong các sách Trung Quốc hiện còn” (N.H.C.)
(70) Như Lai Tạng là nền tảng mầu nhiệm của mọi hiện hữu.
(71) Năm thứ tâm hương để cúng đường Phật: giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.
(72) Nê ngưu: Trâu làm bằng đất bùn. Trâu đất bùn đi vào biển không để lại dấu vết.
(73) Nhắc câu “niêm” dau đây của Trần Thái Tông:
Một đám bạch vân qua trước động
Bao nhiêu chim chóc lẩn đường về
(Nhất phiến bạch vân hoành cốc khẩu
Ký đa quy điểu tận mê sào)
(74) Lòng rồi tức là lòng rỗi, sự thảnh thơi không bị bó buộc của tâm hồn.
(75) Danh hiệu của Phật.
Nguồn: Việt Nam Phật giáo sử luận. Nguyễn Lang. NXB Văn học, 2000. |