Những bài báo
16.10.2016
Lê Đỗ Huy
Chiếm lại thành cố Quảng Trị: ‘thắng lợi’ trống rỗng

Sau 5 tháng phản kích ác liệt dưới sự yểm trợ của không lực ngang tầm “bom nguyên tử”, quân Sài Gòn đã chiếm lại thành Quảng Trị. Nhưng kể từ đó, không một tấc đất nào mới được giải phóng trong Cuộc tiến công chiến lược Xuân 1972 bị cướp lại, mà trở thành những chỗ đứng chân cho trận đánh giải phóng miền Nam 3 năm về sau.


Theo trang điện tử History.com ở Hoa Kỳ, mục Ngày này năm xưa (This day in history) việc quân Sài Gòn chiếm lại được thành cổ Quảng Trị được Nixon dùng để làm bằng trước nhân dân Mỹ, rằng chiến lược Việt Nam hóa đang được vận hành, và (chính quyền) Nam Việt Nam đã sẵn sàng để tự cáng đáng cuộc chiến tranh.


Các nguồn cho hay Mỹ đã dùng tới 10 ngàn tấn hàng tiếp tế cho mỗi ngày của chiến cuộc 81 ngày này, với sức công phá của bom đạn Mỹ ngang với 7 quả bom hạt nhân trên diện tích không đầy 3 cây số vuông.


Xoay chuyển mặt trận ngoại giao


Trong sách Cuộc chiến tranh của Hà Nội: Một thiên sử quốc tế về cuộc chiến tranh giành hòa bình cho Việt Nam (Hanoi’s war An International History of the War for Peace in Vietnam), tác giả Lien – Hang T. Nguyen viết rằng, đi tới cuộc gặp riêng (ngoài bàn đàm phán) với Lê Đức Thọ, vào 15/9/1972, Kissinger hẳn đã hết sức tự tin. Điều này không chỉ do bắc được cầu ngoại giao mới với các cường quốc cộng sản (Trung Quốc, Liên Xô), mà còn do quân Sài Gòn vừa giành được một “thắng lợi hệ trọng” – lấy lại Quảng Trị (thực ra là thị xã Quảng Trị - ND chú). Kissinger còn cảnh báo với Lê Đức Thọ và Xuân Thủy rằng cửa sổ để dàn xếp các điều khoản hợp lý đang đóng lại, vì Nixon rồi sẽ tái đắc cử được vào tháng 11 tới (1972), vẫn theo Lien – Hang.


Lien – Hang cho hay ngay trước đó, đã có một cuộc thảo luận trong Đảng và tại Bộ ngoại giao ở Hà Nội. Một số cho rằng, “vì Mỹ và tay sai gắn bó hữu cơ với nhau, nên (Đảng) cần phải đập tan ý chí của cả chủ lẫn tớ”, nhóm khác cho rằng mục tiêu buộc Mỹ rút phải được đưa lên đầu trong đàm phán. Lê Duẩn ban đầu đã nghiêng sang nhóm ý kiến thứ nhất, cho rằng “đánh cho ngụy nhào” tất dẫn đến Mỹ phải rút. Chỉ sau khi kế hoạch quân sự của ông Duẩn bị thất bại, quân Sài Gòn chiếm lại thành Quảng Trị, Lê Duẩn chấp nhận rằng đấu tranh ngoại giao cần phải xem việc buộc quân Mỹ rút là nhiệm vụ đầu tiên, và tiên quyết, Lien – Hang viết tiếp.


Không nổi dậy


Lien – Hang viết rằng, khi tình hình tiến triển thuận lợi và đồng minh cộng sản bày tỏ sự ủng hộ trên nền các thắng lợi quân sự ban đầu, Lê Duẩn cho rằng đã chín muồi các điều kiện cho nổi dậy rộng rãi của quần chúng. Tác giả này dẫn tiếp nhận định sau khi quân Sài Gòn chiếm lại thành Quảng Trị của Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, rằng tình thế mà cuộc tiến công chiến lược của phe cách mạng phải đương đầu vào 1972 khác với thời kỳ Tết Mậu Thân, cụ thể là:


“Chiến lược của chúng ta trong tiến công quân sự, đang được thực hiện 4 tháng nay (tới tháng 8/1975), vẫn là tiến hành tiến công và nổi dậy nhằm tiêu diệt và làm tan rã quân đội ngụy. Tuy vậy, dù chúng ta đã đánh bại bộ phận lớn quân chủ lực ngụy, các lực lượng quân địa phương và dân vệ vẫn chưa bị đánh đổ. Hơn nữa, dù tiến công quân sự có những tiến triển tốt, người dân chưa nổi dậy ở quy mô đáng kể…”


Còn về phía Mỹ, diễn đàn về chiến lược chiến tranh Amchair general cho rằng cuộc tiến công chiến lược 1972 là hình thái Tổng tiến công Mậu Thân có kèm xe tăng (Tet with tank).


Màn đầu cuộc chiến tranh quy ước


Các sách như Thử lửa: Cuộc tiến công Lễ Phục sinh Cuộc chiến cuối cùng của Mỹ (Trial by Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle; 1994) của Dale Andrade, và “Không hòa bình, chẳng danh dự” (No Peace No Honor, 2001) của Larry Berman, cho rằng, do dàn trải binh lực trên ba mặt trận riêng rẽ và tiến công bằng các đợt sóng người (massive waves), đội hình chiến đấu của phe cách mạng bị dàn quá mỏng, và không đủ khả năng giội hỏa lực đủ để chiếm một lãnh thổ trọng yếu.


Nhận định phe cách mạng đã phải trả giá đắt khi tiến hành chiến tranh quy ước lần đầu tiên trên toàn chiến trường, Larry Berman viết tiếp:


“Lực lượng Bắc Việt tỏ ra dễ bị tổn thương trước đòn không kích nhằm vào các tuyến cung cấp xăng dầu, tiếp tế cho tăng, xe cơ giới, các tuyến đường sắt. Hà Nội đã bị tiêu hao phân nửa lực lượng được tung vào trận đánh kiểu chiến tranh quy ước. Chiến dịch Linebacker (I) cũng làm vơi mạnh lượng dầu chảy theo tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh…”


Larry Berman cho rằng dù không chiếm được tỉnh lỵ (trung tâm hành chính cấp tỉnh), phe cách mạng vẫn chiếm được các vùng đất dọc theo biên giới với Campuchia và Lào, cũng như vùng nam Khu phi quân sự (Vĩ tuyến 17). Và Hà Nội đã duy trì được quyền kiểm soát các vùng này cho tới cuối cuộc chiến tranh, để thực hiện trận đánh vào Sài Gòn. Đối với miền Bắc, Larry Berman viết, đây là câu chuyện chịu hy sinh nặng nề nhưng cuối cùng vẫn dành được toàn thắng.


Trong Thử lửa: Cuộc tiến công Lễ Phục sinh Cuộc chiến cuối cùng của Mỹ, Dale Andrade trích dẫn một công văn thời đó của Bộ Ngoại giao Mỹ, viết: “Một trong những mục tiêu của Hà Nội trong cuộc tiến công này (Xuân 1972 ) là dàn quân đối đầu với sức đột phá của chủ lực đối phương. Điều này, Hà Nội suy tính, sẽ giúp cho các lực lượng Bắc Việt và Việt Cộng quay lại nắm các chỗ đứng chân trọng yếu của mình trước đây ở nông thôn miền Nam (bị phe Mỹ chiếm sau Mậu Thân), nhờ đó mà giành lại các nguồn lực về người và tiếp tế.”


Chiến thắng trống rỗng


Theo Larry Berman, giành lại thị xã Quảng Trị là một chiến thắng “trống rỗng” (hollow) đối với Sài Gòn,  ngụ ý quân Việt Nam Cộng hoà đã không thể giành được gì thêm kể từ đó đến khi Hiệp định Paris được ký kết. Dale Andrade nhận định: “Dù đã là giai đoạn Việt Nam hóa chiến tranh, quân đội Nam Việt Nam vẫn trình diễn vào năm 1972 nhiều vấn nạn mà chính nó mắc đã 10 năm về trước – điều bộc lộ rõ ràng, đến mức đau đớn, nhất là trong cuộc Tiến công Lễ Phục sinh… Cuộc tiến công Lễ Phục sinh cho thấy dù mối quan hệ đồng minh (giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn) khả thi, nhưng cũng chỉ hoạt động được chừng nào hỏa lực Mỹ còn chi viện thừa thãi…”


Bài viết nổi tiếng “Giáp trong cuộc chiến chống Mỹ” (GIAP The war against America) đăng trên The Sunday Times magazine, số ra tháng 11/1972 nhắc lại một nguyên tắc của tướng Võ Nguyên Giáp. Đó là “Cần tránh tổn thất do định giữ đất bằng mọi giá. Lực lượng ta không thể đem hao phí thuần túy chỉ vì mục đích giữ hoặc chiếm một vùng lãnh thổ”. Tác giả James Fox viết tiếp:


“Rồi quân Sài Gòn sau 5 tháng trời thực hiện chỉ thị của Thiệu bằng những trận đánh trả giá đắt cũng cướp lại được thị xã Quảng Trị, khi tòa thành cổ này chỉ còn là đống gạch vụn. Còn Giáp đã lại chuyển hướng tác chiến đi đâu đó, với toàn bộ miền nông thôn Quảng Trị trong tay. Cuối cùng, chắc là ông ta đã thành công (trong ý đồ chiến lược). (Vì) tới tháng 10/1972, quân đội Sài Gòn đã hoàn toàn không còn lực lượng cơ động chiến lược. Các đơn vị còn lại đã chịu thiệt hại nặng nề trong ba hay bốn mặt trận gay go ác liệt, hoặc bị căng mỏng tại vùng nông thôn để đánh trả quân du kích, hoặc bị găm tại chỗ giữ các đô thành. Quân đội Sài Gòn đã không còn hơi sức đâu đề nghĩ tới chiếm lại những vùng (Việt Cộng) vừa “giải phóng”.


Tới đây, độc giả có thể quay lại với trang 259 của Cuộc chiến tranh của Hà Nội…, khi Lien – Hang dẫn tư liệu từ Biên niên chiến sử Việt Nam 1968 – 1972: Các cuộn băng ghi âm tướng Abrams (Vietnam Chronicles The Abrams tapes 1968 – 1972, xuất bản 2004), rằng “Tướng Abrams khi đó đã tuyên bố chính thức với báo chí rằng Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa đang chiến thắng cuộc chiến tranh giành vùng nông thôn Nam Việt Nam bằng chiến lược ‘một cuộc chiến tranh’”… Tác giả Cuộc chiến tranh của Hà Nội…, do đó, luận rằng, dù từ Hà Nội vẫn dõi theo những tiến triển mà cuộc tiến công Xuân – Hè 1972 đem lại, người đứng đầu Đảng Lao Động đã không còn tin tưởng rằng quân đội cộng sản sẽ đạt được thắng lợi quyết định trên chiến trường mở lối một Hiệp định có lợi (cho phe cách mạng), rằng, nhận thấy chiến lược giành thắng lợi của ông đã không thành đạt, nên phe cách mạng cần dồn nỗ lực vào cuộc chiến trên bàn đàm phán.


Chiến lược “một cuộc chiến tranh” của tướng Abrams được định nghĩa là “kết hợp các chiến dịch chiến tranh quy ước quy mô nhỏ hơn với các sáng kiến bình định có hiệu quả được thiết kế để đảm bảo an ninh tốt hơn cho dân cư và cho tranh đấu giành trái tim khối óc ở Nam Việt Nam”.


Tuy nhiên, đăng bài “Cái giá chết người của bình định” (Pacification’s Deadly Price), tạp chí Newsweek, 19/6/1972, muốn chỉ ra đằng sau cuộc “giành trái tim khối óc” này là hàng ngàn dân thường Việt Nam đã bị quân Mỹ “cố tình tàn sát”. Theo điều tra riêng của tạp chí Mỹ này, chỉ riêng trong cuộc “bình định” tỉnh Kiến Hòa, đã có 5000 dân thường bị giết. “Số lượng người chết như vậy (ở Bến Tre) khiến cuộc thảm sát Mỹ Lai trở nên tầm thường”, Kevin Buckley, phóng viên kỳ cựu của Newsweek ở Nam Việt Nam viết. Ông chỉ ra một thực tế, là một chiến dịch bình định (Chiến dịch Siêu tốc hành/Operation Speedy Express) do sư đoàn 9 Mỹ tiến hành trong 6 tháng ở một tỉnh Nam Bộ công bố “tiêu diệt” được khoảng 11 ngàn “quân địch”, nhưng lại chỉ thu được có 748 vũ khí. Một già làng cho Buckley hay, rằng làng của ông trước 1969 (trước “Chiến dịch Phụng hoàng”) có 5000 dân, nhưng đã không còn ai vào năm 1970, như một kết quả của công cuộc bình định nông thôn dùng đến cả B 52! Buckley đã có có yêu cầu phỏng vấn tướng Abrams vì sao những người Việt không vũ khí lại bị giết hại rồi đưa vào tổng số lính tử trận của đối phương. Người phát ngôn của Bộ chỉ huy Mỹ cho hay ông ta đã không có cách trả lời câu hỏi của phóng viên Buckley. Cách trả lời như thế được tờ Newsweek cho rằng tương xứng với lời khen của Abrams khi thăng cấp cho chỉ huy sư đoàn 9 Mỹ: (thăng thưởng) vì “sự thể hiện của sư đoàn này là tuyệt vời (magnificent)”. Gợi đến chữ “trống rỗng” (hollow) mà Larry Berman dùng ở trên, còn có nghĩa là “chết chóc” (dead) trong tiếng Anh.


Tuy nhiên, về toàn cục, cần quay lại với James Fox. Ông chỉ ra bóng ma của bế tắc “chiến tranh đặc biệt” (cuối 1964) ám ảnh đội hình Nixon – Kissinger, dù ngoài mặt rùm beng sau “séc bóng bàn” hữu nghị với hai đồng minh lớn Xô  - Trung của Hà Nội. Fox viết:


“Chỉ trong vòng một tháng (sau tháng 9/1972), bằng việc hút ra khỏi nơi đóng quân tất cả các đơn vị chủ lực của Sài Gòn, Việt Cộng đã phá hủy hoàn toàn công cuộc bình định ở châu thổ, và việc đi ra ngoại thành, một lần nữa, lại trở nên nguy hiểm. Vào lúc người ta nói về một dàn xếp (để ký Hiệp định Paris), các sư đoàn Bắc Việt đã ào ạt từ vùng biên giới với Campuchia tiến vào vùng ven đồng bằng Nam Bộ, và sự thâm nhập của họ hầu như không bị truy cản. Wilbur Wilson, cố vẫn Mỹ chịu trách nhiệm về vùng châu thổ (sông Mê Công) cho tôi (James Fox) hay, là tình hình đã quay về như thời kỳ trước 1965 (trước khi Mỹ phát động chiến tranh cục bộ, đổ quân vào miền Nam). 


(Cùng kỳ) thông báo với báo chí tại Washington rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa vừa thảm bại (had indeed badly whipsawed), ngài Bray, phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Mỹ nói thêm rằng quân Việt Cộng có ưu thế trong tập trung đòn đánh của họ vào những mục tiêu trọng yếu, còn quân Sài Gòn phải cơ động chiến lược để phòng thủ toàn quốc. Giả sử phương sách thần thông của tướng Giáp có bị lộ đáp án đi nữa, thì cũng chẳng ai làm gì để giải được “mâu thuẫn của chiến tranh xâm lược của đế quốc”…


Ảo tưởng vào sức mạnh không lực trong “Chiếm lại thành Quảng Trị” do làm chủ đường không sẽ dẫn tập đoàn Nixon – Kissinger vào chốn đoạn trường “Linebacker II”. Kết quả ra sao - mọi người đều đã rõ.


Lê Đỗ Huy dịch


 


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info

trieuxuan.info