Những bài báo
16.01.2013
Nguyễn Phan Quang
Nho giáo ở Việt Nam và Đạo lý truyền thống của dân tộc

Vấn đề Nho giáo ở Việt Nam và đạo lý truyền thống của dân tộc là một vấn đề lớn, phức tạp, phải nghiên cứu trên nhiều phương diện, đòi hỏi những kiến thức sâu rộng về Nho giáo, về triết học nói chung, về văn học, lịch sử…, tóm lại phải có thời gian và công sức của nhiều người.


Nho giáo ở Việt Nam có đóng góp gì vào đạo lý truyền thống của dân tộc hay không? Cần có thái độ như thế nào đối với tàn dư của Nho giáo trong xã hội ta hiện nay?


Ở đây chúng tôi không có tham vọng phát biểu điều gì mới mẻ. Nhưng cuộc thảo luận đầy hấp dẫn mà Tạp chí Triết học đề xuất đã thôi thúc chúng tôi mạnh dạn nêu lên một vài suy nghĩ, mong được góp chút ý kiến nhỏ vào cuộc thảo luận chung.


I.


Nho giáo là một học thuyết chính trị. Để thuyết phục nhân tâm, nó phải tìm cách tạo ra mối liên hệ hợp lý giữa cách suy nghĩ của quảng đại quần chúng với những lý lẽ được đề xướng trong học thuyết. Nói cách khác, Nho giáo đã biết lợi dụng những di sản văn hóa do quần chúng sáng tạo nên.


Vì vậy, trước hết cần có sự phân biệt giữa đạo lý của quần chúng mà Nho giáo khai thác để biến thành cái của nó, với bản chất chính trị của Nho giáo.


Xưa nay, không có một học thuyết nào bay bổng trên mọi thời đại. Các học thuyết chính trị thường thích mang những nhãn hiệu khái quát, bao trùm lên “nhân loại”, “thiên hạ”, “chúng sinh”. Với cách mạng tư sản, xuất hiện khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Nhưng từ hàng ngàn năm trước, Nho giáo đã từng kêu gọi “Tứ hải giai huynh đệ”!


Nho giáo không phải là một học thuyết “nhất thành bất biến”, mà đã được bổ sung, uốn nắn trải qua nhiều thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, ngay từ đầu, nó đã mang ý nghĩa là một công cụ thống trị.


Chẳng phải nhà Hán, nhà Đường hay nhà Tống đã “biến” Nho giáo thành một công cụ thống trị theo ý muốn riêng, mà chính là các triều đại phong kiến đó đã nắm được cái phần bản chất của Nho giáo, đã ý thức được cái lý do phát sinh và tồn tại của Nho giáo. Có chăng chỉ là sự vận dụng khác nhau một “học thuyết - công cụ” trong những điều kiện lịch sử khác nhau mà thôi. Khổng giáo nguyên thủy khác xa Tống Nho. Các vua Lý, Trần vận dụng Nho giáo khác với các vua thời Lê sơ, càng khác với các vua Nguyễn ở thế kỷ 19.


Như trên đã nói, ta cần phân biệt bản chất chính trị của Nho giáo với những nhân tố tích cực, những chất liệu nhân văn mà Nho giáo đã khai thác từ trong nền đạo lý của nhân dân.


Nhằm gây ảo tưởng rằng Nho giáo là tấm gương đạo lý cho mọi người soi chung, rằng Nho giáo phản ánh quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội, rằng Nho giáo là công bằng, là lý tưởng vĩnh cửu của thiên hạ…, những người dựng lên học thuyết Nho giáo đặc biệt coi trọng việc khai thác những nhân tố đạo lý truyền thống, rồi biến nó thành nội dung của học thuyết, đóng ngay một “dấu ấn” của Khổng Tử, hay của Mạnh Tử v.v… vào đó:


- Tứ hải giai huynh đệ,


- Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân,


- Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di,…


- Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu .v.v...


Tất cả là đạo lý của Nho giáo! Tất cả là sản phẩm của khối óc xuất chúng, vị tha, bác ái của Khổng Tử và các môn đệ! Làm như là trước khi “Tử viết” thế này, thế nọ, thì những con người bình dân ở quê hương Khổng Tử sống chẳng có đạo lý gì cả! Làm như là truớc khi xuất hiện Khổng giáo, con người ta chỉ chực đâm chém nhau mà không biết gì về lẽ tương thân, chỉ chực làm hại người mà không muốn ai hại mình, tóm lại là chẳng có nhân cách, chẳng có phẩm chất gì cả!


Nhưng Nho giáo không phải chỉ dừng lại ở chỗ đóng cái dấu ấn của nó lên những nhân tố đạo lý truyền thống của dân gian. Điều quan trọng hơn là nó biết lợi dụng những truyền thống đạo lý đó để khơi gợi cái thiện tâm, cái nhân bản trong mỗi con người. Và tiếp đó, Nho giáo dẫn dắt lôi kéo người ta đi đến thừa nhận những nội dung cơ bản nhất của nó, cũng chính là cái phần thực chất của Nho giáo.


Đại để như sau: dân đang khổ, đời đang loạn…, Nho giáo tuyên bố: “Dân vi bản, bản cố bang ninh”. Đánh giá vai trò người dân như vậy thì còn gì đạt lý và đạt tình hơn! Hoặc: thời buổi nhiễu nhương; thần nịnh chúa hôn; dân bị ức hiếp, chà đạp…; mở kinh điển Nho giáo ra: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Làm “thằng dân” thời quân chủ, nghe được một câu như vậy mà mát cả ruột, không cần ăn cũng no!


Vậy thì Nho giáo là chân lý rồi còn gì! Không theo Nho giáo thì còn theo cái gì dưới vòm trời này nữa! Thế rồi Nho giáo dạy tiếp: “Cái đáng sợ nhất dưới đời này là mệnh trời”, và số phận mỗi con người là do trời định. Nhưng trời ở trên cao, điều khiển con người từ xa! Bởi vậy trời giao việc đó cho vua. Vua chính là con trời. Cưỡng lại vua là cưỡng lại mệnh trời! Cái cốt lõi của Nho giáo, nói gọn lại, chỉ có thế.


Cái thuở chưa có vua, trong dân gian cũng đã hình thành những đạo lý trong các mối quan hệ cha con, vợ chồng, anh em, bầu bạn. Nay có vua và Nho giáo. Nho giáo không phủ định các mối quan hệ đó, nhưng đã sắp xếp theo thứ tự và điều chỉnh về quan niệm. Và điều mấu chốt là Nho giáo đặt lên trên mọi mối quan hệ đó một quan hệ tối cao: quan hệ vua tôi. “Quân tử, tiểu nhân”, “nam tôn, nữ ty”, “tam tòng, tứ đức” rút cục đều châu tuần chung quanh quan hệ vua - tôi. “Trung thần bất sự nhị quân” là nguyên tắc tối thiểu của kẻ làm tôi.


Nhìn trên đại thể, Nho giáo có vẻ như xuất phát từ đạo lý dân gian, dường như bắt rễ từ trong những suy cảm phổ biến của quần chúng. Nhưng rút cục thì vua là tất cả. Vua là con trời. Ngoài trời ra, vua là vô thượng. Kẻ nào to gan muốn đảo ngược mệnh trời thì hãy quay lưng với Nho giáo!


Trở lên chỉ mới là những bài “đức dục đại cương”. Dạy dân không phải chỉ để dạy, mà cốt để trị dân: “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ”. Vậy phải có một hệ thống bài học về “đạo làm dân” nữa, vì “Bất học lễ, vô dĩ lập”!


Nếu những suy nghĩ trên đây phần nào có thể chấp nhận được, thì có thể cho rằng nội dung Nho giáo gồm hai bộ phận cấu thành:


Một bộ phận nhằm khai thác, tập hợp, sắp xếp lại những nhân tố đạo lý trong dân gian, để rồi lợi dụng những nhân tố đó mà biện hộ cho học thuyết.


Một bộ phận khác là những nội dung triết lý tinh vi, nhằm khẳng định trật tự phong kiến. Thừa nhận triết lý đó tức là thừa nhận quyền lực thống trị của nhà nước quân chủ đã sản sinh ra nó.


Trong thực tế, hai bộ phận này quyện vào nhau, hỗ trợ cho nhau đồng thời khống chế lẫn nhau, tồn tại xen kẽ, lẫn lộn trong nhận thức của con người. Khi thì bảo: “Trung thần bất sự nhị quân”, khi lại nói: “Tòng đạo bất tòng quân”. Thật chẳng biết lẽ phải nằm ở chỗ nào! Đó là chưa kể những trường hợp dựa vào chữ nghĩa Nho giáo để ngụy biện theo chủ quan của mỗi người ở mỗi hoàn cảnh khác nhau. Đúng như có ý kiến cho rằng: “Nho giáo tự nó đủ mù mờ để chân và ngụy luôn luôn bị lẫn lộn”.


Khả năng tồn tại lâu dài của Nho giáo một phần là do ở chỗ đó. Khó mà nghĩ rằng Nho giáo là một học thuyết chiết trung giữa những yếu tố tiến bộ và phản động. Làm gì có sự chiết trung trong một học thuyết chính trị! Có chăng chỉ là sự lợi dụng những yếu tố tiến bộ để nhào nặn, biến chế thành những yếu tố tiêu cực - tiêu cực hiểu theo nghĩa đối lập với quyền lợi quần chúng, hay ít nhất cũng là thuần hóa quần chúng một cách tinh vi, có hệ thống, có lợi cho sự thống trị của một nhà nước quân chủ.


II.


Người Việt Nam tiếp xúc với Nho giáo vào khoảng đầu công nguyên. Những kẻ du nhập Nho giáo vào Việt Nam trước hết nhằm ý đồ dùng nó làm một công cụ xâm lược và đồng hóa về tinh thần.


Với sự đô hộ của các triều đại quân chủ phương Bắc, Nho giáo đã từ một học thuyết của giai cấp thống trị ở Trung Hoa được vận dụng thành một công cụ tư tưởng của chế độ quân chủ thực dân ở nước ta. Do đó, công cụ thống trị giai cấp càng sâu đậm hơn khi nó mang thêm tính chất nô dịch dân tộc.


Câu chuyện một Sĩ Nhiếp, một Tích Quang dạy dân ta điều này, khai hóa dân ta điều nọ, mà “công tích” của họ còn hằn sâu trong lịch sử dân tộc một thời gian dài, tự nó nói lên mưu đồ của kẻ thù, mặt khác phản ánh những hiệu quả nhất định mà chúng đã đạt được trong cuộc tổng công kích đầu tiên vào toàn bộ cuộc sống của nhân dân ta ở buổi đầu công nguyên.


Nhưng may thay, nhân dân ta thời ấy đã đứng vững trên một nền văn hóa cổ truyền do tự mình xây dựng, đã dám đương đầu một cách có hiệu lực trước cuộc công kích đó. Và đây chính là sợi giây chỉ đạo, là động lực nội tại thúc đẩy qúa trình đấu tranh chống đồng hóa, giải phóng dân tộc.


Thắng lợi của họ Khúc, của Ngô Quyền kết thúc ngàn năm bị đô hộ bao hàm cả ý nghĩa thắng lợi của nhân dân ta chống Nho giáo nô dịch. Đền thờ Sĩ Nhiếp có thể được dựng lên. Hình tượng Tích Quang, Nhâm Diên có thể đậm nét trong quần chúng. Nhưng chúng ta cần nhìn nhận thực tế đó trong những điều kiện và những hạn chế của lịch sử, chứ không nên nghĩ đơn giản rằng “các vị” đó hẳn đã có ơn gì với dân ta nên mới được suy tôn, ngưỡng mộ và thờ cúng đến như thế.


Vậy thì sự tồn tại của Nho giáo trong mười thế kỷ này là sự tồn tại của một hệ tư tưởng xâm lược, đang bị nền văn hiến riêng của dân tộc ta giáng trả mãnh liệt, chứ phải đâu rằng nó đã tìm được một phưong thức nào đấy để dung hòa với tình cảm và tư tưởng của nhân dân!


Sự du nhập Nho giáo với tư cách là một công cụ xâm lược đã chi phối sâu sắc tính chất của Nho giáo trong suốt thời kỳ chế độ quân chủ trung ương tập quyền ở nước ta. Có thể nói: các triều đại quân chủ Việt Nam đã sử dụng Nho giáo như là sự kế thừa một công cụ nô dịch của các đế chế thực dân phương Bắc, đặc biệt từ thế kỷ XV.


Đành rằng ở mỗi giai đoạn phát triển và suy tàn của chế độ quân chủ Việt Nam, Nho giáo mang những sắc thái và biểu hiện khác nhau, nhưng nhìn chung từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn, các nhà nước thống trị chỉ ngày càng bắt chước nhiều hơn, rập khuôn nhiều hơn những luận thuyết Nho giáo của các đế chế phương Bắc.


Kế thừa một công cụ nô dịch của kẻ xâm lược làm công cụ thống trị của mình, thì dù các triều đại Việt Nam có lúc đã khéo léo vận dụng cho phù hợp với thực tiễn đất nước, ngẫm cho cùng cũng chỉ là một sự kế thừa công cụ tư tưởng của kẻ đã nô dịch mình.


Có một thực tế đáng buồn là: các triều đại quân chủ Việt Nam tuy xuất thân không phải “tiên thiên bất túc”, cũng chẳng phải “vong bản” hay “nhập cảng”, nhưng chính vì một sự kế thừa khốn khổ như đã nói ở trên, cho nên trong bước trưởng thành, nó đã mang một hạn chế rất lớn: hạn chế về tầm vóc, hạn chế về sức sáng tạo. Nói cách khác, các triều đại Việt Nam tuy lớn lên bằng bầu sữa quật cường của dân tộc, nhưng trong bản thân nó lại đầy rẫy những mặc cảm, mà trước hết là sự lệ thuộc tinh thần gần như bản năng.


Trong phần sâu lắng của ý thức, nhà nước quân chủ Việt Nam đã thực sự chấp nhận Nho giáo là một đạo lý bất di bất dịch, coi triết lý của Khổng Tử là thứ triết lý “không tiền khoáng hậu”. Trường hợp một Hồ Quý Ly dám nghi ngờ Khổng Tử chỉ là một trường hợp quá hiếm hoi. Đây là điều thật chua chát, cũng là một thiệt thòi không nhỏ đối với tiến trình lịch sử dân tộc. Thái độ mù quáng của các vua triều Nguyễn đối với “thiên triều” Mãn Thanh chẳng qua chỉ là màn chót của một tấn bi kịch kéo dài, là biến chứng của một bệnh sốt mãn tính mà thôi!


Lấy vấn đề chữ viết làm ví dụ. Ta thử nghĩ xem: khi chưa có chữ viết thì dân ta đã bị đô hộ, bị chính sách đồng hóa tấn công suốt cả ngàn năm. Thế mà cuối cùng tổ tiên ta đã giằng ra được, vùng dậy được, giữ được tiếng mẹ đẻ. Cớ sao một dân tộc có sức sống mãnh liệt như vậy, có ý thức tự tôn kỳ diệu như vậy, giành lại độc lập, dựng lại quốc gia, vượt qua những thử thách lớn để bảo vệ đất nước, mà trong cuộc hồi sinh quyết liệt đó lại không xác định nổi một thứ chữ viết cho mình? Tại sao cứ phải bám lấy nguyên xi chữ Hán một cách dai dẳng, mặc dầu những cơ sở của một thứ chữ riêng - ít nhất là một thứ chữ viết được biến hóa trên cơ sở chữ Hán - đã phần nào được chuẩn bị từ trong thời kỳ bị đô hộ?


Còn như trong cái mớ bịt bùng của thứ Nho giáo nô dịch, vay mượn đó mà lại bật ra được một Nguyễn Trãi chẳng hạn, thì điều đó hoàn toàn không nói lên sinh khí của chế độ quân chủ Việt Nam. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi kết thúc với tấn thảm kịch “lệ chi viên” tự nó không chứng minh rằng ông là môn đệ trung thành của Nho giáo. Vụ án “lệ chi viên” trái lại, là một bản cáo trạng đối với Nho giáo thống trị.


Thực tế lịch sử cho thấy: Nho giáo thời ấy đã huy động cả một đội “quân cảnh” khủng khiếp đóng chốt ở khắp nơi, từ cung đình vàng son đến hang cùng ngõ hẻm, kiểm soát ngặt nghèo cả đến những quan hệ riêng tư nhất, và ngay trong mỗi con người cũng có một tên lính gác của Nho giáo. Các bộ luật Hồng Đức, Gia Long tuy cần được đánh giá khác nhau, nhưng đều đóng vai trò hiệu lực trong đội quân cảnh đó…


Cũng cần nói thêm rằng: không phải chúng ta định phủi sạch những đóng góp của các nhà nước quân chủ Việt Nam. Có sự đóng góp trên nhiều mặt và bằng nhiều cách mà lịch sử đã ghi nhận và trân trọng. Nhưng nói đóng góp bằng thứ Nho giáo vay mượn của kẻ đi nô dịch mình, thì có chăng chỉ là sự đóng góp những độc tố, mà nhiệm vụ chúng ta ngày nay là phải gạn lọc để giữ lại phần tinh hoa nhất của truyền thống và đạo lý dân tộc.


III.


Đương nhiên trong bối cảnh lịch sử kéo dài của xã hội thời quân chủ, nền đạo lý truyền thống của dân tộc ta không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo, ngay cả trong những lĩnh vực mang tính nhân dân sâu sắc nhất như văn học dân gian, mà trước hết là ca dao tục ngữ. Không ít ca dao tục ngữ mang đậm nét những ảnh hưởng Nho giáo. Triết lý “thiên mệnh” không phải không đè nặng lên cuộc sống vốn rất lạc quan, lành mạnh của người bình dân:


“Chữa được bệnh, không ai chữa được mệnh”.


Đã vậy thì làm thế nào có thể cưỡng lại số phận:


“Cây khô xuống nước cũng khô


Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo”.


Hãy yên phận, may ra trời còn thương đến:


“Phận hèn bao quản nắng mưa


Chăm làm, trời cũng đền bù có khi”.


Nhưng đợi mãi chẳng thấy trời đền bù, người bình dân không khỏi có những lúc bi quan, tiêu cực:


“Số khó làm chẳng nên giàu


Thức khuya dậy sớm cho đau xương sườn”.


Trong một trật tự xã hội “quân, thần, phụ, tử”, “tam cương ngũ thường”, người phụ nữ trở thành nạn nhân bi thảm nhất của Nho giáo. Dường như “mệnh trời” đã bám riết người con gái từ những ngày biết xúc cảm, yêu đương:


“Thân em như tấm lụa đào…”,


Và suốt cả cuộc đời, “phận gái dám sai chữ tòng” trở thành một định mệnh đối với người phụ nữ.


Đành rằng trong ca dao có thể có trường hợp mượn tiếng nói bình dân để đồng nhất Nho giáo với đạo lý dân gian, nhưng chắc chắn trong nhiều trường hợp, người bình dân đã bị học thuyết Nho giáo chi phối, đã suy nghĩ trái với đạo lý truyền thống.


Điều đáng mừng là trong hàng vạn câu ca dao tục ngữ, số lượng những câu chịu sự chi phối của Nho giáo chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Và trên thực tế, đại bộ phận ca dao tục ngữ đã phản ánh một cách trung thực và sinh động những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam qua các thế hệ.


Có người đã nhận định rằng ca dao tục ngữ là “nơi chứa đựng sự khôn ngoan của các dân tộc”, là “vốn tri thức có một không hai ở thời trung cổ”. Việt Nam cũng vậy; ở Việt Nam, ca dao tục ngữ là nơi cô đúc mọi tinh hoa của đạo lý dân gian, là một trong những trận địa của cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa đạo lý truyền thống và Nho giáo thống trị.


Trong ca dao tục ngữ Việt nam, mối quan hệ giữa con người với con người là quan hệ tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau, “lá lành đùm lá rách”, và hơn thế: “thương người như thể thương thân”.


Cuộc sống hàng ngày thường khi khó tránh những va chạm, nhưng bài học đạo lý được rút ra là: “Một câu nhịn chín câu lành”.


Sống trong làng nước phải có thủy có chung, vì mỗi người đều mang nặng ân tình của bà con, chòm xóm: “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Thái độ vong ân bội nghĩa không có chỗ đứng trong đạo lý dân gian:


“Ơn ai một chút chớ quên


Phiền ai một chút để bên cạnh lòng”.


Tương thân, vị tha, chung thủy là những tiêu chuẩn đạo đức thông thường trong quan hệ, trong ứng xử. Tìm đâu thấy bóng dáng của Nho giáo trong những câu vừa dẫn ở trên! Phải đâu đợi đến lúc tiếp xúc với Nho giáo, dân ta mới biết cư xử với nhau hòa thuận, tình nghĩa, trung thực!


Đạo lý dân gian đặc biệt nhấn mạnh công ơn của cha mẹ. Những câu ca dao nói lên tấm lòng con cái đối với cha mẹ, nhất là đối với người mẹ là những câu chứa chan ân nghĩa, mộc mạc mà hình tượng, chẳng cần vận dụng chữ nghĩa của Nho giáo:


“Lên cao mới biết non cao


Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy”


“Đói lòng ăn hột chà là


Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”


“Chim trời ai dễ đếm lông


Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày” v.v…


Chữ “hiếu” của Nho giáo gò bó trong quan hệ phụ tử, giả tạo và kỳ quặc trong “Nhị thập tứ hiếu” làm thế nào chứa đựng nổi những xúc cảm phong phú và thuần phác của dân gian như trong mấy câu trên!


Một điều thú vị là: trong ca dao tục ngữ, vai trò chính diện của vua hoàn toàn vắng mặt. Quan hệ vua tôi - cái “cương” thứ nhất trong tam cương, cái “luân” số một trong ngũ luân - hình như không được người bình dân đếm xỉa đến trong kho tàng đạo lý của mình. Có thừa nhận vua, nhiều nhất chỉ là sự thừa nhận một thực tế lịch sử: “Đất vua chùa làng…”, có khi là một sự giễu cợt:


“Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng


Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì”


huống hồ là vua ta!


Vua là cái gì? Chẳng qua “được làm vua, thua làm giặc”. Vậy thì vua hãy coi chừng! Đừng áp bức bóc lột dân đen quá quắt. “Bao giờ dân nổi can qua…” thì con vua và con sãi chùa chỉ là một khoảng cách nhỏ mà thôi!


Nếu bảo rằng Nho giáo đã thấm sâu vào dân gian thì chắc hẳn mối quan hệ vua tôi không thể được phản ánh một cách trái ngược như vậy trong ca dao tục ngữ. Đạo lý truyền thống rõ ràng không lấy vua làm tiêu điểm.


Có thể tìm thấy nhiều sự trái ngược khác không kém phần đậm nét, như trong cách suy nghĩ về “nam tôn nữ ty” (“một trăm con trai không bằng lỗ tai con gái”), về sự phân biệt người “quân tử “ với kẻ “tiểu nhân”, đặc biệt trong cách đánh giá các bậc tự nhận là “cha mẹ dân” (“ban ngày quan lớn như thần; Ban đêm quan lớn tần mần như ma”) v.v…


Ngẫm cho cùng, không có một nội dung nào của học thuyết Nho giáo có khả năng ăn nhập thực sự với đạo lý dân gian.


Đương nhiên ở đây, chúng ta cần có sự phân biệt giữa việc tiếp thu Nho giáo đô hộ và thống trị  với việc tiếp thu tinh hoa của văn hóa Hán tộc. Thái độ nhân dân ta đối với Nho giáo đô hộ về cơ bản là thái độ phủ định, đối lập. Nhưng đối với văn hóa Hán thì nhân dân ta đã biết tiếp thu một cách chủ động và sáng tạo qua sách vở được truyền sang, qua tiếp xúc với nhân dân Hán di cư nhiều đợt sang nước ta.


Nhân dân ta, một nhân dân thông minh và giàu óc thực tiễn, hẳn đã biết khai thác, vận dụng những di sản văn hóa đó để khôn thêm, để mạnh lên, để bổ sung vào cái vốn sẵn có của mình. Và đây là một sự tiếp thu hoàn toàn tự giác, mang ý nghĩa giao lưu văn hóa, mang tinh thần trân trọng những giá trị nhân văn giữa các cộng đồng người. Ta nên đánh giá cao sự khôn ngoan của tổ tiên ta.


Cơ sở sâu xa của những phẩm chất quý báu mà nhân dân ta đã tự trang bị cho mình để đấu tranh chống lại Nho giáo nô dịch và thống trị thực ra đã được hình thành từ rất lâu trong lịch sử, từ hàng ngàn năm trước công nguyên. Có thể nói rằng: trước khi biết đến Nho giáo, nhân dân ta từ thời đại các vua Hùng đã tự xây dựng nên một cuộc sống tinh thần phong phú, một cơ sở đạo lý làm người dồi dào sức sống và vững vàng bản lĩnh*.


NPQ.


___


(*) Tạp chí Triết học, số 2[21]-1978


Nguồn: Ngược về nguồn cội. Tiểu luận và tư liệu. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2010.


 


 


 

trieuxuan.info