CÓ MỘT NGƯỜI THĂNG LONG Ở SÀI GÒN
Một nhà thơ suốt đời chỉ cuốc bộ, âm thầm sống và làm việc hết mình bằng cả niềm đam mê tình yêu văn học, nhưng sự lầm lũi đời thường lại khác sự tích cực trong văn chương. 16 tuổi đã nổi tiếng trên văn đàn. Cả đời không biết đi xe đạp nhưng bước chân của ông trải dài khắp Bắc-Nam. 70 tác phẩm (kể cả dịch thuật) với hàng vạn trang viết cùng đoạt nhiều giải thưởng cả về văn học và sân khấu. Ông cũng là cộng tác viên thân mật của ba đó là nhà thơ Hoài Anh.
Mỗi ngày sau khi sáng tác những bài thơ tâm huyết hay viết xong những trang văn thấm đẫm mồ hôi, Hoài Anh lại đi bộ ra quán 81. Chính môi trường vừa văn nghệ vừa đời ấy, ông đã có rất nhiều người bạn và nhiều học trò vẫn kính mến gọi ông bằng thầy. Trong số đó có nhạc sĩ Hồ Bông tuổi 82 khi hỏi về Hoài Anh, ông kính trọng gọi bằng “thầy” và cho rằng Hoài Anh là bô “bách khoa” vì trí nhớ siêu việt của ông. Nhưng với ông: “Thể loại mà tôi thích nhất là thơ… Thể loại tôi thích thứ hai là tiểu thuyết và truyện lịch sử”.
Từ đi bộ
Trong số những nhà văn Việt Nam, ngoài nhà văn Sơn Nam thì nhà thơ Hoài Anh là người giữ kỷ lục về đi bộ. Sở dĩ ông đi bộ không phải vì không biết đi xe máy mà bởi vì từ nhỏ ông đã muốn làm một “người – bút” (L’homme - stylo) tức là đem cơ thể của mình phục vụ cho việc viết văn, cơ quan nào không dùng cho viết văn thì cứ việc thoái hóa, tức là bắt cái xác tuân theo sự điều khiển của cái hồn khi viết. Năm 13 tuổi ông bị ngã gẫy tay, sau đó lại bị ngã gẫy tay hai lần nữa, từ đó ông bị tật không viết được phải đánh máy chữ. Thế là mộng làm “người – bút” không thành, chỉ thành “người – máy chữ”. Đến khi có máy vi tính thì ông đã quen đánh máy chữ mổ cò rồi, không tập đánh máy vi tính được nữa, vả lại khi đánh máy vi tính đầu óc tập trung căng thẳng hứng viết liền biến mất. “Cũng do ngã gẫy tay ba lần nên mấy lần tôi tập đi xe đạp không đủ sức phanh đều bị ngã, sợ bị gẫy tay nữa nên không dám tập” – Hoài Anh tâm sự. Trong cái rủi có cái may, ông không phải đi lính. Jean Maria Gustave Le Clézio nói: “Đi bộ là một hành động làm cho các cơ bắp chuyển động. Trong trường hợp đi bộ trong thành phố, không chỉ cơ bắp mà cả bộ não nữa”. Cái thú của đi bộ vừa để tập thể dục vừa nhìn, nghĩ và viết. Chính cái thú ấy giúp ông viết vừa bởi nhu cầu cuộc sống vừa là để kiếm tiền nuôi hai cháu.
… đến viết hàng vạn trang sách
Chàng trai Hoài Anh bước vào làng văn rất chịu khó ngao du, học hỏi ở các bậc đàn anh từ tự học chữ Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp cho đến dịch một số thơ đăng báo. Thành công ở tất cả mọi thể loại từ sáng tác kịch bản văn học đến làm thơ, dịch thơ, viết tiểu thuyết lịch sử, biên khảo nghiên cứu và gần đây là viết chân dung nghiên cứu phê bình văn học… Năm 2006, nhà xuất bản Văn học in 16 cuốn Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Với thơ, ông gắn bó, đam mê đến trọn đời. Đầu năm 2008, trình làng tập “Hoà mạng” viết về các chân dung văn học bằng thơ. Tập thơ viết trong thế giới mộng (dễ nhận thấy ở phần I là cả “Thế giới tâm linh”-NT), viết trong tiềm thức. Với ông, người làm thơ là được trời cho những câu hay và được xuất bản Tuyển tập thơ vào tuổi thất thập cổ lai hy là niềm vui lớn.
Gần gũi với ông non mười năm, tôi biết ông khao khát viết, khao khát cháy bỏng trong lúc “trà dư tửu hậu”, là làm sao được xuất bản những tác phẩm tâm huyết. Trời đã lấy đi thính giác (ông bị điếc-NT) nhưng trời lại phú cho ông trí nhớ Đông Tây kim cổ. Năm nào ông cũng có tác phẩm trình làng, tuy ở Sài thành nhưng lòng vẫn nhớ về Hà Nội vì ông là người con của đất Bắc hà, ông đã dành tình yêu từ thuở:
“… Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
Ra phố mua một bao thuốc lá
Chín năm sau anh mới trở về.
Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến
Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô”.
Tình yêu Hà Nội qua tác phẩm
Năm nào cũng tìm cách ra đất Bắc vừa thực tế sáng tác vừa thăm thú bạn bè. Hà Nội kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, ông đã kịp hoàn thành tác phẩm tiểu thuyết-kịch lịch sử khá hoành tráng và đồ sộ Thuận Thiên Lý Công Uẩn (NXB Văn Học, 2008) được trao giải B (không có giải A) của Hội Sân khấu Việt Nam dành cho các ấn phẩm sách, nghiên cứu, lí luận sân khấu năm 2008. Người viết bài này cũng có công nho nhỏ trong tác phẩm này, như ông đã tâm sự: “cũng tại anh đấy! Hôm gặp anh, tôi vui miệng nói đôi nét về Lý Công Uẩn (974-1028), anh vội đưa tin lên báo Văn Nghệ Trẻ, báo hại tôi ngày đêm phải viết cho xong, kẻo mang tiếng là nói dốc. Trong vở kịch của tôi, Lý Công Uẩn trong khi tìm kiếm nguồn gốc của mình đã tìm thấy nguyên nhân nỗi khổ của dân chúng dưới sự thống trị của hôn quân bạo chúa. Vạn Hạnh trong khi tìm kiếm sự thanh tĩnh an lạc cho bản thân mình cũng chỉ ra con đường đưa dân Việt đấn ấm no hạnh phúc, với tinh thần “Vô công dụng hạnh”, chí công vô tư. Về nguồn gốc của Lý Công Uẩn, cũng nêu ra ba cách giải thích của nhân vật: theo quan điểm Phật học, theo quan điểm Nho học và theo quan điểm thông thường dựa trên hiện tượng và chân lý thường nghiệm”.
Hoài Anh đã khéo léo giải quyết được mối hoài nghi: Thiền sư Vạn Hạnh - Lý Công Uẩn không phải là quan hệ cha-con mà là quan hệ bác-cháu. Và chính chi tiết tháo nút này làm cho cuốn sách trở nên hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.Tác phẩm Lý Công Uẩn
Nhiều người hoài nghi, vì sao Hoài Anh không biết đi xe đạp và chỉ đi bộ nhưng sức viết lại “sung sức” đến như vậy. Trong lời giới thiệu bô ba tập “Người chở đò thời đại”, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã viết “… đôi lúc tôi bắt gặp anh đi bộ trên đường, rất cô đơn, và đôi lúc cũng bắt gặp anh ngồi khật khờ một mình trước một vại bia trong một cái quán ồn ào - Tôi nghĩ, Hoài Anh như một người tu giữa chợ - Ấy là những lúc, trong anh đang cháy bỏng một dòng tư duy về một đề tài không nhiều người nghĩ tới, một đề tài không phải thơ, không phải kịch mà anh đã trải và nổi tiếng, đề tài về chân dung văn học.
Trong cái lúc lơ mơ, ngẩn ngơ, khật khờ và lầm lũi một mình ấy là lúc anh nhớ đến các tác phẩm của các nhà văn, suy gẫm để rồi bùng lên tác phẩm “Chân dung văn học” dâng hiến cho đời - Vậy là anh bay bổng vào một khoảng trời với đôi cánh thơ - Một đề tài nghiên cứu rất dễ khô cứng, nhưng anh viết vừa thơ vừa tươi tắn.
Tôi, trong giao du, tôi cũng may mắn gặp gỡ các nhà văn đàn anh và bạn nghề cùng thời. Nhưng tôi sẽ rất tiếc, nếu không đọc “Chân dung văn học” của Hoài Anh. Anh đã giúp tôi hiểu thêm các nhà văn nhiều ngóc ngách vừa sâu sắc vừa phong phú”.
Đến nay, Hoài Anh đã khắc hoạ gần 500 chân dung văn học, nghệ sĩ Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ từ nửa cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX. Sách về chân dung văn nghệ sĩ ra đời là nằm ngoài dự liệu của ông. Là một người sáng tác, ông không muốn bình phẩm sáng tác của nhà văn khác, khi nhà văn đó còn sống, vì nghĩ rằng “cái quan định luận” (đậy nắp áo quan rồi mới có định luận), ấy là chưa kể có nhà văn đậy nắp áo quan đã mấy trăm năm rồi mà vẫn chưa có định luận. Nhưng khi một số nhà văn qua đời, các báo nhờ ông viết bài về nhà văn đó, ông đã mạo muội viết một số bài, có thể coi như điếu văn. Năm 1994, nhà văn Anh Đức mời Hoài Anh giữ mục “Chân dung văn học” trên tạp chí Văn của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, mỗi tháng một bài, ông mới có điều kiện viết thường xuyên loại này. Cũng vì nghĩ như vậy nên khi đã trót dấn thân vào bước phiêu lưu trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình - xa lạ nhưng hấp dẫn, Hoài Anh chỉ biết đi mà không biết mình sẽ đi đến đâu. “Cuốn sách viết ra chỉ nhằm gợi ý (và chuyển giao tư liệu trích dẫn) cho các nhà nghiên cứu phê bình trẻ và trong tương lai - chứ không dám làm thay nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp - một số cảm nghĩ bước đầu của một người sáng tác đối với tiến trình văn học từ thời kỳ bắt đầu viết bằng chữ quốc ngữ cho đến nay.
Vì quen sáng tác, chỉ khi nảy ra tứ mới, hay có hứng tôi mới viết được, nên mỗi bài mang tâm trạng lúc viết, có bài thấy chưa ổn, đành tạm gác lại. mãi sau có thời gian tôi mới hoàn thành. Xin trân trọng cám ơn các tác giả và dịch giả đã cung cấp tư liệu cho tôi hoàn thành cuốn sách “nghĩa vụ” mà tôi đã phải hy sinh linh cảm thơ để đi khảo cứu” – Hoài Anh tâm sự.
Hưởng ứng 1000 năm Thăng Long-Hà Nội ông vừa xuất bản cuốn Luật sư đỏ (NXB Kim Đồng, 2010) viết về luật sư Phan Văn Trường và tập Ký Hà Nội trước cách mạng Mùa Thu (NXB Văn học, 2010). Theo nhà văn Triệu Xuân trong Lời Nhà xuấn bản đã viết: “Nhà văn Hoài Anh có thói quen ghi chép khá chi tiết. Ông có những cuốn sổ tay bắt đầu ghi từ 1960 đến 1970, những tư liệu do người thân thích, các bậc đàn anh, và bạn bè cung cấp để chuẩn bị cho việc viết tiểu thuyết về Hà Nội… Tác phẩm tái hiện nhân tình thế thái ở Hà Nội và những sự việc như: Những công trình xây dựng đầu tiên của thực dân Pháp ở Hà Nội. Bộ mặt Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX. Cách ăn mặc, xưng hô của người Hà Nội…”.
Ông chuẩn bị in tuyển tập truyển ngắn và tập thơ về Hà Nội và Bác Hồ.
Gác bút giữ cháu
Sau 4 cuốn nặng ký “Người chở đò thời đại” cùng tiểu thuyết Luật sư đỏ viết về vị tiến sĩ luật đầu tiên của Việt Nam – Phan Văn Trường như trong kế hoạch xuất bản, ông nghỉ hẳn không viết thêm gì nữa để trở về thú vui thanh thản tâm hồn cuối đời - trông hai cháu nội.
Một đời sáng tác hơn 70 tác phẩm, như Giáo sư Hoàng Như Mai cho biết, nhiều vở kịch Hoài Anh sáng tác không đứng tên.Tuy chưa nhận giải thưởng văn học nghệ thuật cao quý nhưng những gì ông đóng góp cho văn học, sân khấu quả là rất lớn, một phần thưởng xứng đáng cho người con nghệ sĩ Bắc Hà. Yêu quý và kính trọng ông, nhà giáo Phạm Ngọc Hiền, trường Đại học Văn Hiến từng tâm sự: “Khi hỏi về Hà Nội, nhà văn Tô Hoài đã giới thiệu tôi gặp nhà thơ Hoài Anh, vì theo nhà văn Tô Hoài thì Hoài Anh có trí nhớ tuyệt vời. Quả thật đúng như vậy. Tôi đã hướng dẫn cho sinh viên Đặng Văn Sỹ đề tài “Tìm hiểu sự nghiệp văn học của nhà văn Hoài Anh” và sẽ tổ chức buổi bảo vệ khóa luận ngày 4 tháng 6 năm 2010 tại trường ĐH Văn hiến”.
Bút danh và tên thật
Theo khai sinh nhà thơ Hoài Anh tên thật Trần Trung Phương nhưng thực ra, tên “cúng cơm” là Trần Quốc Tộ. Bởi vì ông thuộc hậu duệ nhà Trần, hào khí Đông A một thời. Sở dĩ ông lấy bút danh Hoài Anh vì ông có người anh kết nghĩa là nhà soạn kịch Hoài Giao. Ông có hai con trai sinh đôi Hoài Văn, Hoài Vũ nhưng khi đặt tên con Hoài Vũ ông bỗng nhớ đã có một nhà thơ Hoài Vũ nổi tiếng “Vàm cỏ Đông”, ông chuyển thành Minh Vũ. Chuyện húy kỵ trong tên gọi được ông coi trọng ấy cũng là nét của tính cách Hoài Anh. Còn về tuổi, Hoài Anh sinh năm 1938 nghĩa là tuổi Mẹo nhưng trong bài thơ “Tặng Nguyễn Tý”: “Đôi ta mạng chuột như nhau, Chỉ là Tý trước Tý sau thôi mà.“Thứ nhất đom đóm vào nhà. Thứ nhì chuột rúc thứ ba hoa đèn”. Đường anh đom đóm bay quen. Hoa đèn em nở sáng nghìn trang văn”. Vậy đích thực ông tuổi… Tý.
Những “bí ẩn” về Hoài Anh khiến sinh thời nhà thơ Thu Bồn ngạc nhiên thốt lên: “Ông Hoài Anh ơi! Ông tài, nhưng kín đáo quá xá! Về tôi, thơ phú thế nào, tiểu thuyết ra sao, bạn bè, bồ bịch nhiều ít, cái gì ông cũng biết. Vậy mà, về đời tư của ông, tôi mù tịt, cạy răng ông cũng không nói!”.
Nhà thơ Hoài Anh: “TP. HCM vẫn chưa biên soạn được quyển lịch sử tên đường phố”
Hoài Anh từng nói: “Thể loại mà tôi thích nhất là thơ… Thể loại tôi thích thứ hai là tiểu thuyết và truyện lịch sử”. Nhân dịp ông vừa được NXB Văn học in 16 cuốn “Tuyển tập truyện lịch sử” (TTTLS) (*), và chuyến “hành phương Bắc” vừa trở về, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng ông.
- Thời gian ông viết bộ TTTLS này khi nào, thưa nhà thơ?
Nhà thơ Hoài Anh: Tôi bắt đầu viết từ năm 1965 trên Tạp chí Người Hà Nội Xuân 1970 đã đăng truyện ngắn đầu tiên “Bài thơ Xuân Đông Đô”, sau đó báo Độc Lập đăng các truyện ngắn Vua Đô, Tiếng trống võ Tây Sơn. Cuốn truyện đầu tiên “Ngựa ông đã về” được Nxb Kim Đồng in năm 1978- từ đó rải rác các năm tôi đều có in truyện và tiểu thuyết lịch sử - nhiều cuốn tái bản từ 2 đến 4 lần.
- Là nhà văn viết lịch sử, ông có đau lòng không khi học sinh, giới trẻ thờ ơ, thậm chí không biết lịch sử nước nhà?
- Một nguyên nhân là sách giáo khoa lịch sử quá cũ, dựa theo bộ lịch sử Việt Nam của nhà xuất bản khoa học xã hội trước đây (theo đề cương của giáo sư Nguyễn Khánh Toàn) chỉ tập trung viết về những thời kỳ lịch sử mà ban biên soạn cho là đáng chú ý, cho nên đã bỏ qua những giai đoạn lịch sử quan trọng như: thời kỳ Lê Thánh Tông xây dựng nền văn hiến. Thời kỳ Lê Trung Hưng (vua Lê, chúa Trịnh) với những nhân tài góp công vào việc trị nước yên dân, có hàng loạt chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có tư duy đổi mới như: Trịnh Cương, Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn; những người dâng sớ xin cải cách như Ngô Thì Sĩ, Bùi Sĩ Tiên. Thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn với những nhân tài trị nước yên dân, đổi mới đất nước như: Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Khoa Đăng, Minh Mạng, Trương Đăng Quế, Doãn Uẩn, Vũ Phạm Khải, Phạm Thận Duật, Đặng Huy Trứ… nhiều người trong số này không được đặt tên đường.
Tên đường phố này cũng sai nhiều như ở Hà Nội: Tạ Hiện chứ không phải Tạ Hiền, Phan Phú Tiên chứ không phải Phan Phù Tiến.
Ở TPHCM: Trương Quốc Dụng chứ không phải Trương Quốc Dung, Sương Nguyệt Anh chứ không phải Sương Nguyệt Ánh, Võ Duy Dương chứ không phải Nguyễn Duy Dương, Trần tướng công phải ghi rõ là Trần Điện hay Trần Điền, Phan Tam phải ghi rõ là Phan Tôn, Phan Ngũ phải ghi rõ là Phan Liêm, Nguyễn Phi phải ghi rõ là Nguyễn Thị Kim (vợ Lê Chiêu Thống).
Hiện nay TPHCM vẫn chưa biên soạn được quyển lịch sử tên đường phố thì làm sao có thể dựng biển ở từng đường phố một.
- Chuyến “hành phương Bắc” lần này, ông nhận định thế nào sự giao lưu văn học nhất là những sự kiện giải thưởng vừa qua?
- Nhiều tác phẩm văn học ở miền Bắc không bán được ở miền Nam như: Tuần báo Văn Nghệ, Văn Nghệ Trẻ, tạp chí Nhà văn, Văn học nước ngoài không phát hành được ở miền Nam. Cho nên nhiều nhà văn, nhiều bài viết không được bạn đọc miền Nam biết đến. Trong khi Ban chấp hành Hội Nhà văn quá chủ quan cho là những gương mặt văn học được Hội “lăng xê”, tặng các loại giải thưởng… là những hiện tượng văn học tiêu biểu cho cả nước. Tình trạng cánh hẩu bốc thơm lẫn nhau lan tràn quá mức, đến nỗi người ta không nhận ra thực chất của nền văn học cái gì hay cái gì dở, cái gì sai cái gì đúng. Phê bình thành ra hình thức quảng cáo, chứ không hướng dẫn được bạn đọc nữa. Tranh luận không có trọng tài, mạnh ai nấy nói, coi như trước mắt không có ai.
- Thưa nhà thơ, hiện nay đang “lạm phát” việc viết “Tự truyện”, ông nghĩ gì về hiện tượng này?
- Tự thuật, Tự truyện (self-potrait/autobiography) phải do chính tay tác giả viết. Thí dụ: Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng – nhân vật trong tự truyện phải mang tính chất của nhân vật văn học. Qua lời tự thuật làm cho người đọc thấu hiểu tính cách, tâm lý và tâm hồn nhân vật đó. Có khi tác giả là một nhân vật lớn bận rộn nhiều công việc, có thể dùng một hay nhiều thư ký chép lại như:
Winston Churchill (dùng một số thư ký ghi chép).
Võ Nguyên Giáp dùng Hữu Mai ghi.
Trần Văn Trà dùng Võ Trần Nhã ghi.
Nhưng tác giả vẫn là nhân vật lớn đó, nếu có gì sơ sót có thể trách cứ nhân vật lớn đó, chứ không trách người ghi.
Churchill vẫn được coi là nhà văn, được giải Nobel văn học.
Nhật ký của Anne Frank một bè phái trong trại tập trung phát xít, được coi là một tác phẩm văn học, nhưng Anne Frank vẫn chưa thể gọi là nhà văn (vì là nhà văn còn phải tính đến bút pháp, phong cách, tư tưởng…).
Về Hồi ký (memory) có thể chỉ viết về một giai đoạn trong cuộc đời tác giả, không cần phải mô tả thành một nhân vật văn học như hồi ký của tướng Độc nhỡn Moche Bayan trong chiến tranh ở Israel.
Hồi ký Cai (Phù dung ơi vĩnh biệt) của Vũ Bằng chỉ viết giai đoạn nghiện thuốc phiện và cai nghiện.
Truyện ký, tự sự (biography) là của một tác giả viết về một nhân vật nổi tiếng, ngoài nhật ký, lời kể… của nhân vật đó ra còn phải tham khảo nhiều tư liệu của những người khác có liên quan đến nhân vật đó.
Tác giả là nhà văn viết truyện ký danh nhân
Thí dụ “Sống như anh” là tác phẩm của nhà văn Trần Đình Vân viết theo lời kể của chị Quyên vợ anh Nguyễn Văn Trỗi.
Nhà văn Pháp, Andre’maurois chuyên viết về truyện ký danh nhân.
Nhà thơ Pháp Carl-Sandburg viết truyện ký về Abrahan Lincoln…
Nếu có gì sơ sót người ta có thể trách cứ nhà văn- tác giả truyện ký.
- Với câu hỏi cuối, dự định viết cuốn tiểu thuyết “Đáo hạn” bằng chuyến công du về miền Bắc lấy tư liệu cùng việc viết chân dung văn học. Vậy đây có phải là những tâm nguyện cuối đời của ông?
- Lần đi ra Bắc tôi lấy thêm tư liệu hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ 20 nhan đề Đáo hạn, viết về đổi mới triệt để chống tham nhũng. Trung thành với phong cách 20 quyển, sẽ có một số nhân vật lịch sử có thật xuất hiện. Tôi không biết có đủ sức khỏe để sửa nổi ba cuốn 17,18,19 hay không, nhưng cuốn 20 thì NXB Văn học nhận in trong năm 2007. Còn cuốn Chân dung văn học tập 2 (tập 1 đã được NXB Hội Nhà văn in năm 2001), một phần được in trong Người chở đò thời đại, sẽ phát hành đầu năm 2007.
Trong tập này có 40 nhà văn, từ những nhà văn “tiền chiến” như Bùi Hiển, Thanh Châu, Kim Lân, Tế Hanh, Nguyễn Xuân Sanh… cho đến những nhà văn lớp sau như Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Lê Văn Thảo, Nguyễn Trí Huân, Trần Đăng Khoa, Triệu Xuân, Trần Tử Văn v.v… Hiện nay tôi đang hoàn thành cuốn cuối cùng Chân dung Văn nghệ sĩ viết về 50 nhà văn và 50 nghệ sĩ các ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh và một cuốn bàn về tiểu thuyết nhan đề Xác và hồn của tiểu thuyết sẽ phát hành cuối năm 2006. Sau đó, tôi không viết thêm gì nữa, cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa. Còn hiện nay, phận sự của tôi là trông hai cháu nội, để sống những ngày vui cuối cùng của mình, cho thanh thản tâm hồn sau những ngày chạy vạy vất vả.
(*) Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. Nhà xuất bản Văn học, 2006.
Nguyễn Tý Thực hiện
Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, 10-2006.
Rút từ Hoài Anh và đồng nghiệp. Triệu Xuân sưu tập, tuyểnchọn. NXB Văn học sắp phát hành.
www.trieuxuan.info |