Bàn về nền tảng đạo lý trong làng xã Việt nam, có thể đề cập nhiều yếu tố. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn được trình bày vài suy nghĩ về “ý thức cộng đồng”. Đành rằng “ý thức cộng đồng” không phải là “đặc sản” của làng xã Việt Nam, nhưng do hoàn cảnh địa lý, lịch sử, xã hội, yếu tố “cộng đồng” của làng xã Việt Nam phải được phát huy vượt bậc để có thể trở thành một “bí quyết” bảo đảm sự tồn tại của làng xã, cũng là một trong những yếu tố cơ bản hình thành Đạo lý làng xã Việt Nam truyền thống. Đạo lý đó được phản ánh khá phong phú trong tư liệu thành văn, đặc biệt được kết tinh như những viên ngọc sáng trong kho tàng tục ngữ, ca dao trải mấy ngàn năm lịch sử.
I.
Có thể nói: từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên với thời đại Hùng Vương, với nước Văn Lang và văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, người Việt Nam đã tự xây dựng một cuộc sống tinh thần phong phú, một nền tảng đạo lý dồi dào sức sống và vững vàng bản lĩnh bắt rễ từ trong cộng đồng làng xã, hay như cách nói của GS. Nguyễn Đổng Chi: “Có thể nói không quá đáng rằng LÀNG là một cơ thể trọn vẹn như một con người (…), nó ẩn giấu một linh hồn, một tâm lý ý thức cộng đồng”.
Cuộc đấu tranh sinh tồn trong từng cộng đồng trước thời Hùng Vương càng được củng cố khi bước vào buổi đầu dựng nước. Nhu cầu “chung lưng đấu cật” trong làng xã giúp các thế hệ Việt Nam thể nghiệm sâu sắc sức mạnh của cộng đồng (Đông tay hơn hay làm, Xấu đều hơn tốt lỏi). Một cá nhân chỉ có thể có cống hiến khi gắn mình với cộng đồng. Cái khôn ngoan đơn độc của một người không bằng cái “dại” của số đông (Khôn độc không bằng ngốc đàn). Ngược lại, nếu biết tập hợp sự hiểu biết bình thường của nhiều người cũng có thể tạo ra một sự khôn ngoan (Ba người dại họp lại một người khôn).
Nhờ ý thức được rất sớm chân lý “Đông người thì sống, mống người thì chết”, người Việt Nam trong từng làng xã hết đời này sang đời khác đã vượt qua bao thử thách hiểm nghèo trong cuộc vật lộn với đủ loại thiên tai và từng bước thích nghi với thiên nhiên để phát triển và bảo vệ cộng đồng. Cho nên từ ngàn xưa, làng xóm Việt Nam đã là một đơn vị thống nhất trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, bảo vệ đê điều. Vì “nước lụt thì lút cả làng” nên “nhân tố thủy lợi là một phương tiện quan trọng củng cố tinh thần cộng đồng của làng xã Việt Nam”.
Từ chỗ nhận thức được sức mạnh của cộng đồng mà biết chủ động tạo ra sức mạnh đó: “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.
Ý thức “chụm lại”, ý thức “hợp quần” trở thành ý thức thường trực của mỗi thành viên làng xã. Càng nhận rõ trách nhiệm của mình trong cộng đồng thì càng có ý thức cưu mang che chở lẫn nhau (Lá lành đùm lá rách, Cành dưới đỡ cành trên), không để cho “môi hở răng lạnh”, không để cho một con sâu có thể “làm rầu” cả nồi canh. Nền tảng đạo lý cộng đồng trong làng xã Việt Nam chính là bắt nguồn từ những tình cảm, những tâm lý như vậy.
Trải qua gian khổ và thử thách, mỗi thành viên làng xã càng thấm thía giá trị của lao động và xương máu, càng thiết tha với mảnh đất quê hương do chính mình gây dựng để trở lại nuôi mình. Càng thiết tha với quê hương lại càng thấm thía công ơn dựng làng dựng nước của cha ông. Đã biết bảo nhau: “Uống nước nhớ nguồn; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” thì đừng dại dột nghe ai mà xa lìa nguồn cội. Hãy bảo nhau: “Ta về ta tắm ao ta…”. Hãy biết tôn trọng, biết tự hào những cái của chính mình, do chính mình tạo nên (Trâu ta ăn cỏ đồng ta…).
Cuộc đấu tranh kiên trì và quyết liệt nhằm xây dựng và bảo vệ xóm làng buộc mỗi người phải cố kết với nhau, phải thực sự thương yêu nhau (Thương người như thể thương thân). Người ta phải sống với nhau “có nghĩa có tình”, biết chia sớt cho nhau niềm vui nỗi khổ (Tay đứt ruột xót; Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ). Sống với nhau “vì tình vì nghĩa, không ai vì đĩa xôi đầy”. Người ta bảo nhau: “Đường mòn, ơn nghĩa không mòn”; vậy nên “Ơn ai một chút chớ quên, phiền ai một chút để bên cạnh lòng”, đúng như có nhà nghiên cứu đã viết: “Trong quan hệ giữa các thành viên làng xóm, mỗi người nợ nần tất cả mọi người, phụ thuộc ơn nghĩa lẫn nhau”. Ở đây, phản trắc, vong ơn bội nghĩa không có chỗ đứng. Người ta chê trách những kẻ “ăn mít bỏ xơ, được chim bẻ ná, được cá quên nơm”, người ta vạch mặt những ai “qua cầu cất nhịp, qua rào vỗ vế, ăn cháo đá bát”.
II.
Đạo lý “tình nghĩa” của làng xã Việt Nam truyền thống càng được bồi đắp, phát huy theo bước chân người nông dân đi khai phá những vùng đất mới phía Nam. Họ vốn là nạn nhân của áp bức bóc lột và nội chiến liên miên (ở các thế kỷ 16-18); họ ra đi “không phải bằng thanh gươm vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi cày đôi trâu đi từng bước một”.
Chống chọi với thiên nhiên nghiệt ngã, chỉ có hành trang vật chất đơn giản, thô sơ, nên càng phải gìn giữ hành trang đạo lý làm người mang theo từ làng quê cũ thì mới có thể đương đầu với thử thách để sống còn. Trong cuộc đọ sức với rừng hoang thú dữ (Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá), người ta không thể sống ích kỷ, trái lại nhu cầu nương tựa nhau trở thành bức xúc hơn bao giờ hết (Người cầm cuốc, kẻ cầm rựa, lưng dựa vào nhau).
Xuất phát từ thực tế lịch sử và địa lý như trên, làng xã Nam Bộ có những nét riêng so với làng xã miền Bắc và miền Trung. Những người nghiên cứu nhất trí với nhau rằng: ở miền Bắc, quan hệ họ hàng làng xóm thường bó hẹp trong lũy tre, cổng làng, cây đa giếng nước… dựa trên ruộng đất công làng xã, quẩn quanh trong họ ngoài làng”. Còn ở Nam Bộ, quan hệ họ hàng thôn ấp ít ràng buộc hơn. Ở đây, người dân thôn ấp luôn di động để mở rộng địa bàn canh tác (Ruộng đồng mặc sức chim bay, Biển hồ lai láng cá bầy đua bơi).
Phương thức khai hoang trên những vùng đất mới tạo ra ở Nam Bộ một cảnh quan làng xóm khác hẳn miền Bắc, miền Trung: “Làng ấp không tập trung như ở Trung, Bắc mà rải dài theo sông rạch, mỗi nhà một vuông tre… “Mắm trước, đước sau, tràm theo sát; Sau hàng dừa nước mái nhà ai” là một nét đặc tả vừa thi vị vừa thực tế về cảnh quan thôn ấp Nam Bộ từ những ngày đầu mở đất. Đã có người gọi văn hóa Nam Bộ là “văn minh kênh xáng” và làng ấp Nam Bộ thuộc dạng “quần cư tuyến dọc”.
Tuy nhiên, làng ấp Nam Bộ vẫn gìn giữ được những yếu tố tinh thần đậm đà bản sắc dân tộc, mà trước hết là đạo lý cộng đồng. Những yếu tố đó không hẳn đã phai nhạt, càng không dễ “bị tan rã” như đã có nhận xét như vậy, trái lại càng đậm nét hơn trong tâm lý những con người từ nhiều quê quán tìm đến với nhau, không phải bằng thế lực hay của cải mà bằng tấm lòng nghĩa hiệp chí tình. Đúng như GS.Trần Văn Giàu đã viết: “Họ nguyên là con em hoặc chính họ là dân “tứ chiếng” (…) đem theo mình nhiều chất phiêu lưu mạo hiểm,… giữa họ với nhau tình huynh đệ giang hồ nghĩa hiệp là một thực tế lắm khi cao cả, chớ có khinh thường”.
Một điều đáng chú ý: trong làng xã miền Bắc ngày xưa, nếu như người ta có thể nghe đâu đó những câu đại để “Khôn ngoan ở đất nhà bay, Dù che ngựa cưỡi tới đây cũng hèn”, hoặc: “Bước chân đồng đất xứ người, Đứa trẻ lên mười cũng gọi bằng anh”, thì ở thôn ấp Nam Bộ, những xúc cảm cách đây đã vài thế kỷ vẫn còn vang vọng:
“Nước trong xanh sao nước chảy hoài
Thương người xa xứ lạc loài tới đây…”
Có người nghiên cứu còn mạnh dạn khẳng định rằng: trong tâm lý người nông dân thôn ấp Nam Bộ không có sự phân biệt “chính hộ” hay “khách hộ”, thậm chí không có danh từ “dân ngụ cư”. Ở đây, dân thôn ấp mở rộng vòng tay đối với “người mới đến”, cưu mang nhau trong tinh thần “trọng nghĩa khinh tài”, không định kiến địa phương. Hẳn rằng với đặc điểm này, người Nam Bộ đã góp thêm một viên ngọc sáng vào đạo lý cộng đồng của làng xã Việt Nam truyền thống.
III.
Đạo lý cộng đồng được vun đắp từ trong gia đình, thân tộc, láng giềng, làng xã và mở rộng ra cả đất nước. Có thể nói: tinh thần yêu nước của người Việt Nam đã cắm rễ từ trong ý thức về sức mạnh của cộng đồng, cũng là sức mạnh của chính mình. Tâm trạng của mỗi người không phải không có lúc trải qua những tính toán thiệt hơn, nhưng cuối cùng đạo lý đã thắng: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương…”.
Cũng từ đạo lý đó mà làng xã Việt Nam đã vượt ra khỏi thế biệt lập, khép kín để phát huy ý thức cộng đồng ra ngoài phạm vi làng xã, trở thành ý thức quốc gia dân tộc. Và câu nói bất hủ của Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây” có lẽ không phải là câu thách đố thiếu cân nhắc, mà chính là bật ra từ trong đạo lý của những người “dân ấp dân lân”. Một nhà nghiên cứu đã có lý khi cho rằng: “Ý thức quốc gia rất sâu sắc, rất mạnh là một đặc điểm của hệ tư tưởng làng xã Việt Nam”.
Từ đây, LÀNG và NƯỚC quyện chặt vào nhau trên nền tảng đạo lý của cả dân tộc. Và nhu cầu bảo vệ khối đoàn kết thống nhất trở thành nghĩa vụ hệ trọng hàng đầu của mỗi thành viên làng xã. Người ta dặn mình và dặn nhau: hãy dành sức lực để chống trả những kẻ manh tâm “chia bầu rẽ bí”, phá vỡ cộng đồng, gây cảnh “sẻ nghé tan đàn” (Khôn ngoan đá đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ ai hoài đá nhau). Trên nền tảng đạo lý đó mà hình thành bản lĩnh Việt Nam (Đói cho sạch, rách cho thơm; Chết trong hơn sống đục), bản lĩnh dám khẳng định một cội nguồn đạo lý của riêng mình: “Phá lá cây thì dễ, Phá chồi chẳng dễ đâu”.
Đạo lý làng xã Việt Nam tuy không được chép thành kinh điển, nhưng nó chắc nịch hơn bất cứ pho kinh điển nào trong lịch sử tư tưởng cổ trung đại.
Không có một niềm tin mãnh liệt, một đạo lý vững chắc, người Việt Nam khó lòng thoát khỏi 1000 năm đô hộ cay nghiệt của các đế chế phương Bắc. Trong hơn 1000 năm đó, LÀNG XÃ VIỆT NAM đã đóng vai trò chiến tuyến phòng ngự, lại vừa là pháo đài phản kích mọi mưu đồ đồng hóa, vừa là hậu cứ bất khả xâm phạm bảo tồn tiếng mẹ đẻ, giữ gìn những di sản tinh thần thiêng liêng nhất mà các thế hệ Việt Nam đã tạo dựng từ thời đại các Vua Hùng.
Nhưng đồng thời, có những lúc quân xâm lược hung hãn ào ạt kéo tới mà làng xã chưa đủ sức ngăn chặn thì cả làng có thể sẵn sàng tạm rút đi, bỏ lại vườn không nhà trống để cô lập quân địch, để tổ chức cuộc chiến đấu dưới những hình thức khác. Chính trong những tình huống này, ý thức cộng đồng làng xã càng được thể hiện: “Trong thời đại cũ, chỉ có làng xã với một tinh thần tập thể, một trách nhiệm cao mới thực hiện việc “đồng không vườn trống”, việc di chuyển từ nơi này sang nơi khác một cách nhanh chóng, đồng loạt được… Nếu chỉ cá nhân hay gia đình, nếu không có sức mạnh truyền thống của cộng đồng làng xã thì không thể làm đều khắp như vậy”.
Cả ngàn năm mất nước thời Bắc thuộc mà vẫn kiên quyết giữ gìn một bộ tóc dài, một hàm răng đen, thì đâu phải là việc làm lẩm cẩm của các thế hệ từ Bà Trưng, Bà Triệu đến họ Khúc, họ Ngô! “Đánh cho để dài tóc! Đánh cho để đen răng!”; hẳn rằng vị anh hùng Nguyễn Huệ ở thế kỷ XVIII đã gợi cho chúng ta một cách nhìn chân xác và cụ thể về sức sống quật cường được nuôi dưỡng bằng dòng sữa đạo lý của CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG.
Thành phố Hồ Chí Minh, 1994
NPQ.
Nguồn: Ngược về nguồn cội. Tiểu luận và tư liệu. NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010.
Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Tập 2, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 53-73.
Dấu vết làng xóm thời xa xưa còn được lưu lại ở hàng loạt địa danh Việt cổ, như làng Đăm, làng Sên, làng Ngăm (ở Hà Đông), làng Ngọt, làng Ké (ở Bắc Ninh), làng So, làng Bùng (ở Sơn Tây), làng Mo, làng Vó (ở Ninh Bình), v.v…
GS. Trần Văn Giàu - Mấy đặc tính của nông dân đồng bằng Cửu Long - Đồng Nai - Một số vấn đề khoa học xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long - NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội 1982, tr.198-199.
Bàn về “Bản lĩnh Việt Nam”, GS. Trần Văn Giàu cho rằng: “Nếu có sử gia hay chính khách thử mở cuộc điều tra xem quốc gia nào, dân tộc nào bị ngoại bang đánh chiếm nhiều lần nhất, bị đô hộ lâu dài nhất, thì các vị ấy sẽ xếp Việt Nam ở hàng đầu… Và nếu các vị ấy tìm hiểu thêm tại sao là Việt Nam chớ không phải nước nào khác bị xâm lược nhiều lần nhất, bị đô hộ dài ngày như thế, thì… câu trả lời ít bị tranh cãi nhất là phải chăng vì tạo hóa vô tri đặt để Việt Nam nhỏ yếu mà trù phú ở bên cạnh ông khổng lồ và ở trên ngã ba đường thông thương quốc tế bắc nam đông tây.
GS. Nguyễn Hồng Phong - Di sản làng xã trước cách mạng xã hội chủ nghĩa – Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Sách đã dẫn, tr. 468).
GS. Trần Văn Giàu - Mấy đặc tính của nông dân đồng bằng Cửu Long - Đồng Nai - Một số vấn đề khoa học xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long - NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982, tr. 198-199.
|