Những bài báo
06.06.2009
Trương Thái Du
Cửu Chân là khái niệm Xích đạo trong cổ thư?

Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, sau khi xâm lăng Nam Việt, Hán Vũ đế lấy Lĩnh Nam chia thành chín quận. Đến Hán Thư mới chú rõ tên hai quận cực nam là Cửu Chân và Nhật Nam. Đây là văn bản cổ xưa nhất nói đến Cửu Chân và Nhật Nam. Các sách sử ra sau như Thủy Kinh chú viết Triệu Đà đặt tên Cửu Chân, hoặc sử Việt cho rằng Cửu Chân là một tên gọi có từ thời Hùng Vương, e rằng thiếu căn cứ.


Chữ Cửu ít nhất có ba lần nằm trong địa danh cổ phía ngoài trung lưu Hoàng Hà, nơi phát tích của văn minh Hoa Hạ, đó là Cửu Nghi (九嶷, dãy núi phía nam Trường Giang), Cửu Châu (九州, một đảo chính gần lục địa Á Đông nhất của Nhật Bản) và Cửu Chân (九真). Cửu trong Cửu Nghi và Cửu Châu xưa nay đều được hiểu là (số) Chín. Riêng Cửu Chân thì sử học lưỡng lự, không hiểu nó mang nghĩa gì. Có ý kiến cho rằng Chân ở đây nói về khái niệm “chân nhân – lão tiên” trong Đạo giáo.


Là một người đi biển, có chút ít kiến thức thiên văn thực hành, tôi nghiệm ra rằng, ba địa danh ở trên có liên quan đến thiên văn, cụ thể nó là hệ quả của quá trình quan sát mặt trời trong hằng ngàn năm của người Trung Hoa cổ. Có thể tin rằng, một trong những nghĩa của từ Cửu là (mặt) trời. Thuyết văn (quyển tự điển từ thời Đông Hán) chú giải: “Cửu là chữ Dương (mặt trời) biến ra”. Số Chín là ngôi cao nhất thường được gán cho vua chúa, dân gian có Chín tầng trời. Số Chín từng biểu trưng cho vua (thiên tử) thì cũng không phải không có khả năng nó tượng trưng cho trời, mang nghĩa khác là mặt trời.


Tại vùng Hoa Bắc, mặt trời mọc chếch ở hướng Đông Nam và lặn xiên qua phía Tây Nam. Để nhìn thấy mặt trời ở bất cứ thời điểm ban ngày nào, trừ một số ít ngày trước và sau Hạ chí, cơ bản người ta phải quay mặt về phương Nam. Việc đồng hóa vua là con (mặt) trời có lẽ xuất phát từ tục thờ mặt trời phổ biến ở bất cứ nền văn minh nào trên quả đất. Do đó dẫn tới các qui chế hành lễ như vua quay về hướng nam tế trời, ngồi nghe chầu, huyệt mộ hoàng đế mở cửa phía nam .v.v…


Mặt trời chuyển động tương đối xung quanh quả đất theo hai qui luật: Hằng ngày là từ Đông sang Tây, hằng năm thì từ Nam chí tuyến đến Bắc chí tuyến và ngược lại.


Rõ ràng, hằng ngày mặt trời với người Trung Quốc dường như mọc từ hòn đảo Cửu Châu, nước Nhật. Nếu ta áp nghĩa Cửu là mặt trời ở đây thì sẽ bật ra sự thống nhất xuyên suốt trong nội hàm tên gọi nước Nhật: Cửu Châu (xứ sở của mặt trời) = Nhật Bản (gốc của mặt trời) = Phù Tang (Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt trời mọc).


Từ đó ta sẽ cảm thấy có lý nếu cho rằng từ qui luật chuyển động hằng năm của mặt trời, trên hướng nam tính từ các kinh đô cổ Trung Quốc, sẽ xuất hiện ít nhất hai mốc mang nghĩa “gốc của mặt trời”. Tôi luận “ít nhất hai mốc” ở đây là vì, khác với hướng Đông (đi qua Cửu Châu) văn minh Hoa Hạ luôn tiến về phía nam, càng ngày càng hiểu hơn vùng đất phương nam thì các “gốc của mặt trời” có thể cũng dịch chuyển và thay đổi để chính xác hơn.


Trước tiên xin xét đến Cửu Nghi (九嶷): Sử ký chỉ ghi tên, không giải thích. Đến thời Ngụy (Tam quốc) sách Tập giải Hoàng Lãm cho rằng dãy núi này có chín dòng suối giống nhau nên gọi là Cửu Nghi. Sau nữa đến Thủy Kinh chú thì bảo núi có chín ngọn nên mang danh Cửu Nghi. Thử hỏi một dãy núi ngăn cách cả vùng Lĩnh Nam với phía bắc thì có thể đếm được mấy con suối, mấy đỉnh nhọn? Sự mâu thuẫn này phải chăng xuất hiện do lỗ hổng kiến thức của các tác giả chú giải? Từ Nghi trong Cửu Nghi bỏ đi chữ “núi” trên đầu vẫn đọc là Nghi (疑) nghĩa là ngờ vực, nghi hoặc. Tôi cho rằng những vị quan xem thiên văn, ghi chép sự di chuyển mặt trời hằng năm ở Hoa Bắc trước Tư Mã Thiên, vì chưa có dịp đến thực địa ở phương nam, đã nghi ngờ rằng “gốc mặt trời” ở đâu đó sau dãy núi này.


Dẫn luận ấy sẽ làm rõ nghĩa một cách hoàn hảo từ Cửu Chân, mặc dù bản thân Cửu Chân hoàn toàn có thể đứng riêng để biểu thị “gốc mặt trời” vì Chân mang một nghĩa rất rõ ràng là Gốc (qui chân là trở về gốc).


***


Tóm lại, nếu dùng một số kiến thức thiên văn cơ bản cùng với khả năng chỉ mặt trời của chữ Cửu, ta có thể đưa ra một số kết luận bất ngờ sau đây: Trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ đại, Cửu Châu mang nghĩa là gốc của mặt trời theo qui luật chuyển động hằng ngày và Cửu Chân chính là gốc của mặt trời theo qui luật chuyển động hằng năm. Cửu Châu, Cửu Nghi và Cửu Chân xuất phát đều là những tên gọi định tính, ước đoán và hoàn toàn là khái niệm. Sau này các khái niệm chuyển đổi mục đích sử dụng thành địa danh, cộng với những đứt đoạn kiến thức trong xã hội, phải chăng người ta đã đánh mất ý nghĩa ban đầu của chúng?


Nếu thiên văn học hiện đại xem “gốc mặt trời” hằng năm là vị trí mặt trời trên xích đạo vào ngày Thu phân và Xuân phân thì Cửu Chân chính là Xích đạo, trong khả năng chính xác còn hạn chế của thiên văn Trung Hoa cách đây hơn 2000 năm. Bằng chứng là sau khái niệm Cửu Chân đã rất gần với thiên văn học hiện đại (chỉ sai lệch trong khoảng 15 đến 18 độ vĩ, vì rằng khu vực bắc trung bộ Việt Nam từng được xác định là Cửu Chân), ta còn có khái niệm Nhật Nam(日南)tiếp nối. Nhật Nam chính là (vùng đất) phía nam mặt trời, nơi các sử quan Trung Hoa đoán con người khi xây nhà phải quay cửa về hướng bắc để đón ánh mặt trời (Sử Ký), không như nguyên tắc phổ thông ở Hoa Bắc. Ngày nay ta thấy những vùng đất ấy là ở phía nam châu Phi, Nam Mỹ hoặc châu Úc. Nói cách khác Nhật Nam tương đương với khái niệm Bán cầu Nam trong thiên văn hiện đại.


Kết hợp kiến thức thiên văn với văn hóa, cũng như lối ký âm Lĩnh Nam bằng Hán tự, tôi cũng đã bước đầu đề nghị một vài cách hiểu các thuật ngữ cổ sử Việt Nam như Giao Chỉ, Âu Lạc, Tượng Quận. Những vấn đề này xin hẹn bạn đọc trong bài báo sau. Chỉ mong hướng đi này sẽ được các nhà khảo sử chuyên nghiệp tham khảo và phản biện, hầu góp phần khai mở những góc hẹp chưa sáng tỏ trong các trang sử nước nhà.


TTD


trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info