HAI
Risarđ Nkôzi mở mắt ra. Anh thức dậy với cảm giác sợ hãi vô ý thức liền tức khắc chú ý đề phòng và cố sức nhớ lại tất cả. Sau cùng rồi anh cũng nhớ được là bác sĩ đã bắt anh nằm xuống. Vị bác sĩ tên là Nankhu và Naiđu, nhà hoạt động công đoàn. Họ cúi nhìn anh chờ cho đến lúc thuốc có tác dụng. Anh đặc biệt ghi nhớ gương mặt của Naiđu: lớn, lãnh đạm, tròn và đen tới mức không thể nào tìm được một gương mặt như vậy trong số những người đen nhất. Còn đôi mắt nhỏ, sắc, sáng và lạnh lùng đầy tính toán mà anh đã có lần nhìn thấy trong cặp mắt của con rắn lục và ghi nhớ suốt đời.
Trong buồng tối om. Lúc họ bắt anh nằm xuống giường, ban mai chỉ vừa mới hửng, thế mà bây giờ trời đã tối mịt. Anh cảm thấy cô độc, bị dồn vào bẫy. Hẳn là anh đã ngủ suốt ngày. Không biết cửa ở đâu nhỉ? Anh đưa tay sờ sờ chiếc giường. Tấm vải trải giường may bằng loại vải cực mỏng, còn tấm mền nhẹ như bông vừa mềm vừa mịn.
Anh nằm yên, cố xác định xem luồng không khí mát mẻ tuôn ra từ đâu. Thế là anh đã biết được nơi có cửa sổ, nhưng còn cửa ra vào? Anh đưa tay trái kiểm tra khoảng không bên cạnh giường, nhưng không thấy gì cả, rồi anh đụng phải một chiếc bàn con phía bên phải ngay cạnh giường, trên đó không hề có thứ gì, thậm chí đến chiếc đèn bàn cũng không. Có lẽ bật đèn là nguy hiểm.
Anh ngồi trên giường, quẳng tấm mền sang bên và thận trọng thả chân xuống sàn nhà. Một chân anh đụng phải cái gì đó và ngay tức khắc một tiếng động khác thường vang lên. Nkôzi sờ nắn đôi chân mình một vài giây, sau đó ngả người ra phía sau và mỉm cười. Khó nghĩ đấy, giờ thì họ biết là mình đã thức giấc. Anh nhớ đến cặp mắt nhỏ chăm chú của Naiđu và ngồi chờ cho đến lúc có người nào đó bước vào phòng.
Cuối cùng, trong sự tĩnh mịch, anh cảm thấy hơn là nghe thấy, cánh cửa ra vào mở rộng ra. Bây giờ thì anh đã nhìn thấy cửa ở phía đối diện, bên phải.
- Xin lỗi, nếu chúng tôi đã làm anh hoảng sợ. Tôi chỉ muốn biết lúc nào anh thức giấc. Thật là đáng sợ, chắc chắn là như vậy, khi thức dậy thấy mình ở một nơi xa lạ, nhất là bốn xung quanh lại tối om. - giọng nói cũng thế, nhẹ nhàng và ân cần, giống hệt như của Nankhu, chỉ có điều đây là giọng phụ nữ. - Xin hãy đợi cho một chút, tôi đóng cửa sổ xong thì có thể bật đèn được. Đây là chỗ ở bí mật của chúng tôi.
Và anh lại cảm thấy ngay, hơn là nghe thấy, người phụ nữ không trông thấy được ấy đi ngang qua giường, băng qua căn phòng theo đường chéo, đóng cửa sổ và kéo kín rèm. Sau đó lại là sự tĩnh mịch và giọng nói của phụ nữ vọng đến từ phía cửa:
- Bây giờ tôi sẽ bật đèn, rồi tôi sẽ đi ra và chờ ở ngoài cửa trong khi anh mặc quần áo.
Ánh sáng rực rỡ tràn ngập căn phòng và ngay tức khắc cánh cửa đóng sầm lại. Nkôzi còn lại một mình trong căn phòng bé nhỏ với trần nhà thấp lè tè được làm bằng những chiếc vì kèo trụi lủi và những tấm ván ép mỏng; cái giường, chiếc bàn đêm kê ở bên và cái ghế gỗ máng chiếc quần dài của anh. Mọi vật trong phòng đều được sắp xếp một cách đơn giản. Đôi giày để trên sàn nhà, ngay bên cạnh. Nhưng anh không tìm thấy sơ mi và áo săng đay. Ở đây không có gương và cũng chẳng có thau rửa mặt. Tuy nhiên, trên sàn nhà có trải một tấm thảm sang trọng màu xanh nhạt có lông dài và rậm. Ô cửa sổ đóng kín hóa ra là một phần của cái trần vòng thấp xuống. Anh mặc quần áo, xỏ giày và bước về phía cửa:
- Tôi xong rồi.
Cánh cửa khẽ mở. Trong làn ánh sáng rực rỡ từ căn phòng tỏa ra, anh nhìn thấy một người phụ nữ đứng trước mặt mình. Cô ta có vóc dáng cao hơn anh, có thể đến hai phân. Thân hình cô rắn chắc hơn so với số đông những phụ nữ Ấn Độ mà anh đã có dịp nhìn thấy, còn nước da cũng sáng, mặc dù có đen hơn so với vị bác sĩ. Mái tóc màu hạt dẻ chải gọn về phía sau và buộc túm lại nơi gáy. Hai nét nhăn hằn sâu hầu như chạy suốt từ ngay gốc mũi xuống tận khóe miệng, làm mất vẻ đẹp ở gương mặt của cô cùng với những đường cân đối và cái nhìn cởi mở một cách kỳ lạ của cặp mắt nâu nhạt.
Cô mặc quần và khoác chiếc áo choàng cắt theo kiểu rộng. Cô chìa tay ra:
- Tôi là Đi Nankhu. Xin mời anh xuống dưới này. Trong khi anh tắm, tôi sẽ sửa soạn xong bữa ăn.
Cô ta quay mình, bước đi. Nkôzi thấy ngay là người phụ nữ đi khập khiễng. Khi cô bước chân trái, vai trái và mông trái lệch hẳn xuống dưới. Chân trái của cô ngắn hơn khoảng một vài phân so với chân phải xỏ một chiếc giày da loại đặc biệt. Nkôzi thoáng cảm thấy lúng túng và không hiểu vì sao cũng lại cảm thấy mình có lỗi trong việc người phụ nữ bị tàn tật. Anh bước theo sau cô trên chiếc cầu thang nhỏ hẹp và mỗi lần người phụ nữ bước bên chân thương tật, trái tim anh như bị co thắt lại.
Xuống hết cầu thang, họ luồn qua một khung cửa sổ nhỏ bước vào phòng khách ở tầng hai. Người phụ nữ bịt khuôn cửa lại bằng một tấm panen trang trí làm bằng gỗ ốp tường và cầu thang dẫn lên gác xép hóa ra lại là nơi ẩn núp, còn cái hốc trong tường biến thành một cái tủ.
- Vẻn vẹn chỉ có một cái tủ thôi - cô gái mỉm cười - giống hệt như hai cái khác đứng cạnh nhau. Điều quan trọng cần nhớ rằng chiếc cuối cùng mới là tủ. Nếu như có chuyện gì đó xảy ra, anh sẽ mở chiếc khác…
- Tôi xin nhớ - Nkôzi gật đầu.
- Trong nhà tắm đã chuẩn bị cho anh đầy đủ mọi thứ. Lúc nào anh cảm thấy hoàn toàn tỉnh táo, anh hãy xuống dưới này.
- Cứ phơi ra như vậy mà không phải ẩn núp gì à?
- Vâng, - cô gái mỉm cười một cách kỳ lạ, nụ cười hơi có vẻ giễu cợt - ở đây anh được an toàn tuyệt đối. Đám cu li chúng tôi đã buộc phải đưa ra một vành đai phòng thủ. Bây giờ chúng tôi hầu như chỉ là những con kiến.
- Tôi rất lấy làm tiếc, - Nkôzi lẩm bẩm.
Cô gái hãnh diện ngẩng đầu lên và thở dài. Sau đó cô nhìn chằm chằm vào mặt anh. Nét mặt của cô đầy vẻ cay đắng và giá lạnh.
- Tôi không tìm kiếm lòng thương hại của anh đâu.
- Còn tôi thì không bày tỏ nó ra đâu. Tôi sinh ra tại vùng này và tôi biết rõ rằng những người như chị phải sống kiếp con sâu cái kiến như chị vừa bày tỏ, ở mức độ nào đó có phần lỗi của những người bà con của tôi. Tôi rất lấy làm tiếc về điều này. Tất cả chỉ có thế thôi.
Anh quay người đi về phía cửa, từ đó vẳng đến tiếng nước chảy trong buồng tắm. Lúc này anh chỉ là tro bụi thôi: tro bụi trong bản thân mình và dân tộc mình, trong người phụ nữ này và dân tộc của cô ấy; việc so sánh với loài kiến đã khiến anh bực mình. Nỗi buồn xâm chiếm lòng anh trở thành sâu nặng và vô bờ bến. Anh giận dữ đóng sập cửa phòng tắm sau lưng mình, cởi quần áo và ngâm mình trong nước ấm. Dần dần anh bình tĩnh trở lại, cơn bực tức qua đi nhưng nỗi buồn còn lưu lại. Anh tắm rửa thật nhanh vì đã quá đói. Có lẽ anh sẽ được gặp ngay vị bác sĩ và thỏa thuận về việc để anh rời khỏi ngôi nhà và cái xứ sở ảm đạm, gớm ghiếc này cho thật nhanh. Càng nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Anh rút chiếc khăn từ lưng ghế và phát hiện ra ở dưới là chiếc áo sơ mi sạch bong và chiếc áo săng đay. Trong thân tâm anh muốn đền bù thật xứng đáng cho người phụ nữ này. Tâm trạng buồn phiền đã không ngăn cản được đức tính chu đáo và ân cần của cô. Anh nhanh nhẹn cạo mặt, mặc quần áo và xuống dưới nhà.
Ngôi nhà cũng chẳng có gì khác với những ngôi nhà của các bác sĩ đã thành đạt ở bất kỳ xứ sở nào. Nkôzi chưa kịp xuống hết cầu thang thì ở khuôn cửa phía bên phải đã lại hiện ra người phụ nữ mà anh quen biết.
- Xin mời anh lại đây! - Cô ta đợi anh ngay cạnh lối vào. Hình dáng và mùi vị của món ăn làm cho anh thèm chảy nước miếng. Anh trở nên vui vẻ. Người phụ nữ nhìn anh một cách thân mật. Khi cô cười với anh, hai nếp nhăn làm xấu gương mặt vụt biến mất như có phép lạ và lập tức cô trở thành trẻ hơn và có sức quyến rũ hơn. - Bây giờ đến lượt tôi xin lỗi - cô gái nói - tôi không muốn cay nghiệt. Nhưng, anh biết đấy, quả thật chúng tôi sống như những con kiến, và hệ thống dự báo về sự nguy hiểm của chúng tôi cũng giống như của loài kiến. Chúng tôi thông báo kẻ thù sẽ đến thường là một giờ trước khi chúng xuất hiện. Và cũng như vậy, giống như ở thế giới của loài kiến, con người sống bao giờ cũng sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì quần chúng.
Nkôzi an tâm và không hề cảm thấy lúng túng một chút nào trong cái thế giới của người phụ nữ này nữa.
- Cảm ơn vì chiếc áo sơ mi và áo săng đay. Được mặc quần áo sạch sau khi tắm thật là dễ chịu!
Họ bước vào phòng. Anh đâm ra thất vọng. Trong phòng hóa ra chẳng có ai khác và bàn ăn chỉ bày cho hai người.
- Thế còn bác sĩ đâu? - Anh hỏi.
- Vẫn còn ở Johannesburg, - cô gái đáp - đđáng lẽ phải quay về nhưng anh ấy đã gọi dây nói báo cho biết là bận công chuyện và chậm nhất chỉ trong ngày mai là anh ấy về đến đây. Mọi việc chỗ anh ấy đều ổn cả. Cái mà anh mang đến, đã được chuyển đến nơi một cách an toàn.
- Thế thì nhất rồi còn gì. Như vậy, nghĩa là tôi có thể rời khỏi đây được rồi.
- Họ muốn anh chờ ông anh của tôi trở về.
- Công việc xong hết rồi, còn chờ với đợi làm gì nữa? Tiện thể xin hỏi “họ” đây là ai?
Cô gái muốn nói điều gì đó nhưng rồi lại thay đổi ý định, khập khiễng đi lại gần bàn ăn và ngồi xuống.
- Anh ăn đi đã nào, - cô gái mời - đợi chừng nào Naiđu về tới, anh ấy sẽ giải thích cho anh tất cả. - Cô gái ra dấu chỉ cho anh chiếc ghế.
Các món ăn nấu theo kiểu Ấn Độ đã được bày biện trên bàn - những món ăn mà từ lâu lắm rồi Nkôzi không được đụng đến. Ở đây có những món ăn ngon lành và phong phú, trong đó có thịt, rau và gia vị kết hợp với nhau một cách đặc biệt, chưa kể bột cà ri và vô khối gia vị khác. Những miếng bánh mì nướng phồng hẳn lên và những chiếc bánh giòn được xếp thành nhiều lớp, thật là khoái khẩu.
Nét mặt và cặp mắt của cô gái ánh lên niềm vui khi cô nhìn thấy đồ ăn rõ ràng là hợp với khẩu vị của anh.
- Thực tình anh có thích các món ăn này không hay chỉ là do anh đói bụng?
- Do cả hai thứ. Nhưng tôi chưa bao giờ được ăn món cà ri ngon như thế này thậm chí cả ở Durban trước khi lên đường, mà món cà ri thì trong đời mình tôi từng được ăn không ít…
- Sau hai ngày đói ăn thì mọi thứ đều có vẻ ngon lành hết.
- Đúng, tôi đã nhịn ăn một ngày một đêm và thêm một ngày nữa.
Anh nhớ lại chuyến đi đáng sợ cùng với người da trắng - con người đã quyết định dứt khoát trở thành người da màu song vẫn cảm thấy mình là người da trắng như trước.
- Cô đã biết gì về tất cả câu chuyện này?
- Câu chuyện gì? - Không khí thân mật đột nhiên biến mất, cô gái lập tức tỏ ra đề phòng.
- Tôi muốn nói đến sự xuất hiện của tôi ở đây. - Anh tin chắc rằng cô ta đã biết rõ mọi chuyện.
- Tôi chỉ mới biết là anh mang tiền đến cho tổ chức bí mật.
- Và không biết gì hơn nữa?
- Vâng, chẳng biết gì hơn.
- Thậm chí cô không biết tôi từ đâu đến và đến như thế nào?
- Không.
Anh không thể nào hiểu nổi, cô ta cần nói dối lộ liễu như vậy để làm gì và do đâu mà nỗi đắng cay ngấm ngầm ở người phụ nữ này lại sâu xa đến như vậy. Hẳn là vì cô ta bị tàn tật. Nhưng cô ta bị như vậy đã lâu chưa?
Người phụ nữ dường như đoán được những ý nghĩ của anh, trên nét mặt cô thoáng hiện nụ cười hơi có vẻ khinh bạc, giễu cợt và cay đắng.
- Lâu rồi anh không sống ở vùng này phải không? - Cô hỏi.
- Lâu rồi, - anh thận trọng đáp, cố không để lộ tình cảm của mình - rất lâu rồi là đằng khác.
- Theo tôi biết, mười năm rồi thì phải?
- Vâng, gần gần như vậy.
“Cô ta hướng tới đâu đây?” - Anh nghĩ.
- Khi một người sống ở nơi xa lâu bao nhiêu, anh ta càng mất liên hệ với xứ sở bấy nhiêu. - Cô ta nói có phần thô thiển.
- Có lẽ cô nói đúng. Nào, còn chuyện gì tiếp theo đó nữa?
- Tôi nghĩ anh đang mất đi mối liên hệ với xứ sở của mình. - Cô đáp.
“Trời ơi! Đúng là cô ta đang cố gắng giảng luận lý cho anh, do đâu mà có chuyện này?”.
- Như cô đã nhận xét, - anh nói - mười năm là khoảng thời gian rất dài.
- Và, chính bản thân cũng không nhận thấy con người hấp thu về thẩm mỹ, quan điểm, phương pháp tư tưởng ở môi trường nào thì sống theo môi trường đó.
- Cô muốn nói đến chuyện gì vậy?
- Tôi muốn nói là lúc này mà đòi hỏi anh đưa ra những nhận xét về chúng tôi là quá sớm, bởi vì anh đã tự đánh mất sự giao tiếp với xứ sở của mình và anh có thể đưa ra những đánh giá dựa trên quan điểm luận lý không vững vàng của những người châu Âu bậc trung.
Anh cảm thấy hình như cơn giận đã bắt đầu sôi lên trong người, cơn giận của một người đã bị chọc tức một cách vô cớ. Tuy nhiên anh đã nén được cơn giận dữ vô cớ của mình. Chính anh đã lợi dụng lòng mến khách của người phụ nữ này, ăn thức ăn của cô ta và ở trong tình thế của người mắc nợ cô ta. Thức ăn không còn vị ngon đối với anh nữa. Anh cảm thấy ứ đến tận cổ bèn gạt chiếc đĩa ra và ngả người về phía sau.
Và bỗng nhiên hoàn toàn bất ngờ, lần đầu tiên sau từng ấy thời gian, cô ta nhìn thấy ở anh một con người, một người đàn ông. Trước giây phút này, đối với cô anh giống hệt như mọi người Phi khác, như mọi người da trắng khác, như mọi người da màu khác, chỉ là một nhân vật đại diện hay một thứ biểu tượng cho bộ tộc này hay bộ tộc khác.
“Đấy là vì mình đã làm cho anh ấy bực mình - Cô khẳng định. - Anh ấy ngồi phía đối diện và mình đã nhìn thấy nỗi đau đớn. Qua đôi mắt anh ấy, mình hầu như cảm thấy điều đó một cách rất rõ ràng. Giá từ đầu mình cứ đối xử như thể anh ấy là da trắng hay thậm chí là da màu thì sao nào? Lẽ nào đây lại là vấn đề chủng tộc? Nhưng cả người da trắng lẫn người da màu đã không đối xử với chúng ta như người Phi đấy thôi! Anh ấy sẽ phải chịu trách nhiệm về dân tộc mình ở mức độ nào? Tôi cũng phải chịu trách nhiệm về công việc của những bà con của tôi ở mức độ nào?”.
Cô gái nhìn anh bằng cái nhìn trong sáng, hiểu biết. Trán cao, mắt to, lưỡng quyền cao, khuôn mặt xương xương, vát xuống cằm… Nhưng, trời ơi, bao nhiêu đau đớn ẩn chứa trong đôi mắt ấy, đôi môi mím lại có vẻ khắc nghiệt làm sao… Mình hy vọng là anh ấy hiểu biết tất cả - cô gái nghĩ, mặc dù cô không biết cụ thể điều anh cần phải hiểu. Trong mối quan hệ giữa các dân tộc của họ đã có quá nhiều điều xấu xa, bất công, bệnh hoạn…
Cô gái cúi đầu nói:
- Hãy thứ lỗi cho tôi, ngài Nkôzi. Không phải do ý muốn của tôi mà anh lưu lại trong nhà này, không phải vì ý muốn của tôi mà anh sống ở đây. Hoàn toàn không phải do tôi…
- Và cũng không phải do tôi, - anh tiếp lời. - đối với tôi, rời khỏi ngôi nhà này càng nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và không còn gì có thể giữ được tôi ở lại đây lâu hơn.
Cô gái rùng mình, y như vừa bị anh đánh vào mặt. Sau khoảng im lặng kéo dài, cô bắt đầu nói chuyện một cách thận trọng, tựa như đang tìm kiếm những điểm chung.
- Anh biết không, anh phát âm thuần túy châu Âu.
“Có lẽ đến lúc này, cuối cùng rồi chúng ta cũng tìm được tiếng nói chung - anh nghĩ - dù sao chăng nữa, mình cũng nên cố gắng…”.
- Cách phát âm hay cách nói?
Dường như không nghe thấy câu hỏi của anh, cô gái tiếp tục:
- Khi từ châu Âu trở về, tôi cũng có cái gì đó na ná như anh.
- Cụ thể là cái gì?
- Công bằng, khách quan, lạnh lùng, dùng bất cứ từ nào trong số này cũng đều thích hợp. Chắc anh biết tôi muốn nói đến cái gì.
“Mọi sự đã bắt đầu trôi chảy!” - Anh nghĩ.
- Cô cho rằng tất cả những phẩm chất ấy là vốn sẵn có của người châu Âu?
- Anh cố ý bóp méo ý nghĩa câu nói của tôi, nhưng chính nó đã đưa đến sự tự tin thái quá biểu lộ trong cử chỉ và lời nói của anh, nó vốn không phải là bản tính của chúng ta - tất cả những người không phải da trắng cư ngụ ở xứ sở này.
- Cô từ châu Âu trở về khi nào? - Anh tò mò hỏi.
- Vào cuối những năm bốn mươi, - cô gái nói vẻ tư lự - ban đầu tôi đến Ấn Độ, hy vọng tìm được một ngôi nhà ở đấy, nhưng hóa ra xứ này lại còn xa lạ hơn cả châu Âu.
- Rồi cô đã kiếm được nhà ở đây? - Anh hỏi.
- Vâng. Nếu như không tính đến chuyện cả người Phi lẫn người da trắng đã nhất tề tuyên bố rằng đây không phải là nhà của tôi.
Cô gái ngừng lời và trong lúc đó cô lại ngó anh, anh đã nhìn thấy vẻ u buồn trong đôi mắt cô.
- Tôi đến nơi vừa đúng lúc báo động, suốt trong một tuần lễ, những người đồng bào của anh săn đuổi những người bà con của tôi như săn chuột, còn các lực lượng tự nhận là đứng ra bảo vệ luật pháp và trật tự thì thản nhiên ngó xem máu của hàng chục người Ấn Độ tuôn chảy thế nào…
- Miss Nankhu…
- Xin anh cho phép tôi được nói hết. Tôi đã nhìn thấy, bằng chính cặp mắt của mình, cái gì đã xảy ra. Tôi kể anh nghe một vài trường hợp. Tôi đi taxi từ cảng và trên một con đường rộng có trồng cây ở Durban, tôi đã nhìn thấy hai gã Zulu vạm vỡ cầm gậy rượt bắt một người Ấn Độ bé nhỏ, gầy còm. Lái xe taxi, cũng là người Ấn, không chịu ngừng xe lại, nói rằng họ sẽ giết chết chúng tôi. Đúng lúc ấy một trong hai tên Zulu đó đuổi kịp người Ấn và đánh anh ta bằng cây gậy lớn, đầu có bịt sắt. Con người đáng thương ấy chết ngay trước mắt tôi. Tôi xin thề là tôi nhớ rất chính xác giây phút anh ta chết. Chiếc gậy đập toác xương sọ anh ta. Theo quán tính, anh ta còn chạy thêm được mấy bước nữa, rồi hệt như một kiện hàng, anh ta đổ sụp trên mặt đường nhựa, đầu biến thành món thịt đông… Tôi đã phải chứng kiến thêm hai vụ giết người khác nữa… Khi đã về đến nhà, tôi được biết thêm rằng đứa em trai út của tôi đã bị giết chết vào đêm hôm trước… Điều đó đã xảy ra đúng vào cái ngày tôi vừa tới đây, tôi đã biết chắc chắn rằng cả châu Âu lẫn Ấn Độ đều xa lạ với tôi, rằng ở đây chưa bao giờ tôi cảm thấy như ở nhà mình. Nhà của tôi ở đây, nhưng cũng có thể có chuyện xảy ra. Biết đâu có một hôm nào đó, vào ban ngày hoặc ban đêm, theo sự xúc xiểm của những người da trắng, người của anh lại bắt đầu giết hại chúng tôi, thiêu hủy nhà cửa của chúng tôi. Xin nhắc cho anh hay rằng ngôi nhà này sẽ dùng làm nơi trú ẩn cho anh. Trong vùng này tất cả những người Ấn Độ, không loại trừ một ai, đều biết rằng anh đang ở đây. Đây là một trong những đặc điểm thuộc đời sống của loài kiến chúng tôi. Và bất cứ người nào trong số họ cũng đều có cơ sở để nhớ đến những cuộc thảm sát. Tất cả vùng này hầu như đã bị thiêu hủy sạch sành sanh, còn số lượng những người Ấn bị chết thì nhiều tới mức không thể nào kể hết.
- Nào, chúng ta quay trở về vấn đề bản năng của loài kiến. Đã có lúc nào đó cô quên đi những bản năng đó chưa?
- Thế còn anh? Liệu sẽ có lúc nào đó anh quên rằng mình có nước da đen không?
Bước theo sau cô gái ra khỏi phòng, anh nghe thấy hình như có tiếng động do một cái cửa khác đã được mở ra và một người nào đó khe khẽ lê giày trên sàn, tiến đến dọn bàn. Người phụ nữ dẫn anh vào một phòng khách lớn, lách qua khung cửa kính rộng và bước vào khu vườn nhỏ có tường bao quanh. Bầu trời đầy sao, lấp lánh trong đêm tối như những viên ngọc bích. Anh không thích nhìn những ngôi sao sát ngay trên đầu như vậy từ những năm tháng xa xưa, khi còn là một thằng nhóc mạt hạng ở đây. Trong một góc vườn, dưới những thân cây che khuất ánh sáng hắt xuống từ những ô cửa sổ, có một chiếc bàn và vài ba chiếc ghế. Một tấm thảm dệt bằng cỏ dày và êm, trải dài dưới chân. Họ tới bên chiếc bàn và ngồi xuống.
- Lối đi đen đen ở phía sau lưng anh đấy - Cô nói.
“Lúc nào cũng sẵn sàng thôi!” - Anh nghĩ, nhưng ngay lúc ấy anh đã kiềm giữ được nỗi bực tức, gợi lên từ ý nghĩ đó. Cặp mắt còn chưa quen với bóng tối, anh cảm thấy hình như người phụ nữ mờ thêm một chút.
- Sao nào, - cô gái nói - liệu có lúc nào anh quên được hay không?
Trông thấy cô gái châm thuốc hút, anh cố nhớ lại xem câu chuyện của họ bị gián đoạn ở chỗ nào. Cuối cùng, anh cũng đã nhớ ra. Dưới ánh sáng của que diêm, gương mặt cô hiện lên vẻ hiền từ và dịu dàng, mất hẳn vẻ khắc nghiệt cố hữu.
- Tôi quên được chứ sao lại không, và thường hài lòng như vậy, - Anh đáp.
- Xin lỗi, nhưng tôi không tin anh! - Cô tuyên bố sau quãng thời gian im lặng khá lâu.
- Nếu cô tin mới là chuyện đáng ngạc nhiên. Nhưng hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới người ta có thái độ đối với màu đen của nước da hoàn toàn khác ở đây. Xu hướng này có lẽ cô chưa được biết. Nếu cô rời châu Âu muộn hơn chừng năm năm, hẳn cô thấy tất cả đã thay đổi. Trong vấn đề này cô chuyển động không phải về phía trước mà là tụt lại phía sau. Đấy là lý do vì sao cô đánh giá toàn bộ thế giới bằng thứ tiêu chuẩn đã lỗi thời của mình.
Trong lời đáp, anh nghe thấy một thứ âm thanh òng ọc trong họng, khó chịu, cộc cằn - tiếng cười, tỏ thái độ không tin đối với những lời anh vừa nói.
Anh chờ cô gái nói điều gì đó, nhưng cô im lặng. Anh tiếp tục:
- Điều tôi nói quả thực là như thế. Cách đây không xa lắm, tại một số miền của châu Phi, vị trí đã được thay đổi đến mức đáng kể, nghĩa là màu đen của da không còn là gánh nặng nữa. Ví dụ như ở Neasaland, Tanzania, Kenya hay là Bắc Rodezia, nếu có màu nào đó bị coi là gánh nặng thì đó chính là màu trắng.
- Điều đó cũng có ở những người thổ dân - Cô gái thản nhiên bổ sung.
- Vâng, cả thổ dân nữa - Anh đồng ý. - Tại miền ven biển phía Tây, các tiêu chuẩn hoàn toàn khác. Ở Tây Phi và Ai Cập màu da không hề có chút ý nghĩa nào, giản đơn là người ta không chú ý đến nó. Ở đấy người ta đánh giá vấn đề phẩm chất một cách khác. Tôi từng sống khá lâu ở vùng này và tôi hiểu, những thổ dân thậm chí không cảm thấy ở đấy có chút gì gọi là khó xử cả.
- Nhưng chính tôi là nữ cư dân của Nam Phi. Giả sử tất cả những điều anh nói là đúng ở vị trí của tôi, chưa chắc gì điều đó đã giúp được tôi.
Dường như lần đầu tiên cô gái nhận thấy lòng tốt của anh. Tuy nhiên cô đã kiềm chế được ý muốn hòa điệu và thân thiện; hơn nữa, còn muốn tỏ ra dịu dàng.
- Tôi nghĩ rằng - anh nói - cô đã nhấn trọng âm không đúng. Con người sinh ra hay chết đi, quả thật chẳng có gì là quan trọng. Cái quan trọng là anh ta sống. Sống và trở thành một con người quan trọng hơn nhiều so với việc chỉ trở thành người Ấn Độ, người da đen, người da trắng hay là người Nam Phi nói chung.
- Nhưng anh sẽ không phủ nhận rằng, - cô vội vã xen vào, - sự tồn tại và cuộc sống không thể có được ở ngoài thời gian và không gian. Anh ở đây với tôi vì ở đây không có anh. Sự lưu trú của anh ở xứ sở này không được chính quyền cho phép, và dù thế nào thì anh cũng là một tù nhân. Anh biết không, lúc này đây, ngồi cùng với anh tôi cảm thấy yên tĩnh đến thế, thanh bình đến thế, những cảm giác mà tôi chưa trải qua ngay từ thời niên thiếu. Và tôi cảm thấy hình như đấy là nhờ có sự hiện diện của anh, lý tưởng của anh. Đấy là những lý tưởng đưa trái tim bay cao. Nhưng anh cũng như tôi, biết rất rõ rằng chỉ cần đi ra khỏi khu vườn này, những lý tưởng tuyệt vời của anh sẽ bị mất ý nghĩa ngay. Chúng tôi vẫn còn chưa thôi là những kẻ man rợ… Anh đã liều thân mang tiền nong đến xứ sở này để hoạt động bí mật. Chẳng lẽ anh đã quên đi hàng trăm chính trị phạm, đã quên rằng trong nhiều gia đình, ông bố và bà mẹ đang ngồi tù không có ai để trông nom con cái, cho chúng bú mớm, trả tiền nhà cửa? Lẽ nào anh quên rằng người ta đã kết án giam giữ người dân tại nhà, để cho nhà nước khỏi phải quan tâm, giam giữ họ trong tù vất vả như thế nào? Còn số phận của những đứa trẻ đáng thương, khi cả hai bậc sinh thành bị giam giữ tại nhà rồi sẽ ra sao?
- Nào, cứ nói đi, nói nữa đi! Tôi thấy là vấn đề sắp dẫn tới những câu khẩu hiệu chính trị rồi đấy. Tôi chỉ muốn nói một điều: toàn bộ bản tuyên cáo của cô và sự lưu trú của tôi ở đây đều theo đuổi một mục đích duy nhất - thành lập một xứ Nam Phi sao cho chúng ta có thể sống yên ổn, phát triển và cảm thấy mình là những con người. Vì điều đó mà tất cả chúng ta dấn thân vào sự mạo hiểm như thế này.
- Vâng, - cô nhận xét một cách buồn bã - đúng là cần phải như thế. Nhưng trong thực tế mọi thứ lại diễn biến một cách khác. Một khi anh còn ngồi trong khu vườn này, mọi việc dường như đều có thể thực hiện được. Tuy nhiên, tôi hiểu rằng điều đó chỉ là ảo tưởng do anh gợi lên. Chúng ta đang sống trong tình trạng chiến tranh, anh bạn của tôi ạ. Và khi anh bị bao phủ, dù chỉ trong chốc lát bởi cái ảo tưởng hòa bình thì điều đó cũng là tuyệt lắm rồi. Nhưng ở lâu trong cái quyền lực của ảo tưởng là điều nguy hiểm. Sau tối nay, cố nhiên, tôi sẽ dễ bị thương tổn hơn, và đó là điều xấu đối với tôi cũng như với những người thân cận của tôi.
- Cô muốn nói đến mối quan hệ của mình với những người da đen?
- Vâng! Anh biết đấy, quả là chúng tôi cũng không tin lắm vào nền văn minh của người da đen. Thậm chí đấy không phải là thành kiến. Nói đúng hơn… Không, dù sao đi nữa thì đó cũng là thành kiến. Riêng tôi hiện giờ thấy dễ chịu hơn và tôi lại lo sợ điều này. Khi tôi còn sống ở Ấn Độ, thành kiến công khai chống lại những sinh viên châu Phi đang học tập ở đấy đã làm tôi hoảng sợ. Còn bây giờ thì chúng ta nên im lặng một lúc, tôi van anh đấy.
“Hóa ra nàng cũng đáng yêu khi công nhận mình là người yếu đuối” - anh nghĩ và nói thành tiếng:
- Dù không tin tưởng vào bất cứ người nào, dù là sợ hãi, thậm chí cho dù thất bại đang đe dọa, điều chủ yếu là tiếp tục đấu tranh. Và để còn là con người trong mọi hoàn cảnh, cần phải học được cách phán xét với chính mình.
- Trở thành con người, anh cho đấy là điều quan trọng nhất sao?
- Trở thành hay lại trở thành con người và nuôi dưỡng cái bản tính này trong bản thân mình, đối với tôi là sự biện minh duy nhất.
- Với anh, tôi cảm thấy mình già nua, trơ trẽn, tàn nhẫn. - Sự mỉa mai chẳng ăn thua gì, và anh nhận thấy trong lời nói của cô nỗi đắng cay chìm lắng khác thường nào đó. - Anh bàn luận giống như con nít sống trong thế giới tưởng tượng, và không ngờ sự nguy hiểm và mối tai họa đang chờ đón nó. Chúng ta cần phải nhớ đến thực tại. Chỉ cần lọt ra ngoài bức tường này là anh lập tức chạm trán với tai họa.
- Nếu như thực tế tồn tại chỉ có tai họa, thì đấu tranh còn có ý nghĩa gì?
- Hình như chúng ta đang lặp lại rồi đó. - Cô gái nói một cách chán nản.
Lại bắt đầu im lặng. Một sự im lặng hiền hòa, êm ả, khi mọi việc đã rõ và khi đã mất đi quan niệm khác nhau về thời gian và không gian.
Và thế là, vào lúc họ đang ngồi chìm đắm trong yên lặng thì Xêmmi Naiđu đi tới. Anh ta từ ngoài phố về, và mắt anh không cần phải làm quen với bóng tối. Người đầy tớ dẫn anh vào phòng khách tối om và chỉ vào chiếc cửa kính trông ra vườn. Đến trước cửa Xêmmi dừng lại. Anh cho rằng họ đã ngủ, nhưng ngay lúc ấy anh lại nghi ngờ về điều đó. Những người ngủ ít khi phát ra điện, còn lúc này bầu không khí có một điện trường đậm đặc, và Xêmmi Naiđu cảm thấy điều đó.
“Quỷ quái thật!” - anh thầm nguyền rủa và nhón chân đi ra phía sau ngôi nhà. Trong nhà bếp anh bắt gặp hai phụ nữ người xương xương và người thanh niên cao lớn có mái tóc được chải sáp bóng lộn. Không để ý đến hai người phụ nữ, Xêmmi Naiđu bước đến chỗ người đàn ông:
- Chuyện gì xảy ra ở đây thế, Điki?
- Chẳng có gì.
- Chẳng có gì nghĩa là sao?
- Họ xuống dưới nhà, ăn uống, sau đó cùng đi ra vườn. Đấy, chỉ có thế.
- Chính tôi đã dặn cậu là phải theo dõi và nghe ngóng xem họ nói cái gì kia mà.
- Tôi cũng đã làm đúng như vậy.
- Được rồi, có gì không?
- Họ nói nhăng nói cuội gì đó, tôi chẳng hiểu ra làm sao cả. Thậm chí đến chính trị họ cũng nói một cách buồn cười thế nào ấy. Họ không như chúng ta. Họ lúc nào cũng như giỡn ấy.
- Bày trò mèo bắt chuột hả? - Naiđu hỏi một cách khinh khi.
Câu hỏi dồn Điki vào chỗ bí.
- Không, họ không nắm tay nhau, không ôm nhau, không hôn nhau và nhìn chung chẳng có gì đại loại như vậy cả. Họ cũng không nói về tình yêu, tuy nhiên giữa họ vẫn có một cái gì đó. Điều này tôi không thấy ngay từ đầu mà mãi sau mới nhận ra.
- Thoạt đầu thì thế nào?
- Tôi đã nói rồi, họ đi xuống dưới nhà và cô ấy cho anh ta ăn uống. Cô ấy bám chặt anh ta giống như tất cả chúng ta đang làm ấy. Sau đó họ bắt đầu tranh cãi - Điki nhận thấy Naiđu thay đổi nét mặt. - Họ tranh cãi không giống như chúng ta, mà giống như bọn da trắng ấy. Khi tôi làm việc trong khách sạn ở Durban, tôi đã từng nhìn thấy kiểu tranh luận như thế này: không lăng nhục nhau, chẳng la hét, khe khẽ thôi, nhưng biết ngay là họ đang giận nhau. Này, anh biết đấy, đó là điều thường xảy ra…
- Họ tranh cãi về chuyện gì?
- Cô ấy kể, người ta đã giết hại những người Ấn Độ như thế nào. Anh biết rồi đấy…
- Ừ, rồi anh ta phản đối hả?
- Không, anh ta muốn nói rằng anh ta lấy làm tiếc, nhưng cô ấy không cho anh ta thốt ra lời. Sau đó cô ấy kể, chúng ta đã đối xử với cô ấy như thế nào.
- Nói tiếp đi!
- Họ đi ra vườn và ở đấy họ lại tiếp tục cãi cọ với nhau một cách kỳ quặc thế đấy. Thoạt tiên họ nói về châu Phi và về trở ngại màu da, về những người Ấn Độ, sau đó là những lời nói huyền bí khó hiểu: “Tôi và dân tộc tôi”, “Anh và dân tộc anh”. Sau đó là về cái chết, về sự sinh đẻ, và vì sao mà người ta đấu tranh. Họ cứ nói liến thoắng như vậy bằng tiếng Anh. Tôi lấy làm kiêu hãnh vì miss Đi, cô ấy không khoan nhượng anh ta! Nhưng anh chàng Caphr bé nhỏ này, tôi xin nói cho anh biết, là loại ớt hiểm đấy!
Cái nhìn có vẻ trách móc của Naiđu khiến Điki tỉnh ngộ. Với vẻ nhẫn nhục anh ta bắt đầu phân bua:
- Hãy tha lỗi, Xêmmi, hãy tha lỗi cho tôi. Tôi chỉ vô tình nói ra thôi. - Sau đó anh ta tỏ thái độ bằng nụ cười khúm núm. - Tôi xin cam đoan, dù sao đi nữa thì họ vẫn cứ gọi chúng ta là cột nhà cháy và phu phen.
Nhưng vẻ ngoài khúm núm và giọng nói cầu khẩn của anh không công hiệu.
- Nghe đây, Điki! - Naiđu lạnh lùng nói. - Nếu như tôi nghe thấy lời ấy một lần nữa, cậu lại bị đưa ra đồn điền trồng mía ngay, hiểu chưa?
- Tôi hiểu, thưa Xêmmi, tôi hiểu!
- Thế đấy. Còn gì nữa không?
- Không còn gì. Vụ cãi cọ buồn cười này không hề chấm dứt, và tôi chỉ hiểu ra một điều: họ nói chuyện một cách trìu mến và dịu dàng, giống như phải lòng nhau. Sau đó họ im lặng và cứ ngồi như thế suốt.
- Họ im lặng có lâu không?
- Theo tôi thì lâu. Có thể mười mà cũng có thể hai mươi phút.
Xêmmi Naiđu đứng trầm ngâm hồi lâu, bộ mặt đen tròn của anh đã trở lại bình thản và lãnh đạm, đôi tay to lớn thọc sâu trong túi chiếc áo vét màu xanh thẫm. To lớn, vững tin ở sức mình, trông anh tựa như một cái ghềnh đá.
Người phụ nữ lớn tuổi hơn chăm chú nhìn anh và nhận thấy đôi môi tím nhạt của anh cứ như bị xoa một lớp tro, còn cặp mắt thì sưng lên. Chị nhớ lại, điều này đã xảy ra nhiều lần, khi anh ta xuất hiện ở đây vào đêm khuya với thần sắc giống như thế này, bác sĩ bao giờ cũng yêu cầu trước hết là để cho anh ta ăn đã.
- Ngài có muốn ăn không, thưa ngài Naiđu?
Naiđu dường như đoán được ý nghĩ của chị và mỉm cười:
- Cô thay thế bác sĩ hả, Kixxi?
- Bác sĩ nói ngài là một người rất quý giá đối với chúng tôi, ngài Naiđu ạ. Vì thế chúng tôi cần phải quan tâm đến ngài cho thật chu đáo.
- Tất cả mọi người đều quý giá hết, Kixxi ạ.
Kixxi như muốn phản đối nhưng rồi thay đổi ý định.
- Ngồi xuống đi, thưa ngài Naiđu! Để tôi đi hâm nóng món gì đó ngài dùng.
- Để sau hẵng - Naiđu nói. Sau đó nét mặt anh giãn ra trong nụ cười biết ơn, hiền hậu. - Tôi sẽ trở lại ngay trong khi cô hâm nóng đồ ăn, được chưa nào?
Thế là mặt Kixxi rạng rỡ lên:
- Một bữa ăn ngon miệng và nóng sốt sẽ chờ ngài, thưa ngài Naiđu.
Anh ta đã gợi lên những cảm giác nào trong Đi vậy, - Naiđu ngẫm nghĩ và bước ra khỏi nhà bếp. - Nhưng Đi đâu phải là loại phụ nữ ngây ngô cả tin, để nhìn anh ta giống như Kixxi nhìn mình. Chuyện gì đã xảy ra thế? Hay chỉ là do Điki Najaccar đã đưa ra những lời bịa đặt? Nhưng Điki là con người nghiêm túc và đáng tin cậy kia mà.
Lần này, Xêmmi Naiđu cố ý để họ nhận ra là anh đang lại gần. Anh đập vào cửa kính và đằng hắng. Cả hai người tức khắc đứng lên khỏi chỗ ngồi của mình. Bầu không khí bao trùm trước đó không còn nữa. Nhưng Đi có vẻ hơi luống cuống, giống như bị người ta bắt gặp cô đang làm một việc khiếm nhã nào đó.
- Xin lỗi vì tôi đã đến muộn, - Naiđu nói hướng về phía Đi. Sau đó anh bước lại phía Nkôzi và chìa tay cho anh ta - Anh thấy trong người thế nào?
- Rất tốt, - Nkôzi đáp.
Phải - Naiđu nghĩ - nhìn qua mình có thể thấy rõ điều đó.
- Có tin tức gì ở chỗ bác sĩ không?
- Chiều nay ông ấy vừa gọi dây nói về.
- Mọi việc ổn cả chứ?
- Vâng, nhưng chúng tôi chưa nói được gì thì đã nghe tiếng tút tút…
- Họ đã nghe trộm cuộc nói chuyện của chúng ta, - Naiđu giải thích. - Chuyện đó bây giờ là thường. Chỉ có điều họ còn chưa biết là khi họ nối mạch thì sẽ có tiếng tút tút khe khẽ vang lên. - Anh lại hướng về phía Đi - Chừng nào thì bác sĩ trở về?
- Chiều mai.
- Còn việc của tôi thì thế nào? - Nkôzi hỏi. - Khi nào tôi có thể đi được?
- Thế chị đã nói gì với anh ấy chưa?
- Chưa, - Đi đáp.
Cô nhìn vào mặt Nkôzi và Naiđu thấy rõ là họ hiểu nhau mà không cần phải dùng lời nói.
- Tốt hơn hết là chúng ta hãy vào nhà đi đã, - Naiđu đề nghị.
Đi im lặng bước lên trước.
Nhìn thấy dáng đi của cô gái người dường như lệch hẳn trên chiếc chân đau, Naiđu đâm ra nghi ngờ những giả thuyết của mình. Những người châu Phi - tất cả mọi người không trừ một ai, kể cả những người đã được rèn luyện và những người có học cũng vậy, như anh chàng thanh niên này - đều ghê tởm một cách bản năng, từ lâu đời và bám sâu vào tận gốc rễ đối với bất cứ loại người tật nguyền nào. Ở thời đại trước, người ta giết chết những người tàn tật, còn bây giờ không có quyền làm chuyện đó nên người ta khinh bỉ họ.
Đi leo lên cầu thang, rẽ sang bên phải và mở cửa. Cô bật đèn. Hai người đàn ông theo sau cô bước vào một căn phòng rộng rãi. Tất cả các bức tường, trừ cửa sổ ra, từ sàn đến trần nhà đều được che bằng ván. Một số ít sách để gọn trong tủ kính, số còn lại được xếp trên chiếc giá bằng gỗ tạp. Bên cạnh cửa sổ kê chiếc bàn viết lớn bằng gỗ quý. Ở đây còn một chiếc đi văng đồ sộ bọc một lớp da màu da lươn và ba chiếc ghế bành nặng nề cũng được bọc bằng thứ vật liệu y như vậy. Trong gian phòng tiện nghi, ấm áp này, nơi mà màu da lươn chiếm ưu thế, phảng phất có mùi vị của bụi bặm toát ra từ những quyển sách ở các xứ nhiệt đới. Một cái giá với nhiều ống vố khác nhau, khó khăn lắm mới ngửi thấy mùi thuốc lá hút tẩu, khác hẳn với mùi thơm của thuốc điếu - tất cả điều đó chứng tỏ rằng đây là vương quốc của đàn ông.
Naiđu khép cửa sau lưng mình và khóa lại.
- Đây là căn phòng yêu mến của bác sĩ, - anh nói - ở đây bao giờ cũng yên tĩnh, do đó có thể bình thản đọc sách và suy nghĩ.
- Và càng xa được phụ nữ, - Đi bổ sung một cách khô khan.
Nkôzi nhận thấy dường như có tia lửa lóe lên trong đôi mắt của Naiđu. Mặc dù chẳng có gì lo lắng, anh sốt ruột chờ đợi điều mà Naiđu sẽ nói với anh. Naiđu đi vòng quanh bàn và ngồi vào chiếc ghế bành của bác sĩ. Đi Nankhu ngồi ghé xuống chiếc đi văng, và Nkôzi nhận thấy cô co chiếc chân đau lại một cách bản năng. Anh chọn chiếc ghế bành sát ngay cạnh bàn làm việc, ngồi cho được thuận tiện hơn và chuẩn bị lắng nghe.
Naiđu đặt đôi tay đồ sộ của mình lên bàn và nhìn chúng chằm chằm.
- Tôi rất lấy làm tiếc, nhưng đoạn kết kế hoạch của chúng ta đã bị sụp đổ.
- Vì Vexthiuzen ư? - Nkôzi hỏi.
Naiđu gật đầu.
- Anh ta đã kể tất cả?
- Không. Anh ta chẳng kể gì cả, nhưng mật khẩu đã để lọt vào tay họ, mật khẩu mà Vexthiuzen cần phải trao cho anh ấy. Bọn chúng đã xác minh được tức khắc anh ta là ai.
- Những tên lính tuần tiễu đã biết họ của anh ta là Ketxe.
- Bây giờ thì không phải chỉ có những tên lính tuần tiễu mà cả nước đều biết Ketxe và Vexthiuzen cũng chỉ là một người. Người ta đã thông báo chuyện này trên đài phát thanh, đã viết trên các báo, giống như một năm trước đây người ta đã công bố anh ta là người da màu.
- Thật tội nghiệp, - Nkôzi nói. - nhưng tôi sợ rằng anh ta sẽ nói hết mọi chuyện!
- Anh ta sẽ không nói gì cả. Anh ta đã chết.
Nkôzi nhìn sang Đi và hiểu rằng cô đã biết chuyện này từ trước. Cô trả lời anh bằng cái nhìn chăm chắm và lạnh lùng, tựa hồ như muốn nói: chính tôi đã báo trước rằng đằng sau những bức tường của ngôi nhà này tội ác đang ngự trị mà.
- Kẻ nào đã làm chuyện đó? Cảnh sát hay là…
“Và cậu mới thật là thông minh! - Naiđu nghĩ. - Thông minh một cách kinh khủng!”.
- Anh ta có thể để cho chúng lần ra được dấu vết của chúng ta và dấu vết của Xêmmi, - Đi nói bằng giọng lạnh lùng, khô khan.
- Do đó, anh ta đành phải…
- Thế thì phải làm gì? - Cô đáp lại bằng một câu hỏi.
Như vậy là có ý nói đến Điki Najaccar, khi anh ta nói về điều rối rắm khó hiểu - Naiđu suy nghĩ.
- Chúng ta có quyền gì…
Naiđu không để anh nói hết:
- Có quyền, cái quyền nảy sinh từ sự cần thiết, từ lịch sử, từ khát vọng sống. Chúng ta đang đứng trước một tình thế nan giải: hoặc là cứ tiến hành công việc, hoặc là rước lấy cái chết cho mình và cho công việc chung của chúng ta.
Nkôzi cương quyết lắc đầu.
- Tôi không nói về cuộc khởi nghĩa, vụ phá hoại hay cuộc cách mạng, - Anh nói rất bình tĩnh. - Đây là nói về vụ giết hại một con người mà người ấy đã từng giúp đỡ chúng ta.
- Anh thích hay không thích mặc lòng, nhưng chúng tôi vẫn phải làm việc cần làm, - Naiđu nhắm mắt và trề môi. Khó khăn lắm anh mới ngăn được những lời nói gay gắt chực tuôn ra từ đầu lưỡi. Naiđu không có khả năng che giấu sự bực tức của mình, và chính vì thế anh kiềm mình. Nkôzi cảm thấy nỗi tức giận của anh ta đặc biệt dữ dội. - Tôi chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra. Tôi nhận mọi trách nhiệm về phần mình.
Làn sóng giận dữ dâng lên trong tim Nkôzi.
- Đúng là như thế đấy.
- Nhưng mà thế thì phải làm gì? - Đi kiên nhẫn nhắc lại với nỗi lo lắng.
Hóa ra ý kiến của anh ta quan trọng đối với cô ấy, Naiđu nghĩ và sợ hãi với ý nghĩ này. Anh chuyển cái nhìn từ Nkôzi sang Đi, sau đó lại nhìn Nkôzi.
- Xin lỗi, nhưng hiện giờ tôi không có ý định tranh luận dựa vào lý do đạo đức hoặc về mặt luân lý của vụ này. Có thể là ở một chỗ khác và trong hoàn cảnh khác, nhưng không phải ở đây và không phải lúc này. Anh nghĩ thế nào cũng được, ở thời điểm hiện tại, điều đó đối với chúng tôi không hề có chút ý nghĩa nào. Và chúng tôi không thể cho phép mình suy nghĩ về những sự việc như vậy.
“Không, không!”- Trong thâm tâm, Đi phản ứng bất chấp mọi lôgic, mặc dù không thể giải thích được tại sao.
- Dường như anh có dính dáng trực tiếp, - Naiđu tiếp tục, - đến việc mật khẩu dành cho anh bị rơi vào tay bọn chúng. Căn cứ vào các nguyên nhân, do một người của họ biết, họ không công bố sự việc này. Họ chỉ thông báo rằng Vexthiuzen bị Poko giết chết. Nhưng người ta sao tấm ảnh trong giấy phép và hàng trăm bản đã được gửi đến tất cả các đồn cảnh sát trên khắp đất nước.
- Họ nghĩ rằng tôi đã giết anh ta...
- Trong bản phúc trình chưa công bố của cảnh sát có nói rằng: Lần cuối cùng người ta nhìn thấy Vexthiuzen vào lúc rạng sáng ngày thứ hai, cùng với một gã bản xứ, mà như anh ta đã báo cho đội tuần tra cảnh sát, anh ta đã lượm được trên biên giới của Nhà nước bảo hộ. Mệnh lệnh nêu rõ: bằng bất cứ giá nào cũng phải tóm cho được gã bản xứ. Tuy nhiên, trong các thông báo báo chí nói về cái chết của Vexthiuzen lại không thấy điều gì tương tự.
Naiđu dừng lại, anh cảm thấy dường như Nkôzi muốn nói một điều gì đó, trông anh có vẻ mệt. Sau đó anh lại nói:
- Kẻ giết chết Vexthiuzen đối với chúng là vấn đề thứ yếu. Trước hết, chúng quan tâm Vexthiuzen đã làm gì, và chúng cho rằng gã bản xứ đi cùng với anh ta có thể làm sáng tỏ điều đó.
- Do đâu mà anh biết tất cả chuyện này?
Naiđu cảm thấy hình như Nkôzi hoàn toàn bình tĩnh và chỉ có Đi mới hiểu anh đang bị căng thẳng như thế nào. Nét mặt Naiđu thay đổi một cách kỳ lạ.
- Anh tôi, người anh cả của tôi là dự thẩm viên phòng chính trị với cấp bậc trung sĩ.
- Rõ rồi, - Nkôzi nói.
Bất ngờ Naiđu nổi cơn thịnh nộ:
- Rõ rồi, rõ rồi! Ngài chẳng rõ cái cóc khô gì cả, thưa ngài.
- Xêmmi, tôi xin anh! - Đi Nankhu van nài.
- Không có gì!- Nkôzi trấn an cô.
- Không có gì - Naiđu nhại lại, càng lúc càng lớn tiếng. - Người ta nói không có gì nghĩa là không có gì. Người ta nói rõ rồi, nghĩa là anh ta đã rõ hết mọi chuyện. Anh ta sáng suốt, anh ta văn minh, anh ta không thích sự giết người và anh ta biết hết tất cả. Xin cho phép tôi được nói với anh một vài lời như vậy. Anh là người da đen và đã sinh ra ở đây nhưng anh chẳng nhìn thấy cái cóc khô gì cả. Tôi xin thề là tôi đã nhìn thấy chán chê cảnh anh đùa giỡn với vị nữ thần giàu từ tâm như thế nào.
- Xêmmi! - Lần này thì Đi nổi giận thực sự. - Ngài Nkôzi là khách của chúng ta.
- Của chị, chứ không phải của chúng tôi! - Xêmmi xẵng giọng đáp. Sau đó cố nén mình và lắc lắc đầu một cách hối hận - Hãy tha lỗi cho tôi, Đi Nankhu. Tôi không nói chuyện đó. Quả là bực thật, vì anh ta hoàn toàn không muốn hiểu…
- Còn anh thì đã mệt mỏi và thấy đói. Muốn nói gì thì để sau hãy nói!
- Ở đằng ấy Kixxi đang hâm nóng món gì đó… - Naiđu quay về phía Nkôzi - Xin lỗi. Tôi đã trải qua một ngày quá ư nặng nề. Vụ án mạng không đơn giản và công việc cũng chẳng vui vẻ như anh đã hình dung về nó đâu. Thôi, xin mời, không cần phải nói gì hơn. Khơi ra một cuộc tranh luận mới chẳng có ý nghĩa gì. Hãy nghe một chút đây. Một vấn đề độc đáo đang đặt ra trước mắt chúng ta, những người Ấn Độ. Chị đã kể cho anh ấy nghe về hoạt động bí mật chưa? - Anh hướng về phía Đi Nankhu. - Về những đặc điểm của tình hình chúng ta chưa?
- Chưa!
Naiđu cúi đầu và nhắm mắt lại. Anh ngồi như vậy một lúc, đắm mình trong suy nghĩ. Sau đó anh ngẩng đầu lên và nhìn Nkôzi.
- Tôi hy vọng là anh đã biết chỗ dựa của hoạt động bí mật, đấy là những người một thời nào đấy lãnh đạo công tác bí mật hoàn toàn do các vị thủ lĩnh Đại hội thực hiện. Dĩ nhiên là tôi nói đến các nhân vật cầm đầu Đại hội cho tới lúc nó bị cấm. Nếu như anh còn nhớ đó là những con người ôn hòa, những người đánh giá sự vật giống như anh, theo quan điểm giá trị của chúng, những người ủng hộ tính thận trọng và đã đau lòng vì việc đem chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của người da đen đối lập với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của người da trắng. Luthuli(1) vẫn là người sốt sắng tán thành cách nhìn như vậy. Khi đối phương bắt đầu viện đến những phương pháp cứng rắn hơn, các nhà lãnh đạo trong số những người ôn hòa, tất nhiên là bị thất bại. Các lực lượng đối kháng đã rút sâu hơn vào con đường hoạt động bí mật. Poko thách thức các nhà lãnh đạo Đại hội cũ và bắt đầu trả lời bạo lực bằng bạo lực. Và tất nhiên, bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Phái tự do và những người da trắng khác, những người trước kia cùng hành động chung với Đại hội, tham gia chống lại sự khủng bố. Poko và những người theo chủ nghĩa dân tộc Phi đáp lại bằng cách phủ nhận và từ chối bất cứ sự hợp tác nào giữa những người da đen và những người da trắng. Thậm chí họ còn đi xa hơn, khẳng định rằng không ai có thể giúp đỡ những người Phi giành được tự do, vì vậy họ không cần đến sự giúp đỡ của bất cứ ai. Điều đó đã làm cho mọi người căm phẫn, trong số đó có cả những người Phi ôn hòa. Những nhân vật có uy tín trong thiểu số tự do và tiến bộ da màu, da trắng, Ấn Độ, đã đi đến kết luận rằng họ không còn gì để mà tuyên bố về sự ủng hộ của mình đối với những người da đen. Họ cho rằng trong trường hợp này những người châu Phi bất hạnh sẽ mở rộng hợp tác và yêu cầu lãnh đạo họ. Vì thế họ hết sức lúng túng khi những người da đen tuyên bố không cần họ. Nhưng còn khó chịu hơn đối với họ là thiện cảm công khai mà đám quần chúng đông đảo những người Phi chào mừng quan điểm của ban lãnh đạo mới.
Điều đặc biệt là những người cộng sản, bất chấp bản tính chủng tộc của họ, là những người đầu tiên quen với tình hình mới. Xếp thứ hai sau những người cộng sản là những người Ấn Độ: chúng tôi tuyên bố chấp nhận vô điều kiện sự lãnh đạo của chính quyền thuộc số đông. Mặc dù vậy, trong hoạt động bí mật vẫn có những người không muốn có gì chung với dân Ấn Độ và những người cộng sản. Những người như vậy hiện vẫn đang tồn tại. Trong số các nhà lãnh đạo hoạt động bí mật đã nảy sinh sự bất hòa sâu sắc trong vấn đề này. Bởi vậy bác sĩ, tôi và những người cùng chí hướng buộc phải xin được tạo điều kiện để những người Ấn Độ chứng minh lòng trung thành của mình đối với sự nghiệp chung, để tạo điều kiện cho họ góp phần mình vào cuộc đấu tranh vì tự do. Và chỉ vì ông thư ký Hội đồng Trung ương ủng hộ chúng tôi, thỉnh thoảng tạo cho chúng tôi điều kiện như vậy. Tuy nhiên, các đối thủ của chúng tôi ở trong Đại hội chỉ chăm chắm chờ cho chúng tôi phạm một sai lầm nào đó. Một lần thôi, lần duy nhất. Lúc bấy giờ họ mới quật lại chúng tôi. - Naiđu im lặng và hít một hơi thật sâu. - Dù muốn hay không, chúng tôi tự tước bỏ cái tương lai này. Dù quan điểm và tình cảm của chúng tôi có như thế nào thì chúng tôi cũng không tránh né thực tại khắc nghiệt. Chắc Đi đã kể cho anh nghe, kẻ địch đã lợi dụng tinh thần bài Ấn Độ ở những người Phi như thế nào. Anh được biết về các cuộc thảm sát và những vụ giết người. Nếu hoạt động bí mật mà chuyển hướng ngược chiều với chúng tôi thì sẽ còn tồi tệ hơn. Bây giờ chúng tôi đề cập đến vấn đề của anh. Tiền bạc lúc này đã hoàn toàn vô sự, nhưng chúng tôi vẫn phải chịu trách nhiệm về anh như trước. Chúng tôi không muốn để anh rơi vào tay cảnh sát hoặc nói chung là xảy ra điều gì bất lợi đối với anh. Cảnh sát đang truy nã anh. Biên giới của Nhà nước bảo hộ được bảo vệ cẩn thận trên toàn tuyến chiều dài của nó. Chúng tôi giả sử, anh vượt sang biên giới một cách yên ổn, nhưng nếu người ta khép tội hoặc nghi ngờ anh giết người, chính quyền của Nhà nước bảo hộ dù thế nào cũng có trách nhiệm phải tố giác anh với chính quyền sở tại.
- Như thế là người ta nghi ngờ tôi đã giết người. - Cuối cùng Nkôzi nhìn Đi Nankhu nói.
Nhưng trả lời anh là Naiđu:
- Không, không phải là nghi ngờ. Người ta muốn hỏi cung anh. Nhưng nếu họ thấy không còn gì ngoài việc tuyên bố anh là kẻ giết người thì họ sẽ làm như vậy đó.
- Nhưng nếu họ tóm được tôi?
- Thế thì các đối thủ của chúng tôi trong hoạt động bí mật sẽ công kích anh và chúng tôi buộc phải quyết định cần bao nhiêu người của chúng tôi, cụ thể là những ai, cần phải hành động để cứu anh thoát khỏi sợi dây thòng lọng, để giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp của bộ phận người Phi, mà mối quan hệ ấy chúng tôi mong hiện vẫn tồn tại. Ngài thấy đấy, thưa ngài Nkôzi, việc bảo đảm an toàn cho ngài đối với chúng tôi quan trọng biết nhường nào. Nếu cần thì tất cả chúng tôi, cả bác sĩ, cả tôi, cả Đi Nankhu sẽ hy sinh để cứu mạng anh, không phải vì chúng tôi yêu mến anh hoặc chúng tôi coi trọng cá nhân anh và ý kiến của anh…
- Điều đó thì tôi đã biết rồi, - Nkôzi nói. - Anh đã phô trương điều ấy một cách xuất sắc.
- Xêmmi không nói đến điều ấy.
- Nhưng bà chị thân mến ạ, ngài Nkôzi và tôi, chúng tôi đều hiểu rằng tôi nói đúng đến điều ấy đấy.
- Hoàn toàn có thể hiểu được sự tức giận của anh ấy, - Nkôzi nói.
- Anh lại nhầm lẫn rồi. Chúng tôi không thể cho phép mình xài sang như thế.
- Đi ăn tí chút gì đó có phải tốt hơn không nào! - Đi nói.
Xêmmi đứng dậy, hơi lảo đảo, chỉ đến lúc ấy Đi và Nkôzi mới nhận thấy anh ta mệt mỏi như thế nào.
- Vâng, xin lỗi Đi nhé, tôi đã làm chị buồn phiền.
- Không đâu, Xêmmi. Nếu có người nào đó làm cho tôi buồn lòng thì trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, người đó cũng không phải là anh.
- Thế thì mọi việc còn tồi tệ hơn là tôi dự đoán. - Từ sau bàn anh ta bước ra và ngừng lại một phút, đặt đôi tay to lớn của mình lên vai Nkôzi. Rồi khi đã ra đến cửa, anh ta còn quay lại nhìn anh.
- Tôi rất lấy làm tiếc, nhưng hiện giờ anh hiểu cho là chúng tôi buộc phải từ bỏ kế hoạch ban đầu của chúng tôi.
- Vâng, tôi hiểu.
- Anh đành phải ở lại đây ít nhất cũng cho đến lúc bác sĩ quay trở về. Tôi hy vọng rằng điều đó không phải là thử thách nặng nề đối với anh. Đến lúc ấy chúng tôi sẽ quyết định xem phải làm gì tiếp theo. Anh chớ nên lo lắng nếu như không có mặt tôi ở đây một vài ngày. Đi Nankhu sẽ chăm sóc anh… Chúc sức khỏe, Đi! - Và cánh cửa sau lưng Naiđu đóng sầm lại trước khi Đi Nankhu kịp trả lời.
Nkôzi ngả lưng trên chiếc ghế bành bọc da, nhắm mắt lại và bắt đầu cân nhắc về tình huống mới nảy sinh. Khi người ta đề nghị anh gánh vác sứ mạng này, anh và những người cùng lý tưởng đã suy nghĩ và cân nhắc đầy đủ mọi tình huống, thậm chí cả đến phương án anh không cần thiết phải nhờ đến sự giúp đỡ và bảo vệ của tổ chức bí mật mà có thể chỉ dựa vào chính mình. Ấy thế mà vẫn không có ai dự đoán được tình huống này: giới tự do chủ nghĩa giàu có và nhiều thế lực trước kia chỉ cần đánh tiếng là đã giúp đỡ bằng cách tạo mọi điều kiện cần thiết thì nay chỉ vì những lời nói bóng gió về một vụ án mạng đã vội quay lưng lại ngay lập tức. Và lại là những người Ấn Độ kia chứ. Anh đã có ý niệm, mặc dù còn rất mơ hồ, về vị trí của họ ở đây. Nhưng chưa bao giờ anh nghĩ đến điều kinh khủng như thế. Anh chán nản vì thấy không thể tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nhưng anh làm thế nào để thoát ra khỏi chỗ này, cũng như tránh khỏi câu chuyện đáng nguyền rủa có dính đến vụ án mạng này? Đúng là quỷ tha ma bắt, cần phải tránh không để cho mật khẩu của anh rơi vào tay cảnh sát. Và Vexthiuzen…
Đôi tay phụ nữ chạm vào vai anh đã cắt đứt những ý nghĩ rối loạn này. Nhưng anh vẫn ngồi bất động, hai mắt nhắm nghiền. Chà, thì ra cô ta đã biết chuyện này từ lâu!
- Xin lỗi! - Đi Nankhu nói.
- Nghĩa là cô đã biết! - Anh thốt lên.
- Vâng.
- Bây giờ tất cả những gì cô nói đều trở nên rõ ràng. Một thế giới khủng khiếp. Nhưng cô đã không đúng khi trách mắng tôi về mối tai họa mà những người Phi đã gây ra cho dân tộc cô. Đây là rừng rậm, chớ nên quên đấy!
Anh ngẩng đầu lên và nhìn cô gái. Lúc này cô đã trở lại giống như lần đầu tiên anh trông thấy. Đôi môi mím chặt cùng với những nếp nhăn hằn sâu dọc theo hai bên má càng tăng thêm vẻ nghiêm khắc mà anh cứ đinh ninh là bản tính không thể tách khỏi cá tính của cô cho tới tận lúc nói chuyện trong vườn, khi bất ngờ cô chứng tỏ cho anh thấy cô là một người nhân hậu. Bây giờ thì không còn lưu lại một chút dấu vết nào của lòng nhân hậu ấy. Cặp mắt màu nâu sẫm nhìn anh một cách lãnh đạm và lạnh lùng.
- Xin lỗi! - Cô nói và nụ cười giễu cợt hiện ra trên môi. - Chắc tôi đã làm cho anh chán ngấy đến cổ rồi. Tôi sẽ không dám quấy quả nữa. Chúng ta đang sống trong rừng rậm, còn bây giờ thì đã khá muộn rồi!
Cô mở toang cánh cửa, bình thản chờ đợi cho đến lúc anh đứng dậy khỏi chiếc ghế bành. Họ chằm chằm nhìn nhau hàng phút, sau đó anh khẽ nhún vai và bước ra. Cô tắt đèn và cùng anh bước ra ngoài hành lang.
- Hôm nay không cần phải lên trên gác xép, - cô nói. - buồng ngủ đối diện với cầu thang còn trống. Ở đấy đã sắp sẵn mọi thứ dành cho anh. Nếu có chuyện gì hãy nhanh chóng leo lên phía trên. Sau khi tiêm thuốc xong anh đã ngủ ngon lành, vì vậy cần để anh ở một chỗ hẻo lánh nào đó. Tất cả đồ đạc của anh ở đó. Khi anh ngủ, Naiđu đã đo kích thước của anh và bộ quần áo mới đã sẵn sàng. Chớ nên quên mang nó theo, nếu xảy ra chuyện gì đó. Nhưng người ta sẽ báo trước cho anh. Nếu như tôi đã quả quyết điều đó, nghĩa là chúng tôi, đám người phu phen, thực sự xứng đáng có một cái gì đó.
- Phải, - Nkôzi nhận xét với nỗi cay đắng. - những con người tháo vát, hệt như những con kiến.
- Như những con kiến, anh nói phải! - Cô xác nhận.
Cô gái dừng lại bên cánh cửa phòng ngủ của mình và nói:
- Thôi, chúc ngủ ngon! Không nên nghi ngờ, chúng tôi đang làm tất cả mọi thứ để có thể đưa anh đi được sớm hơn.
Anh đáp, không nhìn cô:
- Chúc ngủ ngon! - Và đóng cánh cửa sau lưng mình.
Lại ngự trị nỗi buồn muôn thuở của rừng thẳm.
Ở bên dưới, trong khi Naiđu đang ăn thì Điki Najaccar và hai người phụ nữ ngồi chờ. Một trong hai người phụ nữ, người trẻ hơn, ngủ gà ngủ gật nhưng có vẻ như vẫn quyết không chịu bỏ sót một lời nào.
- Đã đến lúc cho cô bé ngủ rồi! - Naiđu nói.
Kixxi hiểu lời nói bóng gió và đứng dậy kiên quyết đuổi cô gái ra khỏi nhà bếp, mặc dù cô ta cố cãi là hoàn toàn không có gì là mệt mỏi.
Từ sau cửa vẳng đến tiếng thì thầm phản đối nhỏ dần. Điều đó làm cho Điki Najaccar phì cười.
- Cậu thấy đấy, Xêmmi, Kixxi rất nghiêm khắc với cô bé này.
- Thế nhưng trong đó nhằm biểu thị cái gì? - Naiđu hỏi.
- Chẳng có gì đặc biệt ở đó hết, - nhận thấy sự lo lắng trên mặt Naiđu, Điki vội vàng nói tiếp - chỉ là chuyện vừa xoa vừa đập đó thôi. Nhưng chẳng có gì quan trọng lắm đâu. Đừng lo lắng về việc đó. Kixxi không phải là người độc ác.
Kixxi quay trở lại.
- Thế nào, cô ta làm việc ra sao? - Naiđu hỏi vẻ quan tâm.
- Không có gì, thưa ngài Naiđu. Nhưng, ngài biết đấy, tuổi trẻ bây giờ quá ư yếu đuối. Bọn họ chỉ biết có chải tóc và bôi trát mặt mũi thôi. Hồi bằng tuổi nó tôi đã có hai con, hơn nữa tôi lại còn làm việc ngoài đồng, ra đi trước lúc rạng đông mà quay về thì trời đã tối mịt; mệt đừ người rồi, làm sao những trò ngớ ngẩn ấy còn hiện ra trong đầu được nữa. Bây giờ thì mọi thứ đều khác rồi.
- Nếu cô ấy lười biếng, - Naiđu nói, - tốt hơn hết là trả cô ấy lại. Chúng tôi sẽ kiếm cho cô một bé gái giúp việc khác.
- Không, không, thưa ngài Naiđu, không cần. - Kixxi phản đối. - Chẳng lẽ tôi đã nói là cô ấy lười. Cô ấy rất được lòng tôi. Một cô bé đáng yêu và chăm chỉ đến thế cơ mà.
- Nhưng tôi cảm thấy hình như cô đã nói rằng…
- Không, tôi chỉ nói đơn giản là thời bây giờ khác hoàn toàn, và các cô gái sống dễ chịu hơn. Chỉ có thế thôi, thưa ngài Naiđu, thề có trời chứng giám, cô ấy rất tốt!
- Vậy thì không nói chuyện đó nữa. - Naiđu kết thúc.
- Cô ấy là một người rất tốt. - Kixxi nhắc lại.
Najaccar bật cười và Kixxi đoán ra là họ cố tình nói khích để chị khen ngợi cô gái giúp việc của mình. Chị không biết nên giả vờ giận dỗi hay nên cười xòa. Nhưng cặp mắt của Naiđu sáng lên những tia lửa ranh mãnh đến nỗi chị không nín được và cười phá lên. Sau đó Naiđu nói một cách nghiêm trang:
- Chúng tôi không muốn, Kixxi ạ, để cho lớp trẻ sống nặng nề như thời chúng tôi đã sống. Cứ để cho cuộc sống của họ dễ chịu hơn. Để làm được điều này, tất cả chúng tôi đều tham gia vào phong trào: bác sĩ, miss Đi, tôi và tất cả các nhà lãnh đạo còn lại đều có chung ý kiến như vậy. Cô thử nghĩ xem, khi cô còn trẻ như cô gái này, chẳng lẽ cô không muốn chải đầu, xức tóc bằng dầu thơm, cài hoa, quấn xari đẹp và đi ra sông dạo chơi cùng bạn bè? Phải chăng cô không muốn, hả Kixxi? Mà dù sao cô cũng đã trải qua thời nuôi dạy con cái trong khi chính cô vẫn còn nhỏ; và thêm vào đó, làm việc ngoài đồng, từ sáng sớm đến tối mịt. Chính cô cũng không mong muốn cho vận mệnh con cái mình hoặc là cô gái này phải như vậy, đúng không?
- Tất nhiên, thưa ngài Naiđu!
- Thế mới tuyệt chứ! Khi cô ấy lề mề, hãy nhớ là cô ấy còn quá trẻ. Và cũng đừng ngăn cản cô ấy tìm bạn, mơ ước, làm đỏm để được lòng chàng trai, đồng ý không? Cô ấy còn gặp đủ thứ khó khăn ở phía trước, chúng tôi hiểu điều đó.
- Vâng, - Kixxi trầm ngâm đáp - chúng tôi biết điều đó.
- Thế là tốt. Còn bây giờ chúng tôi nói đến những việc quan trọng. Cô, Kixxi ạ, hãy báo trước cho cô gái biết, để cô ấy không được nói một lời nào với bất cứ ai về con người hiện đang ở trong nhà này. Hãy bảo là không được nhắc đến anh ta, thậm chí trong các cuộc chuyện trò với cô ấy. Ngay cả bản thân cô cũng phải im lặng, thậm chí không được nói với cô ấy về anh ta. Mọi người cần phải quên rằng trong nhà có người lạ. Không một lời nào về anh ta. Hiểu chưa?
- Nhưng những người láng giềng của chúng ta… Đấy, như hôm nay…
- Người ta cũng sẽ báo cho họ. Kể từ giờ phút này, không cần bất cứ người nào nói và nghĩ về anh ta. Cần phải quên sự có mặt của anh ta đi. Hãy cứ coi như anh ta không có ở đây, coi như anh ta chưa bao giờ xuất hiện ở đây, và vì thế, không một ai có thể trông thấy anh ta. Hãy chuyển điều đó cho tất cả những người láng giềng, Điki. Hãy giải thích cho họ biết rằng những người lãnh đạo phong trào cho rằng đây là vấn đề sinh tử. Hãy báo trước cho họ rằng chúng có thể bí mật phái cảnh sát đến chỗ họ. Được chứ?
- Được, Xêmmi !- Điki Najaccar buồn rầu đáp.
- Được, thưa ngài Naiđu! - Kixxi nói.
- Này, Kixxi, cô đã mệt rồi. Hãy đi nghỉ đi!
- Ngài sẽ ngủ lại đây chứ, thưa ngài Naiđu?
“Thậm chí cô ta - Naiđu phỏng đoán - lo lắng đến mức là con người này đã gây ấn tượng đối với Đi”.
- Không đâu, Kixxi ạ, hôm nay tôi không thể ở lại đây được. Có quá nhiều công việc.
Kixxi ngước mắt nhìn lên, như muốn xuyên qua tường, trần nhà và có thể đã nhìn thấy cái gì đang xảy ra ở bên trên. Sau đó chị đi về phía cửa.
- Chúc ngủ ngon, ngài Naiđu!
- Chúc ngủ ngon, Kixxi!
- Chúc ngủ ngon, ngài Điki!
- Chúc ngủ ngon, Kixxi! Cô chớ lo, tôi sẽ ở đây.
Điki chờ cho đến lúc cánh cửa phía sau Kixxi đóng lại xong mới nói:
- Tôi có thể lấy mền và nằm ngủ ở trên kia, bên cạnh cầu thang?
Naiđu mỉm cười một cách mệt mỏi và lắc đầu:
- Cậu có thể nhưng không nên làm điều ấy. Cậu tiễn chân tôi, nhân thể kiểm tra lại xem cửa lớn và cửa sổ đã được đóng hoặc khóa tất cả chưa, sau đó đi qua lối sau và khóa ở bên ngoài cửa lại. Hãy nói cho đội vệ binh biết chỗ cậu sẽ ngủ và có thể nằm ngủ được.
- Nhưng…
- Nhưng cái gì? Cậu đã trông thấy người ấy, đã chuyện trò với anh ta. Chẳng lẽ cậu nghĩ rằng nửa đêm đột nhiên anh ta bỗng có ý định giết miss Đi sao?
- Không đâu, Xêmmi… Nhưng…
- Cậu sợ anh ta hãm hiếp cô ấy?
Điki Najaccar ngó Xêmmi với vẻ cầu khẩn. Xêmmi đoán chừng cậu ta ngụ ý về chuyện gì đó nhưng không nói ra lời. Trong thâm tâm cậu ta đang cầu xin Xêmmi: chính anh biết, Xêmmi ạ, tôi đang nghĩ về việc gì. Anh ta là người Phi, còn cô ấy là người Ấn. Cô ấy là em gái bác sĩ và chúng ta cần phải bảo vệ cô ấy.
Naiđu suy nghĩ: Thế là chúng ta đã đi đến chỗ ngại ngùng, không dám công khai phát biểu những ý nghĩ của mình. Chính anh nói to thành tiếng:
- Có thể sẽ diễn ra điều mà miss Đi mong muốn.
Điki Najaccar quay lưng lại, và Xêmmi đoán rằng anh ta không dám trình bày ý nghĩ của mình cho đến tận cùng lý lẽ. Naiđu lấy làm ngạc nhiên rằng Điki Najaccar không vội vàng chộp lấy cái tình thế đem lại niềm an ủi này, rằng quyền lựa chọn thuộc về miss Đi, giống như anh một năm trước đây hẳn là đã bám lấy. Quyền lựa chọn là của riêng cô ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là những lo lắng của Điki là không có căn cứ. Cậu ta đã trở thành người lớn.
Điki Najaccar cố gắng mỉm cười nhưng môi dưới cứ run run phản lại anh ta.
Xêmmi Naiđu thử tỏ cử chỉ trìu mến khác thường đối với Điki Najaccar. Những người trẻ tuổi trạc Điki sống ở xứ sở này trở thành người lớn quá sớm. Thời niên thiếu trôi qua một cách vội vàng, họ lớn trước tuổi, đây không nói về sự phát triển tự nhiên, tuần tự; cái sức mạnh thô bạo ẩn chứa trong mọi người đã phá vỡ nhiều phẩm chất quý giá. Chẳng bao lâu nữa - Naiđu cay đắng tự nhủ - rất nhanh thôi, ở xứ sở này và các dân tộc của nó, những người da đen, những người da màu, những người da trắng và tất cả các loại khác sẽ chính là hiện thân của khái niệm không rõ ràng “Lòng thương hại”. Khuynh hướng này hiện nay đã được biểu hiện một cách rõ ràng và chính xác. Miễn là…
- Hãy nói xem, Điki - anh hỏi - đã bao giờ cậu cặp bồ với một cô gái da đen chưa?
Nụ cười bẽn lẽn, dè dặt soi sáng khuôn mặt Điki.
- Rồi.
- Nào, vậy thì cô ta có khác với các cô gái khác không?
- Anh định nói về cái gì, Xêmmi?
- Nào, nếu so sánh cô ta với các cô gái khác, với chúng ta chẳng hạn?
- Tôi không biết, - Điki trả lời thiếu tự tin.
- Rõ ràng là mọi cô gái đều khác nhau. Điều đó tôi không nói đến. Tôi hỏi, các cô gái da đen ấy, thể hiện với cậu có giống với các cô gái khác không? Như người ta hay nói ấy, đám con gái Tàu thật là đặc biệt.
Najaccar mỉm cười:
- Bây giờ thì tôi không còn nhớ một cách chính xác nữa. Nhưng theo ý tôi, cô ta cũng giống như các cô gái khác.
- Thế sau chuyện đó chính bản thân cậu có thay đổi không?
- Không… Tại sao anh lại hỏi tôi về chuyện này, Xêmmi?
- Chỉ là vì… đối với tôi, chẳng hạn, mọi người đàn bà đều như nhau. Tất nhiên họ khác nhau theo kiểu riêng của mình, như tất cả mọi người, nhưng điều đó hoàn toàn không lệ thuộc vào màu da hay là chủng tộc; cố nhiên là nói về những người nào mà tôi biết.
Bây giờ bắt đầu tới lượt Điki hỏi. Anh ta cho rằng mình có quyền làm như vậy.
- Thế còn anh, Xêmmi, đã bao giờ anh có tình nhân là một người phụ nữ da đen chưa? - Anh cố trấn tĩnh, hỏi.
- Không phải chỉ một cô. - Xêmmi mỉm cười tư lự. - Cả da trắng lẫn da màu. Nhưng hồi đó hoàn toàn không giống như bây giờ. Những người như tôi có thể học ở các trường đại học của Johannesburg, Cape Town và thậm chí ở trường cao học ở Durban. Hồi đó những người khác chủng tộc tiếp xúc khăng khít hơn và thậm chí còn có thể kết bạn với nhau nữa kia.
- Kết bạn với những người da trắng? - Điki ngờ vực.
- Phải, Điki ạ, kết bạn với những người da trắng.
- Ở đây? Ở xứ sở này? - Điki ngẫm nghĩ hàng phút. - Anh muốn nói rằng hồi ấy nói chung không có sự phân biệt màu da?
- Trở ngại do màu da lúc nào cũng có, nhưng ở thời ấy những người da trắng hổ thẹn vì cái trở ngại đó và cảm thấy mình có lỗi; vì thế họ đành phải kiếm cách nào đó để thanh minh và giải thích hiện trạng ấy. Và bởi vì ngay Chính phủ cũng cảm thấy mình có lỗi bèn tỏ vẻ không nhìn thấy những người da trắng không tôn trọng các luật lệ và bắt tay với chúng ta. Hơn nữa, trong thời gian này có thể bày tỏ ý kiến chống đối việc phân biệt màu da, chẳng hạn như Jan Hôpmâyơ và các bộ trưởng còn lại trong Chính phủ đã làm. Rủi ro là ở chỗ, Điki ạ, chúng ta đã để cho trở ngại do màu da bám rễ quá sâu và quen với điều đó. Con người đã quen với cái gì thì khó mà phân biệt được đấy là đúng hay là không đúng nữa. Thoát ra khỏi những thói quen lâu ngày là khó nhất trần đời.
- Anh đã mệt rồi đấy, Xêmmi! - Điki Najaccar thì thào, đoán rằng nỗi buồn đã chi phối Naiđu.
- Đúng, - Naiđu đáp lại. - chúng ta đi nào. Hãy để cho tôi đi và hãy nhớ điều tôi nói với cậu.
Anh nặng nề đứng lên khỏi ghế, sau đó rướn thẳng người, gần như theo kiểu nhà binh và cương quyết đi về phía cửa ra. Trước khi mở cửa ra ngoài, anh đưa mắt nhìn cầu thang và lầu trên của ngôi nhà. Ngôi nhà đã chìm trong bóng tối tĩnh mịch. Điki Najaccar phải kiềm chế ý muốn một lần nữa, lại cầu xin Naiđu cho phép ngủ cạnh phòng của Đi Nankhu. Naiđu mở cánh cửa nhỏ chỗ hàng rào và đóng sầm ngay lại sau lưng mình nhanh đến nỗi Najaccar thậm chí không kịp chúc anh ngủ ngon.
Ra đến ngoài đường, Naiđu đứng đợi cho tới lúc Najaccar vặn chìa khóa lách cách và cài hai then lại mới vội vàng bước đi dọc theo đường phố vắng tanh vắng ngắt của khu phố Ấn Độ, tiếp giáp giới khu vực của những người da trắng cư ngụ. Anh cố nén mình để không nghĩ đến Đi Nankhu và người da đen mang tên là Nkôzi, và chuyển sang nghĩ ngợi về bản chất của những thành kiến cũng như khó khăn nếu muốn khắc phục được chúng. Tiếng chó tru ảo não tại một ngã tư buộc anh dừng lại. Anh đứng chừng một phút, sau đó cúi đầu bước tiếp. Quá mệt mỏi nên anh không còn nghĩ ngợi gì nữa, chỉ có điều anh không cho phép mình lãng quên đội tuần tra cảnh sát, dù chỉ trong thoáng chốc.
(Con tiep)
Nguon: Quyen luc cua dem toi. Thai Thanh Duc Pho dich. NXB Van hoc, 2006.
|