Những bài báo
15.03.2010
Hà Đình Nguyên
Nguyễn Bính hành phương Nam (4)

7: Bến đậu cho cánh chim giang hồ 


 


Năm 1947, sau khi chia tay Kiên Giang - Hà Huy Hà, Nguyễn Bính vào chiến khu Đồng Tháp Mười tham gia kháng chiến. Ở đây ông được nhà thơ Bảo Định Giang, lúc đó là Trưởng Tiểu ban Văn nghệ Khu 8 biệt đãi.


Nguyễn Bính cũng có xuồng cà-rèm theo tiêu chuẩn “sĩ quan”, có cần vụ chèo chống. Nguyễn Bính còn được cấp một chiếc mùng to đùng để có thể ngồi trong đó “an tâm sáng tác” (muỗi Đồng Tháp Mười vo ve như... sáo thổi !). Bạn bè văn nghệ cũng có thêm nhiều người mới: Đoàn Giỏi, Truy Phong, Nguyễn Hải Trừng, Đào Anh Kha, Việt Ánh, Rum Bảo Việt, Phan Trác Hiệu... Không khí sáng tác cũng như tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật trong chiến khu thật sôi nổi...


Năm 1951, Trung ương Cục miền Nam có tổ chức một lớp tập huấn văn nghệ lấy tên là Lớp văn nghệ khóa Lê Trần tại Đồng Cùng, rừng U Minh (Khu 9). Lê Trần là nhạc sĩ, tác giả ca khúc Tiến binh (đã hy sinh trước đó). Lớp học quy tụ hầu hết văn nghệ sĩ yêu nước miền Nam. Nguyễn Bính cũng được mời tham gia khóa học này, và ông vui mừng gặp lại nhiều bạn bè thân thiết từng chia ngọt, sẻ bùi dạo còn làm báo ở Sài Gòn: Hoàng Tấn, Thanh Bình, Hoàng Phố và cả cậu học trò Kiên Giang - Hà Huy Hà... rồi thêm cả những Diệp Minh Tuyền, Thái Đức, Sơn Nam, Khương Mễ, Mai Lộc... Lớp văn nghệ Lê Trần được phiên chế thành các tiểu đội theo các loại hình nghệ thuật: Văn, Thơ, Nhạc, Họa, Điện ảnh... Ban Điều hành gồm: Hà Mậu Nhai, Đoàn Giỏi, Trần Văn Lắm... Trưởng ban điều hành là Lưu Quý Kỳ. Nguyễn Bính thuộc phiên chế tiểu đội Thơ cùng với Hoàng Tấn, Thanh Bình, Truy Phong, Hoàng Phố... Điều oái oăm là cậu học trò cũ của Nguyễn Bính là Kiên Giang được đề bạt làm tiểu đội trưởng nên “cu cậu” nhiều lúc lâm vào thế lúng túng, không biết phải phê bình, “xử lý” ông thầy vốn “lắm tài, nhiều tật” của mình ra sao. Tuy nhiên theo Hoàng Tấn thì “Sau gần bốn tháng đăng đẵng, lớp học đã kết thúc bằng một cuộc liên hoan sôi nổi. Không ai quên được Chi Lăng, Dương Tử Giang và nhất là Hoàng Phố đã đóng góp những tiết mục cười tưởng bay được cả mái lá trong buổi chia tay này. Phải ghi nhận với tính buông thả, phóng khoáng vốn có từ lâu, Nguyễn Bính đã tự khuôn mình vào kỷ luật theo đuổi đến cùng khóa học này là một cố gắng” (Nguyễn Bính - một vì sao sáng).


Thế nhưng có một giai thoại vui là trước đó ít hôm, Nguyễn Bính rủ rỉ, rù rì với Hoàng Tấn: “Mình đã ngoài 30 tuổi rồi, sống lẻ loi mãi cũng buồn. Mình tính khoảng 2 tháng nữa sẽ... cưới vợ!”. Hoàng Tấn ớ ra, chuyện... động trời chứ chẳng chơi! Cánh chim giang hồ đã tới lúc mỏi cánh rồi, nhưng “bến đậu” là đâu? Cô dâu là ai? Anh em trong tiểu đội Thơ nghe Hoàng Tấn rỉ tai, ai nấy đều xôn xao, thắc mắc. Cuối cùng, nhân một đêm trước lúc tiểu đội Thơ chia tay, một cuộc chất vấn, trêu chọc nhau bằng thơ giữa Nguyễn Bính và các thi hữu đã diễn ra, để bây giờ trở thành giai thoại:


Thanh Bình (bắn “phát pháo mở đầu”, hỏi Nguyễn Bính): “Phải chăng ông sắp tuyên hôn ?


Truy Phong (bồi tiếp): Bạc tiền không có vợ con nỗi gì?


Nguyễn Bính (thản nhiên): Bạc tiền không có cần chi/Miễn yêu chung thủy việc gì cũng xong.


Hoàng Phố: Rằng xong thì Bính dối lòng/Thuốc không có hút thì hòng cưới ai?


Nguyễn Bính (phản ứng): Các anh nghĩ thế là sai/Theo “Đời sống mới”, tiền tài kể chi!


Nguyễn Hải Trừng (ở tiểu đội Họa sang chơi, góp ý): Đứng trong thực tế mà suy/Bạc tiền không có lấy gì tiếp tân?


Nguyễn Bính (bực bội): Đã mang tiếng bạn bè thân/Đến chơi đâu phải cầu ăn cho nhiều?


Hoàng Phố (nói khích): Bạn bè là chỗ thân yêu/Ít ra cũng phải... một heo, mới vừa.


Nguyễn Bính (trả đũa): Tưởng rằng tình bạn thiết tha/Ai ngờ lại hóa “bạn gà, bạn heo”!  


Hoàng Tấn (phê phán): Bính ơi, xin chớ đặt điều/Bạn người, ai lại: bạn heo bao giờ?


Nguyễn Bính (chưa nguôi giận): Bạn người uống rượu ngâm thơ/Bạn...heo nên mới ngồi chờ thịt heo!


Thanh Bình (lại chọc): Ông đừng vin cớ ông nghèo/Đơm chuyện, đặt điều nói xấu bạn thơ!


Nguyễn Bính (đắc chí): Nào ai xuyên tạc bao giờ/Biết mình đuối lý thì thua cho rồi!


Hoàng Tấn (giả lả): Chuyện ăn là chuyện lôi thôi


Hoàng Phố (lái sang chuyện khác): Nay xin gác lại, hỏi chơi chuyện này/Vợ ông con cái nhà ai/Có phải lạc loài nên mới đụng ông?


Nguyễn Bính (trừng mắt): Con ai cũng giống cũng dòng/Lạc loài đâu phải là không ra gì? Biết bao nhiêu phận nữ nhi/Cấm cung mà cũng thị phi tiếng đồn.


Truy Phong (đế vô): Cây có cội, nước có nguồn


Hoàng Phố (châm chọc): Lạc loài ắt gái chẳng còn tiết trinh


Nguyễn Bính (chỉ vào mọi người): Tại sao câu nệ chữ trinh/ Các ông phong kiến cùng mình chẳng sai...


Chẳng biết câu chuyện “đấu khẩu bằng thơ” này kết thúc như thế nào nhưng chuyện Nguyễn Bính cưới vợ là có thật. Trong tác phẩm Nguyễn Bính - một vì sao sáng, Hoàng Tấn kể lại: “Ít lâu sau Nguyễn Bính cưới vợ. Năm đó Bính đã 34 tuổi rồi. Sau hơn một thập niên vung vãi ân tình khắp nơi, cánh chim trời ấy đã xây tổ ấm. Bạn bè đồng chí ai cũng mừng cho Nguyễn Bính. Hôn lễ được cử hành khá đông vui. Lưu Quý Kỳ làm chủ hôn. Đối tượng trăm năm của Bính là chị Hồng Châu, một phụ nữ cứu quốc nổi tiếng đảm đang và thuộc thơ, thuộc rất nhiều thơ của tác giả Lỡ bước sang ngang. Sau khi cưới vợ, Bính xin phép tổ chức cho ra ngoài mở hiệu sách lấy tên là hiệu sách Nhân Dân ở ngay Huyện Sử. Mến yêu và ủng hộ nhà thơ, các NXB và các cơ quan báo chí kháng chiến: Nhân Dân, Cứu Quốc, Lá Lúa, Vì Chúa-Vì Tổ Quốc... vui lòng rót sách báo cho Bính, bán xong mới thanh toán tiền sau.


Năm 1954, sau chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng rồi hiệp định Genève được ký kết, Nguyễn Bính được lệnh tập kết ra Bắc trên một trong những chuyến tàu đầu tiên. Buổi tiễn đưa, Nguyễn Bính đã viết: “Xã Vĩnh Bình cờ bay đỏ chói/Sông Chắc Băng vang dội tiếng tàu/ Câu hò, giọng hát chen nhau/ Đoàn quân tập kết Cà Mau lên đường... Con đi cho má dặn dò/ Gởi lời kính chúc Cụ Hồ muôn năm/Con đi luôn nhớ miền Nam/Ráng xây lực lượng vài năm trở về... Má ơi con dám quên đâu/Con xin thề đúng như câu má thề/Nghìn năm gian khổ chẳng nề/Má chờ con nhé, con về má ơi...”.


Nhưng rồi Nguyễn Bính đã chẳng có dịp trở về miền Nam như ông đã khao khát. Hơn mười năm sau đó, ông đã vĩnh biệt chúng ta đúng vào giao thừa xuân Bính Ngọ (nhằm ngày 20.1.1966).


 


8: Sao đêm chung sáng chẳng chia miền 


Năm 1954, từ vùng kháng chiến U Minh Thượng (Cà Mau) Nguyễn Bính được lệnh tập kết ra Bắc. Từ đó, thơ Nguyễn Bính “bặt âm vô tín” trên thi đàn miền Nam, thế nhưng nhiều người yêu thơ ông vẫn tìm mọi cách để đọc!


Hiệp định Geneve, chia đôi đất nước. Nguyễn Bính theo tàu tập kết ra Bắc (thực chất là trở về cố hương, sau 11 năm “hành phương Nam”), để lại người vợ trẻ và đứa con mới chào đời. Ánh mắt của người vợ trẻ bồng con nhìn theo chồng trên bến tàu buổi tiễn đưa luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong cuộc đời nhà thơ Nguyễn Bính. Nỗi ám ảnh này đã hiện diện trong nhiều bài thơ của ông (Gởi người vợ miền Nam, Đêm sao sáng...). Tuy nhiên trong hoàn cảnh đất nước chia cắt, giới văn nghệ miền Nam dù rất muốn cũng không thể thưởng thức những sáng tác của văn nghệ sĩ miền Bắc. Riêng với trường hợp Nguyễn Bính thì cách vài năm sau khi nhà thơ từ trần (Tết Bính Ngọ, 1966 - NV) một nhóm ký giả Sài Gòn có ý định thực hiện một chuyên đề về Nguyễn Bính nhưng rất hiếm tư liệu, nhất là những sáng tác của ông sau 1954. Trong cuốn Sài Gòn vang bóng (NXB TP.HCM, 2001) tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang kể rằng: “Chúng tôi phải nhờ đến bác sĩ Nguyễn Trần Huân - một nhà nghiên cứu văn học và khoa học sống tại Pháp, mua hộ những cuốn sách viết về văn học kháng chiến bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Paris. Dùng tài liệu ngoại ngữ có cái thuận lợi là tránh bị cảnh sát và thông tin của chế độ Sài Gòn làm khó, nhưng cũng có cái bất lợi là những bài thơ được dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp thế nào cũng có sự sai biệt ít nhiều vì “tam sao thất bản”.


Bài thơ Đêm sao sáng của Nguyễn Bính được nhóm của Lý Nhân Phan Thứ Lang sử dụng nằm trong trường hợp này. Bài thơ được dịch giả P.V chuyển qua Pháp ngữ với tựa đề Nuit Étoilé (in trong cuốn Anthologie de la Poésie Vietnamienne do NXB W.E.F.R ấn hành ở Paris năm 1969. Bản dịch như sau: “Les étoiles, dans leur progressive montée/Donnent plus de profondeur au firmament/ Le Fleuve d’Argent dévoile ses rives froides/ Où se trouve le Pont bâti par les corbeaux... Cherchant en vain le chapeau du Génie des Moissons/Je vois un Canard nageant dans l’espace/L’Étoiles du Soir me rappelled tes doux yeux/Au moment du départ, tout hucmectés de larmes... La Constellation Polaire, de son plus vif éclat/Brille magnifiquement dans un coin du ciel/ Toi, au Sud du dix-septième parallèle/ Combien d’années tu passai à la contempler!... Les étoiles innombrables et scintillantes/Eclairent notre patrie sans la diviser/Le ciel oublie parfois de se parer d’ étoiles: It n’y a pas de nuit où je ne pense à toi.” (12 Janvier, 1959). Có được bài thơ này, nhóm của ông Lý Nhân Phan Thứ Lang bèn nhờ nhà thơ Lê Vĩnh Thọ dịch ngược trở lại tiếng Việt, và đây là Đêm sao sáng của Nguyễn Bính được ông Lê Vĩnh Thọ dịch từ tiếng Pháp qua tiếng Việt: “Những vì sao càng tiến lên cao/Bầu trời càng rõ vẻ thâm sâu/ Ngân Hà để lộ đôi bờ lạnh/Ô Thước còn kia một nhịp cầu... Nữ Thần Nông tìm hoài không thấy/ Anh nhìn con Vịt lội sông Ngân/ Sao Hôm như mắt em hiền dịu/ Đẫm lệ hôm nao lúc biệt hành... Long lanh rực rỡ một phương trời/Bắc Đẩu, chòm sao sáng tuyệt vời/Bao năm em ngắm! Em bên đó/Phương Nam bờ vĩ tuyến ngăn đôi... Vô số vì sao đang lấp lánh/Soi chung quê mẹ cả hai miền/Trời còn có đêm không sao sáng/Anh chẳng đêm nào không nhớ em”. Khi đăng lên báo, nhóm chủ trương chỉ chú thích là do ông Lê Vĩnh Thọ nhớ đại khái theo nguyên tác, không dám ghi rõ xuất xứ là dịch từ bản tiếng Pháp vì sợ Bộ Thông tin của chế độ Sài Gòn đục bỏ.


Sau khi đất nước thống nhất (1975), ông Lý Nhân Phan Thứ Lang đã tìm mua được cuốn Đêm sao sáng của Nguyễn Bính (NXB Hà Nội, 1962), trong đó có bài thơ Đêm sao sáng với nguyên tác như sau: “Đêm hiện dần lên những chấm sao/Lòng trời đang thấp bỗng nhiên cao/Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh/Ai biết cầu Ô ở chỗ nào?... Tìm mũ Thần Nông chẳng thấy đâu/Thấy con Vịt lội giữa dòng sâu/Sao Hôm như mắt em ngày ấy/Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu... Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi/Lộng lẫy uy nghi một góc trời/Em ở bên kia bờ vĩ  tuyến/Nhìn sao thao thức mấy năm rồi... Sao đặc trời sao sáng suốt đêm/Sao đêm chung sáng chẳng chia miền/Trời còn có bữa sao quên mọc/Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em”.


Quả là... chuyện hy hữu, một bài thơ của tác giả trong nước mà người trong nước muốn đọc lại phải trải qua một “quá trình nhiêu khê” dịch qua, dịch lại từ tài liệu do người ở nước ngoài cung cấp... Thật may là “trình độ dịch” của nhà thơ Lê Vĩnh Thọ đã tỏ ra “có nghề” khi chuyển tải xuất sắc từ nội dung đến ý và tứ của tác giả với người đọc. Đây cũng là chuyện “xưa nay hiếm” trong làng văn VN.


Hà Đình Nguyên


thanhnien.com.vn


 

trieuxuan.info