Tiểu thuyết
13.11.2008
Trần Công Tấn
Sáng trong như ngọc
Chương 1

Chương 1


 


Ở Niêm Phò thuở ấy còn gọi là làng Kẻ Lừ, nông dân mà có học, biết chữ nho và viết được chữ quốc ngữ như ông Nguyễn Kháng, thì không ra làm quan làng lý trưởng, chánh tổng, chỉ là dân cày chay thôi, cũng được quý trọng. Ông Kháng không mê chức tước, tính nết vốn ngay thẳng, to tiếng bênh vực người nghèo khổ trong làng, quan xã vừa nể sợ, lại vừa ưu ái. Hương lý ở Niêm Phò sợ ông, nể ông là do tính cương trực đàng hoàng của ông, lại thêm ông là người có chữ, có nghĩa, làng phải giao cái chức hương bộ cho ông. Hương bộ là cái danh xưng mà chẳng có chức tước gì dính dáng đến triều đình như các bậc cửu phẩm, bát phẩm. Người có chữ ở các làng thời ấy vẫn thường được chánh tổng, lý trưởng cậy nhờ viết đơn, viết bẩm, thưa trình lên với tri huyện, thì được gọi là Biện. Như ông Biện Cương, Biện Tháo. Còn được giao giữ sổ bộ, trước bạ, điền thổ của làng thì gọi là Bộ. Ông Kháng là người giữ sổ sách điền thổ của làng nên cũng được gọi cái chức kèm theo cái tên là ông Bộ Kháng, mà người làng quen gọi là ông Bộ Hán. Hán là tên tục của ông thời ấu thơ.

Ông Bộ là một trai cày mạnh khỏe. Dáng người thấp, nhưng tầm thước, nước da ngăm đen, tóc cứng, mắt sáng. Ông lại có tài nói lối, thông thạo ca dao hò vè nên nhiều cô gái làng mê mệt. Không chỉ gái Niêm Phò mê, mà gái quanh vùng ở tận Phổ Lại, Phù Lễ, Hạ Cảng, Đồng La … cũng mê nghe giọng hò mái nhì của ông Bộ Hán. Nhưng ông sống giản dị, khiêm tốn và nghiêm túc nên chẳng phù hợp với một số trai làng con cháu lý tổng ăn chơi trác táng dại gái thời ấy. Năm hai mươi tuổi ông mê và cưới o Trần Thị Thiển. Thiển yêu ông bởi giọng hò và xuất khẩu thành thơ. Kháng cũng mê Thiển vì Thiển cũng là người con gái luôn ví von sự đời bằng ca dao, tục ngữ và thuộc nằm lòng các truyện Kiều, Phạm Công Cúc Hoa, đọc làu làu “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”…[1]


«


Lấy nhau hơn chục năm, o Thiển được người làng thương mến, quý trọng và cái tên Thiển được thay bằng tên chồng: Mụ Bộ Hán. Từng ấy năm, Mụ Bộ đã cho ra đời bốn trai, ba gái.


Nguyễn Hào, cậu con trai đầu cũng giỏi giang việc đồng áng như cha. Con trai thứ Nguyễn Du thì lơ là cấy cày mà chỉ thích lớn lên làm thầy giáo. Hai cô con gái tiếp theo Nguyễn Thị Lỏn và Nguyễn Thị Lẻn thì nết na, hiền dịu, giúp anh cả và cha trong việc đồng áng, nương vườn. Cậu thứ năm Nguyễn Vịnh thì mê hát hò như cha mẹ nhưng sáng dạ. Mê đọc sách. Mới chín tuổi đã mê đọc sách Hồng (la rose) bằng chữ Tây. Môn thể thao mà Vịnh mê nhất là bóng đá. Nguyễn Dĩnh em trai kế Vịnh hiền lành như cục đất, chẳng mê ban bóng sách vở gì nhưng tính hơi cộc, gặp đứa nào ăn hiếp út Nguyễn Thị Hát là Dĩnh ra tay đấm đá liền, bảo vệ em. Nhiều lần ông Bộ dùng roi mây quất vào đít Dĩnh để trị tội hay đánh lộn với học trò con nít trong làng. Nhưng Dĩnh vẫn không chừa ngứa ngáy tay chân và chống đỡ làn roi mây của cha bằng cách lót mo nang để bảo vệ cái … mông đít. Dĩnh học sau Vịnh một lớp, không giỏi chữ Tây bằng anh, nhưng hay vận dụng chữ Tây để chơi lại các đàn anh hay ăn hiếp. Một hôm Dĩnh đang giương ná cao su ngắm bắn con cu đất đậu trên cây thầu đâu thì bị thằng Cán giật mất. Cán cao to quá, Dĩnh không dám gây lộn bèn kêu lên: “Anh Cán ăn hiếp tui. Không trả ná cho tui, tui cho anh MƯỜI MỘT GIỜ 10 PHÚT bây giờ. Thằng Cán ngẩm nghĩ một tý rồi à lên, rượt theo đá liên tiếp vào mông Dĩnh: “Mười một giờ mười phút – ông dơ đít mi nút hay mi dơ đít tau đá?”. Dĩnh ôm mông chạy thoát. Chuyện đó đến tai ông Bộ Hán, Dĩnh lại phải lót giấy bản vào mông, vì giấy bản mềm, roi mây đánh vào không kêu bôm bốp như lót mo cau Dĩnh đã bị lộ lần trước.


Đầu 1927, sau một trận đau thương hàn, ông Bộ nằm liệt giường nửa tháng rồi yếu dần. Đêm ông nằm thao thức không ngủ được. Những đêm trăng, gió đánh lạch phạch vào tàu cau. Con mực sủa lách nhách suốt đêm làm ông mất ngủ. Ông gọi vợ:


- Mình ra ngoài nương coi chó sủa chi mà sủa mãi.


Bà Bộ ngái ngủ nói:


- Chó sủa trăng, sủa ma đó mà. Nhà mình có vàng bạc của cải chi mà sợ ăn trộm.


Ông nghĩ đến lời vợ: “Chó sủa ma. Ma muốn tới rước mình đi hay sao đây?”. Con chó nó thiêng lắm. Động đất, núi lửa, sóng thần chi chó cũng biết trước huống chi ma”. Điềm xấu đây. Ông gọi bà dậy và nói:


- Thằng Hào rồi đi lấy vợ. Lỏn, Lẻn rồi lớn lên sẽ yên bề gia thất. Tui mà nhắm mắt chỉ lo thằng Vịnh, thằng Dĩnh phải bỏ học, rồi cũng theo đuôi trâu đẩy cày. Mạ mi cố mà cho con theo học. Thằng Vịnh sinh vào mùa xuân Giáp Dần, xương cọp nhưng cầm tinh con trâu là khổ lắm. Tuy mạng Đại khê thủy nước sông lớn đó, nhưng rồi con vẫn khổ, lớn lên nhân duyên cũng trắc trở buổi đầu. May ra thoát khỏi cái làng Kẻ Lừ, ra thoát khỏi cái nghề chẻ tre đan lừ, đơm cá, đi xứ khác làm ăn mới khá giả lên được. Chừ thì chưa biết ra răng, chỉ chộ hắn mê banh bóng. Nếu bỏ học thì mạ mi gởi con vô trong Huế đi ở đợ, làm thuê cho mệ Tương, mệ Gà mà học đá banh”.


Giọng bà Bộ vẫn còn ngái ngủ:


- Ba mi ngủ đi. Đừng nằm đó mà lo bò trắng răng! …


Ông Bộ vẫn nói thủng thẳng:


- Tui không lo tui chết, mà chỉ lo cho con …


- Thôi ông ơi – bà Bộ lại cắt ngang lời ông – Mình già rồi, chết lúc mô mà chẳng được. Mình đừng dại mồm dại miệng con nghe được nó lo. Tội nó. Còn mình thì như cái tàu cau khô không níu được buồng. Đến khi phải rụng xuống, thì rớt nơi mô cũng đành.


Ông Bộ đã mệt lắm, nhưng nghe vợ nói vậy, cũng cố nín cười:


- Mạ mi lại xổ ca dao hò vè ra rồi!…


Nói thì nói vậy, nhưng bà vẫn lo chạy thuốc cho ông và đã dặn dò các con. Bà vẫn khuyên con học cho thật giỏi và dặn anh Hào, các chị Lỏn, Lẻn bày vẻ cho các em học cấy hái, cày bừa. Tan giờ học chữ là phải học cày. Sau khi học cày lại đan rổ rá, lừ đơm cá rồi giúp mẹ làm vườn, cuốc nương. Mấy mẹ con ra sức làm lụng để có tiền chạy thuốc cho cha và cố gắng hết sức để kéo dài cuộc sống của ông Bộ Hán.


Mùa hè năm đó nóng dữ. Trời đã xế chiều nhưng còn nắng gắt. Vừa sắc siêu thuốc bắc đổ ra bát cho cha, Vịnh đã lén ra ngõ chạy tuốt qua nhà thằng Đãi vì nghe tiếng các bạn học từ ngoài bờ sông Bồ ý ới gọi nhau ra sân bóng. Đãi học sau Vịnh một lớp, thua Vịnh một tuổi nhưng ở trường tiểu học và trong làng Niêm Phò, tuy Vịnh có nhiều bạn thân như Song, Oanh, Bật … nhưng Vịnh thương Đãi nhất. Có chuyện vui buồn chi Vịnh cũng đều kể hết cho Đãi nghe. Vịnh mê đá bóng và bao giờ Đãi cũng ở về phía đội của Vịnh. Đứng trước ngõ nhà Đãi, Vịnh réo lên:


- Đãi ơi! Mau ra không thì tụi nó giành hết chỗ!


Đãi biết nếu ra sân chậm, thì tụi bạn xếp vào hết chỗ, đành ngồi bệt xuống sân cỏ làm cầu thủ dự bị. Chờ thằng nào lọi cẳng, sái tay, chảy máu mũi, gãy răng hay bị ác bít1 đuổi mới vào thay chỗ. Nhưng tụi hắn lì lắm. Có thằng va chạm đầu nhau u một cục bằng trái ổi mà vẫn không chịu ra cho ai thay thế. Biết vậy nên Vịnh vừa gọi là Đãi chạy ra ngay. Vừa chạy Đãi vừa kéo chim ra đái cho kịp trước lúc xếp đội hai bên. Vịnh vừa chạy vừa ngoái lại dặn. Trận ni tau chạy en gốt1, mi đứng arie[2] nghe Đãi. Nhất định diệt bọn xóm Hói Bò. Thấy thằng Đãi vừa tè vừa chạy chậm vẽ ra một vệt loằng ngoằng giữa đường làng đất bột, Vịnh quát lên:


- Nín đi chờ đờ-mi-tăng3 rồi đái. Chạy mau lên!…


Trận đấu chiều ấy vô cùng căng thẳng. Phe Vịnh hết hiệp một đã thắng 2-1. Vào hiệp hai xóm Hói quyết gỡ. Hai bên đã có nhiều thằng sứt trán, trẹo chân. Vịnh, Đãi đang hăng, quyết không cho đối phương gỡ để trả nợ trận trước thua Hói 2-0. Hiệp hai mới được độ mươi phút thì Vịnh đón quả tạt của thằng Song, nhẹ nhàng đưa bóng vào khung thành xóm Hói. Thua thêm quả nữa, thằng Muống đội trưởng nổi cáu mắng đồng đội: “Tụi bây trận ni đá răng mà lạ rứa. Không chịu mơ-nê đưa đẩy chi cả. Chộ banh đi mô là cả bầy chạy theo như ruồi bu cặc ngựa. Dở ẹc!


Nghe thằng Muống đưa ra cụm từ chiến thuật quá lạ tai, Vịnh đang cười ngất thì thằng Đãi chạy tới kéo tay Vịnh:


- Về. Về. Thằng Dĩnh ra kêu đó. Mi không nghe à?


Vịnh nhìn em vẫy gọi rối rít, linh tính có điều chẳng lành xẩy ra ở nhà. Vịnh cùng Đãi bỏ ra khỏi sân, cả đội của Vịnh khựng lại, không đá nữa. Thằng Muống chạy theo:


- Ê! Tụi bây ăn non. Thắng rồi không cho người ta gỡ hòa phải không?


Vịnh rút tay ra khỏi hai bàn tay giữ chặt của Muống, nói mà như khóc:


- Ba tau đau nặng. Tau phải về …


«


Trong sân nhà ông Bộ Hán có nhiều người túm tụm. Thấy Vịnh về mọi người giục:


- Vịnh mau lên. Ba cháu đang chờ cháu.


Vịnh bủn rủn cả người, bước vào thấy mẹ đang ngồi bóp bóp cánh tay ba, mắt mũi sụt sùi. Mẹ đang khóc. Tính mẹ cứng rắn. Vậy mà mẹ khóc là bệnh ba nặng lắm rồi. Vịnh vào quỳ xuống bên giường nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của ba. Chung quanh các anh chị và mấy đứa em đã mếu máo thương ba. Ba mở mắt ra nhìn Vịnh và cố phì phào nói qua hơi thở nặng nhọc:


- Con cố mà học. Cố dìu dắt em Dĩnh. Con cố mà … con cố …


Nói đến đó ông Bộ chợt ngoẹo đầu, bàn tay ông rơi thõng xuống. Bà Bộ bật khóc to rồi các anh chị đều khóc. Vịnh sững sốt nhìn mọi người và cũng bật khóc theo. Như thế là ba không còn sống được nữa. “Ba đã chết thật rồi”. Vịnh kêu khóc thảm thiết. Bát thuốc bắc Vịnh nấu ba cũng chưa kịp uống. Vịnh ân hận là mình đã ra khỏi nhà đi đá banh đúng lúc ba trở bệnh nặng. Cả tháng nay, đi học về là Vịnh ngồi bên giường ba. Cùng mạ nấu cháo, sắc thuốc hầu hạ, chăm sóc ba. Anh Hào và hai chị phải đi làm ruộng suốt ngày, không chăm sóc ba được. Em Hát thì còn nhỏ quá chưa biết gì. Vậy mà Vịnh đã ra khỏi nhà đúng ngày cuối cùng trong đời ba. Vịnh chỉ biết ôm mạ mà khóc và tự hứa với mình sẽ nghe lời ba, chăm học và chăm sóc các em.


«


Ông Bộ Hán qua đời là một mất mát quá lớn và những thiếu thốn khó khăn về kinh tế đã xảy ra liên tiếp trong nhà, nhưng Vịnh và Dĩnh vẫn được mẹ cho đi học. Ông Đốc Hy và thầy hiệu trưởng Lâm Toại rất quý anh học trò Nguyễn Vịnh sáng dạ và ưa giúp bạn bè. Hai ông thầy khuyên bà Bộ Hán nên cố gắng cho Vịnh đi học cho đến tú tài. Bởi họ thấy người học trò biểu hiện có nhiều triển vọng. Bà Bộ đã cố gắng rất nhiều nhưng cuối cùng vẫn không đủ cơm áo gạo tiền cho Vịnh và Dĩnh tiếp tục theo học. Vịnh mới học đến lớp nhất tiểu học thì một hôm, mẹ nói với Vịnh là mẹ rất thương hai con và út Hát. “Nhưng sức mạ không kham nổi. Anh cả Hào thì đã lấy vợ ra ở riêng. Anh Du thì bỏ nhà đi dạy học tận đâu ngoài Quảng Bình. Chị Lỏn, chị Lẻn đã về nhà chồng. Chừ một mình mạ không làm nổi hai mẫu ruộng để nuôi các con ăn học”. Nghe mạ nói thế Vịnh tự nguyện xin mẹ cho hai em tiếp tục học, còn Vịnh sẽ ở nhà cùng mẹ cày ruộng nuôi hai em. Không thể để anh và mẹ khổ, Dĩnh cũng bỏ học luôn. Vịnh và Dĩnh cùng nhau đi cày hai mẫu ruộng, nuôi cả nhà. Vịnh rất chịu khó cày cấy và bày vẽ cho em Dĩnh, em Hát. Cày cấy xong ruộng nhà, Vịnh giao công việc nhà cho em Dĩnh trông coi, còn Vịnh đi làm thuê, cuốc mướn khắp hai huyện Quảng Điền và Phong Điền. Mùa lúa đang non, gặp trời khô hạn thì Vịnh đi đạp nước, làm cỏ lúa, bón phân, đào mương be bờ. Mùa lúa chín thì đi gặt. Ai thuê gì làm nấy: đánh tranh, lợp nhà, đan rổ rá cho đến rao thuê bán chiếu cho dân Tam Kỳ, Quảng Ngãi. Cứ sáng dậy, ăn mấy củ khoai lang luộc, uống đọi nước chè xanh xong là Vịnh cắp nón ra đi. Mùa nào rao nấy: “Ai đạp nước không?”, “Ai cắt lúa, gánh lúa, đạp lúa chi không?”. Vừa đi Vịnh vừa gõ lưỡi hái vào đòn xóc mà hò mái nhì. Gái làng trên, xóm dưới cứ ngong ngóng chờ Vịnh đi ngang để nghe giọng hò của anh con trai làng Niêm Phò vui tính …


«


Đó là vào những năm 1930-1931, Vịnh nghe nói giặc giã nổi lên khắp nơi. Ngoài Tràng Thi, Bến Thủy, Nghệ An, Hà Tĩnh giặc nổi mạnh ắm. Hàng ngàn người theo giặc mang mỏ xảy, búa liềm gậy gộc, giáo mác lên phủ, lên huyện bắt trói tri phủ, tri huyện. Gặp lính Tây đen, Tây trắng gì ngăn cản cũng chém tuốt. Tây phải đem cả ngàn lính đến xả súng bắn giải tán người thị uy tuần hành và còn đưa cả tàu bay đại bác đến ném bom bắn phá giết người cộng sản. Không riêng chi mấy tỉnh ngoài Nghệ mà ngay trong tỉnh Thừa Thiên cộng sản cũng nổi lên. Vịnh nghe trên làng Hiền Sĩ, Phù Ninh cũng có các ông Phạm Tế, Hoàng Anh theo giặc. Giữa thành phố Huế đã xuất hiện sách báo cấm. Có một số người bán sách báo chữ Tây, chữ Tàu tuyên truyền cho cộng sản. Mấy ông bán sách báo kia thì Vịnh chưa biết nhưng mấy làng gần Niêm Phò như Nam Dương, Phù Lễ cũng có cộng sản. Những người chống lại các quan Tây và triều đình vừa được thả trong tù ra và những người sắp bị đưa vào tù đều bị dồn về an trí ở Quảng Điền. Ở làng Nam Dương và Phù Lễ có nhiều người ở nhiều xứ bị chính phủ bảo hộ đưa vào an trí, giam lỏng … Người ta đồn rằng những người bị đưa về Quảng Điền giam lỏng có liên quan đến ông Nguyễn Ái Quốc. Ông này giỏi tiếng Tây, ra báo chữ Tây để chống lại Tây; viết kịch, vẽ tranh lên án Tây đã qua ăn cướp nước An Nam mình. Ở Huế có một số người bí mật đọc và bán sách báo do những người cộng sản Pháp và ông Ái Quốc viết. Vì thế họ bắt người cùng quê với ông Ái Quốc đã làm loạn ở Nghệ Tĩnh vào đi an trí ở Quảng Điền. Thấy các ông các bà tù cộng sản và bị tình nghi cộng sản bị đưa về Nam Dương nhiều, dân làng Nam Dương lén lút giúp đỡ họ. Vợ chồng ông Nguyễn Hữu Nhiếp, Trần Thị Sành bí mật gặp gỡ và tạo điều kiện cho họ bớt cô đơn khổ sở khi ở trong làng.


Lúc này các quan Tây và triều đình Huế rất lo lắng họa cộng sản nên tăng cường đàn áp dân lành. Chuyện bắt bớ tù đày xẩy ra khắp nơi trong tỉnh. Ở nhà lao Thừa Phủ chật ních tù khắp tỉnh bị bắt về nhốt. Ngày ngày lính khố xanh, khố đỏ dẫn hàng đoàn tù dài, mặc áo số, đầu cạo trọc lê chân bị xiềng đi làm cỏ vê, làm lao công khổ sai quanh bốn bức ngoại thành và trong thành nội Huế. Toàn quyền Tây chê trách các quan đầu tỉnh để dân nổi loạn. Các quan đầu tỉnh phủ thừa, phủ doãn như Đặng Thành Đô bị quan Tây bãi chức, đưa Tôn Thất Dán lên thay. Để làm đẹp lòng quan Tây và triều đình, Tôn Thất Dán tăng cường đàn áp, thúc đẩy các tri huyện Trần Ngọc Liên, Nguyễn Trân, Cao Hữu Đồng ở ba huyện được gọi là có nhiều cộng sản như Phong Điền, Quảng Điền, Phú Lộc ngày ngày cho bọn mật thám, chỉ điểm lùng sục rình mò khắp mọi xó xỉnh. Ở đâu xa thì chưa biết, nhưng Vịnh đã chú ý đến mấy người lạ mặt lảng vảng trong làng Niêm Phò. Bọn này đã đóng các vai đi mài dao, sửa khóa, hàn soong nồi lủng, bán chiếu, bán cao đơn hoàn tán, thuốc dán, thuốc ghẻ… Lạ nhất là Niêm Phò đã có đến ba bốn thợ cắt tóc, đặt ghế đẩu ngoài chợ, dưới gốc đa đình làng, trước cửa trường tiểu học, vậy mà vẫn có mấy người mặt mày lấm lét, xách tráp đi rao mời cắt tóc. Lạ hơn nữa là trong đoàn ca Huế Kim Sanh vẫn có người tò mò đi hỏi chuyện mấy ông an trí, mấy ông Hiền Sĩ, Cổ Bi có về tụm họp chi ở Niêm Phò hay không. Có người còn lảng vảng trước nhà ông chú ruột có mấy thằng em ngổ ngáo của Vịnh. Như anh em mấy thằng Nguyễn Húng, Nguyễn Duệ, Nguyễn Chính, coi trời bằng ngọn rau má, chẳng biết sợ vua quan, Tây Tàu chi hết. Những chuyện lạ trên kích thích Vịnh, Vịnh cũng tò mò muốn tìm hiểu cộng sản là chi mà vua quan, Tây Tàu sợ đến vậy. Từ đó Vịnh mở rộng diện đi làm thuê lên tận trên các làng Cổ Bi, Hiền Sĩ, Lại Bằng, Phù Ninh … Qua các làng Phù Lễ, Nam Dương, Triều Dương, Vĩnh Nẫy … Càng đi đây đi đó, Vịnh càng biết thêm nhiều chuyện, thấy thêm nhiều cảnh lạ. Cái Vịnh thấy nhiều nhất là có nhiều người khổ, người nghèo. Nhiều ăn cắp ăn trộm, nhiều đĩ điếm và người đánh bạc, say rượu. Ăn mày thì ở khắp nơi. Đi đến đâu cũng đụng ăn mày. Đến nhiều nơi, Vịnh mới biết nhiều người còn khổ hơn mình. Phạm Oanh nói với Vịnh có một tờ báo bí mật tên là “Người cùng khổ” đang lưu hành ở Huế. Trong tờ báo đó đã lên án vua quan, Tây Tàu ức hiếp đàn áp, sưu cao thuế nặng bóc lột dân mình. Báo cũng phân tích vì sao và vì đâu dân mình đói khổ, muốn hết nghèo, hết khổ thì phải làm gì, Vịnh tự nhủ. Phải đi vô Huế tìm cho được tờ báo đó. Nhưng tìm được, mua được tờ báo đó rồi có bị mật thám chỉ điểm báo cho Tây bắt giam hay không. Cái đó tính sau. Việc cần là phải đi đến tận nơi, tìm hiểu mới biết.


Vịnh đến gặp Đãi mượn cái xe đạp. Nhà Đãi có cả xuồng đi đường sông lại có cả chiếc xe đạp Đờ-mi-cồng-pho đi đường bộ. Đãi nói:


- Trời chiều rồi. Mi vô đến cầu Tràng Tiền thì quán sách đóng cửa. Còn chi.


Vịnh nói:


- Kệ tau. Tau đạp xe vèo vèo như phi nước đại, hơn chục ký mét thì ăn nhằm chi.


Đẩy xe ra, Vịnh phóc lên, đạp ngay. Nhưng ngang nhà o Bận1, Vịnh thấy o ngoắt. Ui chao cái tay ngoắt mềm mại dễ thương hung. Cầm lòng không đậu, Vịnh phanh xe cái két, dừng lại. O Bận chạy quành ra sau nương, chỗ đường làng Vịnh đứng, sát bụi hóp mà hồi còn đi học Vịnh vẫn hẹn gặp Bận chỗ đó. Thấy Vịnh đứng tay cầm ghi đông xe mạ kền bóng loáng, Bận cười, khen:


- Anh Vịnh đi mô mà đạp xe oai rứa?


- Đi Huế – Vịnh nói – mượn xe của thằng Đãi. Oai chi mà oai.


Miệng Bận vẫn cười tươi như hoa nở, hàng răng trắng đều tăm tắp, bên khóe miệng lòi ra cái răng khểnh có duyên làm Vịnh xao xuyến cả gan ruột. Bận nói:


- Từ ngày ông Bộ mất, anh Vịnh lơ em luôn, hè?


- Lơ chi mà lơ – Vịnh trả lời nhấm nhẳn, như muốn chấm dứt câu chuyện cho mau để đi Huế. Nhưng thấy không đành, liền nói thêm - Ở nhà đi cày, đi làm thuê khổ chết cha rồi. Còn chộ trời đất chia nữa mà thương với nhớ, mà lơ với không.


- Riêng em thì em nhớ – Bận hỏi – Răng? Chừ không học để ra làm quan to hơn chức lý trưởng của ba em, để quay về cưới em à?


- Phải đi cày nuôi mẹ, nuôi em Hát. Học chưa ra được quan, thì họ đã cưới em rồi. Còn mô đến phần tui!


Bận kêu lên:


- Ui chao anh Vịnh ơi! Nói chi mà tội nghiệp rứa, hè? Chừ em bỏ hết. Em cứ chờ đợi anh thì anh tính răng?


Thấy Vịnh lúng túng, chưa tìm được câu nào để trả lời. Bận nói:


- Mỗi lần thấy anh, được gặp anh một chút là em vui cả tháng. Thôi được rồi. Anh đừng lo chi. Cứ lâu lâu cho em thấy anh một lần, là em thỏa dạ lắm rồi.


Vịnh đứng ngẩn ra nghe mà thương quá. Anh lại nhớ vài câu trước đây Bận nói khi được gặp nhau:


“Thấy nhau chúm chím miệng cười


Trăm sầu giải hết, mặt tươi như huê hường1” …


Ui chao, tình yêu là cái chi chi gỡ ra chẳng được, mà cứ dính vào lại rối như tơ vò. Vịnh bước vào tuổi mười lăm, mười bảy chưa qua hết cái tuổi học trò, mà sao cái o Bận này lại da diết thế.


Trời đã nhá nhem. Trâu bò từ ngoài đồng đã theo nhau về chuồng. Hai bàn tay Bận rứt sắp trụi lá một cành hóp, mà chuyện vẫn chưa dứt. Vịnh nghĩ bụng: “Cho dù Bận nói chi đi nữa cũng không vượt qua được rào cản của vợ chồng ông Lý Đậu. Con trai ông Phó Lý giàu có đang rấp rem đưa trầu cau đến chạm ngõ nhà Bận. Phận Vịnh nghèo, Bận có thương mấy đi nữa cũng không đến được với anh tá điền cày thuê cuốc mướn, khố rách áo ôm. Hơn nữa, càng lớn lên Vịnh càng thấy ước mơ giờ đây của mình đâu phải chuyện tình yêu, vợ con. Những câu hỏi luôn đặt ra trong đầu trong ngực Vịnh: “Cái gì đã xảy ra ngoài Nghệ Tĩnh, trên hiệu sách Sông Hương và những tờ báo Nhân đạo, Người cùng khổ, Tiếng dân … với những bài viết của ông Nguyễn Ái Quốc … Lại chuyện gì bí hiểm ở trên Hiền Sĩ, Phù Ninh, Phù Lai mà mật thám rình mò dò thám nhà các ông Phạm Tế, Hoàng Anh, Nguyễn Kim Thành … Vịnh đang suy nghĩ lan man thì Bận đột ngột hỏi:


- Cái áo em may, mặc có vừa không? Vịnh không trả lời về cái sự chật rộng của cái áo, mà hỏi:


- Sao Bận gan dữ rứa. May áo cho tui mà không sợ ông Lý đập cho à?


Bận cười:


- Thì em có nói may áo cho anh đâu. Mạ hỏi, em nói may áo chú Dĩnh đặt. Hôm sau gặp chú Dĩnh, mạ hỏi: “Áo con Bận may cháu mược vừa không?”. May quá, chú Dĩnh trả lời: “Vừa lắm”. Hôm đó chú Dĩnh nhanh trí mà cứu em. Chứ chú hỏi lại mạ “Áo mô hè, là chết em rồi” …


Đã tối hẳn rồi mà hai người cứ nói qua nói lại không dứt ra được. Nói đúng ra là một mình Bận nói. Vịnh thì tắc lưỡi: Thôi lần này cố mà chấm dứt chuyện ong bướm cho rồi. Bởi có lần ông Bộ đã nói cái tuổi Giáp Dần của Vịnh thì phần gia thất có trực trặc lớn. Mối tình đầu sẽ bất thành. Phải đợi lần thứ hai mới gặp người tâm đầu ý hợp. Thôi thì đành chia tay o Bận cho rồi.


Thấy Vịnh cứ đứng im 1ặng thế. Bận hỏi to:


- Tề! Nói chi với em thì nói đi răng mà cứ đứng đực ra rứa?


Vịnh như sực tỉnh, chợt nói:


- Thôi, tui về. Trời tối đen thui rồi mà!


Bận chụp lấy cánh tay Vịnh mà cắn một miếng rồi vùng chạy vô nhà.


Vịnh dắt xe đạp về trả. Đãi hỏi:


- Tài thiệt. Đi mau dữ rứa. Mua được tờ báo mô không?


Vịnh nói:


- Báo biếc chi mô. Vừa đạp xe qua nhà ông Lý Đậu1, o Bận kêu lại. Rứa là mất cả buổi. Ra ngõ gặp gái mà. Cha ông mình nói mô đúng đó.


Đãi cười:


- Vướng vào chuyện yêu đương là cứ như sa vào bẫy. Bẫy tình. Cứ mắc vô là như ruồi sa vào mạng nhện.


Vịnh không nói gì nữa, lặng lẽ rút lui. Bởi ở nhà, thiếu Vịnh trong mâm cơm là mạ cứ chống đũa ngồi chờ …


(còn tiếp)


Nguồn: Sáng trong như ngọc. Trần Công Tấn. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


Chương 2


 










V




ụ gặt năm 1932, Vịnh đã bước vào tuổi mười tám. Sự thôi thúc đi tìm hiểu những người cộng sản làm Vịnh ăn ngủ chẳng yên. Ngày mùa, hai anh em Vịnh cố gặt cho thật nhanh. Vịnh bảo Dĩnh nhanh tay gặt ruộng mình cho xong để Vịnh còn đi gặt thuê trên Hiền Sĩ, Phù Ninh.


Vịnh nhớ lại năm kia, khi cùng Phạm Oanh đi trồng chè ở đồn điền cụ Thượng Ngật trên Lại Bằng, Vịnh đã rủ anh em cu li đòi bọn chủ phải trả thêm tiền công cho anh em sắm cuốc. Tuy bọn chủ phải nhượng bộ nhưng cũng chửi dằn mặt Vịnh: “Thằng cu li Niêm Phò! Mi muốn nổi loạn xúi giục làm giặc như bọn cộng sản Hiền sĩ, Phù Ninh bên tê sông Bồ phải không? Muốn đi ở tù hả?” Qua lời đe dọa đó, Vịnh hiểu rằng làng Hiền Sĩ, Phù Ninh là hai làng dữ dằn giặc giã, là sào huyệt của các tay trùm cộng sản. Vịnh quyết lên đó gặt thuê, đạp lúa, xây rơm để lân la dò hỏi các ông cộng sản Hoàng Anh, Trần Lưu, Hoàng Thái … mặt mày ra sao mà nổi tiếng cả tỉnh, cả huyện đều biết. Vịnh đi chưa đến cầu An Lỗ thì nghe mõ đánh, tuần đinh cấm người các làng trên rú băng qua quốc lộ 1 để về Sình, Sịa, về chợ Hạ Lang. Và cấm người từ dưới Phá Tam Giang, dưới miệt biển đi lên mấy làng trên Cổ Bi, Hiền Sĩ. Mấy viên tuần đinh chặn Vịnh lại. May sao cũng có một thằng hay hò, đã từng đi gặt có quen biết nên cho Vịnh lên phía đầu cầu.


Trên cầu, lính khố xanh sắp hàng, súng ống cầm tay. Bọn hương lý mấy làng gần cầu lăm lăm roi cá đuối dọa quất bất cứ ai lên cầu mà băng qua đường quan. Vịnh cố chen đám thợ gặt, đám đàn bà đi chợ xem có việc chi mà lính lác mần dữ rứa. Lát sau thấy ù ù phía Mỹ Chánh ba xe nhà binh chạy vô. Trên xe không có mui che, hai hàng lính khố đỏ súng, lê chĩa vào một đám tù mình trần, tay bị trói quặt ra sau lưng, nằm ngồi ngổn ngang giữa thùng xe. Chiếc xe đầu dừng lại, bọn lính nhảy xuống dàn trận rồi hô cho tù nhảy xuống theo. Hai xe chạy sau cùng dừng lại nhưng lính và tù trên xe vẫn ngồi yên. Mọi người có mặt ngơ ngác thì thầm hỏi nhau: “Mần chi mà lính xua tù xuống bến sông Bồ, đầu cầu An Lỗ. Định bắn chắc?”, “Đem bắn hay là đem xuống nhận nước cho chết chìm?”. Lát sau thì ai nấy đã biết lính dẫn tù xuống tắm trước khi đưa vô nhà lao Thừa Phủ trong Huế. Những người tù vẫy vùng dưới nước. Tay bị trói nên họ tự cà cọ cho nhau. Vịnh nghĩ bụng: “Bọn độc ác thật. Cho người ta tắm mà tay bị trói thì tắm sao được”. Loáng một cái chưa hết mươi phút thì bị lính xua lên, tù đẩy nhau, giúp nhau trèo lên thùng xe. Hai xe đi sau tiếp tục cho tù xuống tắm như xe trước. Bọn lính quát mắng, dùng roi quất, xem người tù chẳng bằng trâu bò. Thằng đội hô:


- Mau lên! Chạy xuống sông, được tắm mười phút. Tổ mệ tụi bây ở trong tù mần chi mà đứa mô đứa nấy hôi như chuột chù.


Nghe hết và thấy hết cảnh đó, Vịnh vừa uất căm lại vừa sợ. Nếu mình theo cộng sản thì không thoát khỏi cảnh này. Tuy có sợ, nhưng Vịnh tức hơn sợ, anh tự nghĩ chẳng lẽ mới thấy chừng đó mà đã nhột chí, đã muốn quay trở về làm anh dân đen, cày sâu cuốc bẩm, an phận thủ thường, lấy vợ đẻ con …


Khi chiếc xe nhà binh chở tù cuối cùng chạy khuất trên cầu An Lỗ, thì ai nấy vội vàng băng qua đường. Mọi người bàn tán: “Tù mô ngoài Quảng Bình, Quảng Trị mà chở vô nhiều rứa không biết nữa?”, “Tội nghiệp con cái nhà ai trẻ măng, đứa mô đứa nấy đang tuổi ăn, tuổi lớn mà phải chịu cảnh vào tù. Tội nghiệp thiệt!”.


Một ông ra dáng hương lý chi đó mặc áo lương đen, đầu đội khăn đóng, tay còn nguất ngoắt cái roi cặc bò chửi đổng: “Đ. Mạ … Ai nhủ đi theo cộng sản mần chi. Cho đáng kiếp!”. Nghe vậy, Vịnh tức máu, muốn đạp cho thằng “khăn đóng, tay roi” một đạp. Nhưng nghĩ: “Bọn ni chừ đông quá. Mần răng đạp cho hết”. Vịnh đành lặng im, vượt qua quốc lộ, theo men đường sông Bồ vô làng Hiền Sĩ, vừa đi vừa nghĩ: “Không biết trong số tù Quảng Bình, Quảng Trị ngồi trên ba xe vô Huế đó, có ông nào tên Lê Chưởng, Trần Công Xứng, Lê Duẩn, Trần Tế, Nguyễn Hàm Ninh, Võ Nguyên Giáp không? Vịnh chưa biết mặt những ông cách mạng ấy, nhưng chỉ mới nghe tên đã sợ. Nghe mấy ông nớ xuất quỷ, nhập thần. Quan Tây, quan ta nghe tên đều hồn xiêu, phách lạc. Thấy cảnh lính đánh tù, tức thì tức, nhưng trong lòng mừng thầm: “Cộng sản có thương nước thương nòi, việc họ làm có tốt thì dân mới theo đông vậy. Nếu họ là giặc cướp, thì làm sao mà dân theo” …


Vịnh trèo lên cái dốc đường tàu đã thấy nhà ga Hiền Sĩ. Vịnh nghe nói ông sếp ga này, cũng là người có cảm tình với cộng sản.


Vịnh vừa dạo quanh làng Hiền Sĩ, rao xin việc được một vòng qua nhà ông Long, ông Lưu, ông Ấm Thành rồi vòng ra bờ sông, thì có tiếng kêu “Ê chú bạn gặt. Mời vô đây đi gặt giùm mấy sào sau ruộng Miễu”.


Đây là nhà mụ Mèo, có cậu con trai tên Méo, cũng là trai gặt, nhưng ruộng nhiều, lúa chín rộ lên một lần nêu kêu thêm bạn gặt.


Vịnh gặt ào ào, bó lúa to nhất, cứ xóc đòn vô là gánh chạy đùng đùng như voi một. Mụ Mèo khen: “Con trai Niêm Phò mạnh như trâu, gặt giỏi hơn con gái, lại hát hò hay, ai cũng ưng”.


Cứ gặt gặt, gánh gánh được mươi lần thì mụ Mèo bưng ra một rỗ khoai lang luộc, một ấm vòi nước chè xanh. Vịnh cùng Méo vừa ăn vừa trò chuyện.


Tuy chưa được gặp người cộng sản Phạm Tế, nhưng Méo có bà con xa gì đó với ông Tế sếp ga và ông Cửu Nghênh. Méo hay chạy qua chơi nhà ông Tế, ông Nghinh đã nói cho Vịnh biết ông Nghinh và ông Tế giỏi tiếng Tây, hay đọc sách báo của Tây và đánh đàn băng giô, hát tiếng Tây hay lắm. Vịnh nói với Méo:


- Tau cũng đang học tiếng Tây để xin đi làm cu-li cho Tây. Méo nì, mi thử coi trong đống sách báo của ông Tế, ông Nghinh có tờ mô có tên đề chữ là Le Paria thiệt to, mượn cho tau tập đọc chữ Tây với nghe.


Méo le lưỡi:


- Ui chao. Mượn răng được. Mấy tờ có tên như rứa, mỗi lần vô Huế mua về, mấy ông trốn người nhà đem ra sau nương ngồi đọc, rồi dấu dấu thu thu chớ mô có cả đống mà lấy.


Mấy ngày liền, nằm ngủ lại nhà mụ Mèo để gặt cho xong, Vịnh đã biết nhiều chuyện ông Phạm Tế, Cửu Nghinh và ông Hoàng Anh qua lại gặp nhau ra sao. Sau vụ gặt ấy, Vịnh lại lên Hiền Sĩ, Phù Ninh đi cày thuê. Lần này thì Vịnh biết Hoàng Anh chơi thân với sếp ga Phạm Tế. Nhờ Phạm Tế cho đi tàu hỏa không mất tiền, lâu lâu Hoàng Anh, Trần Lưu, Cửu Nghinh biến mất vài ngày ra chơi với bạn bè đâu ngoài ga Thuận Lý, Quảng Bình, ga Đông Hà, Quảng Trị. Vịnh không rõ những người tù được chở từ nhà lao ngoài nớ vô Vịnh gặp ở cầu An Lỗ lần trước, có ai trong lớp bạn của Cửu Nghinh, Hoàng Anh không? Bọn hương lý ở Hiền Sĩ Phù Ninh luôn cho người dò la mấy nhà chúng nghi là cộng sản. Nhưng sợ hậu họa, chúng không ra mặt bắt bớ gì. Ngày nào có rục rịch chi đó, y như rằng Nghinh và Anh biết trước vừa ra khỏi làng cùng lớp Hướng đạo Lu-vờ-tô đi cắm trại đâu trên núi Thanh Tân, Ồ Ồ, thì lính khố xanh, khố vàng ập về muốn bắt hai người anh em đó hay sao không biết mà tụi lính hô hét dữ lắm. Biết rõ hai người đi vắng, tụi chúng liền khám nhà Trần Lưu, Cửu Nghinh và Hoàng Anh.


Một hôm trời đã khuya, Vịnh đi bừa cho mụ Mèo suốt ngày, mỏi rã rời đặt lưng xuống là ngáy liền. Nửa đêm nghe tiếng chó sủa ồn bên xóm, Vịnh giật mình đang ngái ngủ mơ mơ màng màng thì thằng Méo lay dậy, trao cho Vịnh tờ báo rồi chạy mất. Vịnh bật lửa hút điếu thuốc và soi thấy chữ tên tờ báo thiệt to: Le Paria. Vịnh mừng thầm: “Người cùng khổ với mình đây rồi – chính hiệu “con nai vàng” đây rồi. Đích thị nhà Phạm Tế, Trần Lưu, Cửu Nghinh là cộng sản. Nhưng Vịnh cũng không hiểu sao nhà Trần Nghinh mô phải thuộc loại dân nghèo mà là người có học, có chức cửu phẩm cũng theo cộng sản à? Thì ra cộng sản không chỉ thu hút người bần cùng đói rách vì bị Tây, quan bóc lột áp bức.


Cầm tờ báo Le Paria – Người cùng khổ trong tay, Vịnh ra ngõ nhìn trước, ngó sau thấy mọi bề yên lặng mới vào nhà thắp ngọn đèn dầu lên, nhìn lướt qua tờ báo, Vịnh thoáng thất vọng vì tờ báo đã cũ: số 36-37 tháng 9 tháng 10 năm 1925. Tuy báo cũ nhưng các trang trong có bài ký tên người viết là Nguyễn Ái Quốc. Đầu đề bài báo đã lôi kéo ngay sự tò mò của Vịnh vì có nói đến tên nhà yêu nước người đồng hương mà Vịnh đã từng nghe và ngưỡng mộ: “Turlupinades ou Varenne et Phan Boi Chau” (Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu); Vịnh đọc đi đọc lại mấy lần mới hiểu ông Nguyễn Ái Quốc với giọng châm biếm sâu cay đối với viên Toàn quyền của Pháp tên là Varen. Varen vốn là đảng viên xã hội Pháp, bỏ đảng, phản bội đồng chí và quần chúng lao động Pháp, để đi nhận chức Toàn quyền xứ Đông Dương. Do sức ép của công luận Pháp và Đông Dương phản đối chính phủ Pháp đã cầm tù Phan Bội Châu. Trước khi lên đường Varen hứa hẹn khi đến Việt Nam sẽ chăm sóc Phan Bội Châu. Và, sau mấy tháng trời đi đường từ Pháp đến Sài Gòn, rồi mấy tháng nữa từ Sài Gòn ra Huế, đến Hà Nội. Varen hết dự tiệc tùng, chiêu đãi chào đón, nhận mề đay của vua Khải Định trao, rồi lu bù yến tiệc nghênh đón mà quên mất Phan Bội Châu vẫn đeo gông ngồi tù. Đến khi vào nhà lao gặp Phan Bội Châu thì Varen đã thuyết lý mấy giờ liền tự ca ngợi nền dân chủ tự do, bác ái của Pháp, khen Phan có lòng yêu nước thương dân Việt Nam nhưng Varen kêu gọi Phan nếu quy hàng nước Pháp sẽ được Pháp cho hưởng quyền cao chức trọng, giàu có và sung sướng. Suốt cả buổi lời nói của Varen lọt vào tai Phan như nước đổ lá khoai môn. Sự im lặng của Phan làm cho Varen sửng sốt cả người. Cuộc gặp gỡ chấm dứt. Đọc đến đó Vịnh mới thấy cảm phục ông Phan Bội Châu. Một ý nghĩ nẩy ra: “Phải đi gặp ông Phan Bội Châu mới được. Hiện ông Phan đang bị giam lỏng ở nhà ông, trong Huế”. Vịnh cũng phục ông Ái Quốc quá. Đoạn tái bút của ông trong bài báo thật tài tình, ông viết: “T.B – Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Varen - Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng Phan Bội Châu đã nhổ vào mặt Varen: cái đó thì cũng có thể”. (P.S – Un deuxième témoin de l’entrevue Varenne - Phan Boi Chau (et nous nous gardons bien de nommer ce témoin) affirme que Boi Chau avait craché sur le visage de Varenne c’est encore possible). Nguyên văn tiếng Pháp (TCT).


Ngoài trời đã sáng. Vịnh gấp tờ báo lại, giấu kỹ trong gói áo quần với ý định khi về làng sẽ cho em Dĩnh, Đãi và Phạm Oanh cùng đọc.


«


Sau những ngày đi gặt và cày bừa thuê ở Hiền Sĩ, Phù Ninh, được thằng Méo lấy trộm của ông Nghinh, ông Tế, ông Hoàng Anh cho một số tờ báo La Paria, L’Humanité, Vịnh đem về làng, bí mật gọi Dĩnh, Oanh vào bếp, chờ mẹ và em Hát ngủ say, Vịnh thắp ngọn đèn dầu hỏa, vặn tim đèn lu lu bằng hột đậu xanh, cả ba đứa dụi đầu vào sát ngọn đèn đọc báo suốt đêm. Sáng ra khói đèn chui vào hai lỗ mũi đen ngòm. Những ngày sau đó Vịnh thường kiếm cớ xin mẹ đi nơi này, nơi nọ làm ăn. Có lúc Vịnh còn bó một bó chiếu, giả giọng Quảng Ngãi, đóng vai người Quảng Ngãi, rao giọng lơ lớ: “Chíu hông?”. Cứ thế, một vác chiếu, Vịnh lên tận làng Nam Dương, Phù Lễ, nơi có những người tứ xứ bị Tây bắt về an trí, hỏi han chuyện của họ. Rồi về kể chuyện cho Dĩnh và bạn bè nghe những diễn biến và hoạt động của họ.


Tri huyện Quảng Điền lúc đó là Nguyễn Trân, được bọn chỉ điểm mật báo cho biết về hành tung lạ kỳ của thằng bán chiếu. “Thằng bán chiếu đã vô nhà ông Nguyễn Hữu Hiệp và bà Trần Thị Sành. Hai vợ chồng này đã nuôi dưỡng trong nhà mấy người an trí Nghệ Tĩnh. Thằng bán chiếu thì thầm những gì với ai” … Nguyễn Trân cắt người theo sát Vịnh. Cuối cùng hắn đã tìm ra được thằng bán chiếu không phải người Quảng Ngãi mà là thằng con ông Bộ Hán ở Niêm Phò. Lập tức Lý trưởng Niêm Phò được tri huyện Trân giao việc bí mật theo dõi Nguyễn Vịnh.


Bước vào năm 1934-1935 là thời gian lý trưởng Niêm Phò bị huyện gọi tới gọi lui hoài. Bởi vì bọn thanh niên Niêm Phò nghe cộng sản xúi giục đã lập ra các hội cắt gặt, đạp nước, đá bóng, đọc sách. Từ đó mà loang ra cả vùng Tây Ba, Hạ Lang, Bát Vọng ... Vịnh biết ở Tây Ba đã xuất hiện những người cộng sản như ông Bát Sô, bà Lụt, ông Tri, bà Tú Cầu. Như vậy huyện Trân không chỉ dòm ngó Nguyễn Vịnh mà còn cả lũ em và bạn bè Vịnh như Nguyễn Húng, Nguyễn Duệ, Trần Bá Song, Nguyễn Chính. Nhóm này còn liên lạc với mấy người cộng sản vừa ra tù ở trên Huế như Hải Triều, Hải Thanh, Lâm Mộng Quang … Không biết có phải do Vịnh cầm đầu hay không mà huyện Trân càng hung dữ ra lệnh cho đàn em ráo riết dò la, bám sát tất cả những hành động của Vịnh. Hắn sức trát cho lý trưởng Niêm Phò và còn mật thư cho tri huyện Phong Điền Trần Ngọc Liên theo sát Hoàng Anh, Trần Lưu, Hoàng Thái có liên lạc gặp gỡ gì với Nguyễn Vịnh hay không.


Lúc này Nguyễn Đãi đã đậu primaire rồi. Vịnh rủ bạn đi dạy học để cùng Vịnh dễ hoạt động nhưng Đãi còn lừng khừng, chưa biết thời thế ra sao. Chờ Nguyễn Vịnh đi đạp nước thuê ở Phù Lễ về, Đãi kéo Vịnh lui sau bếp, nói: “Vịnh ơi! Mi mần chi mà nhiều người lạ tới hỏi mi hoài đó. Liệu hồn mà coi chừng không huyện Trân tóm cổ cả hai anh em mi vô tù đó nghe. Thằng Trân còn dọa nếu bọn trai tráng Niêm Phò làm loạn theo cộng sản hắn sẽ đưa lính về “làm cỏ” như cuộc bắn giết đẫm máu ngoài Vinh, Tràng Thi, Bến Thủy chi đó nữa” …


Đãi thiệt lòng lo sợ cho bạn. Hớt hãi khuyên can bạn nhưng Vịnh chỉ cười rồi ôm lấy Đãi, nói:


- Đãi này, tau định nói chuyện ni với mi, nhưng chờ mi có bằng primaire hẳn hoi rồi mới nói: Ở làng mình có tổ chức thanh niên dân chủ phản đế do Đảng cộng sản lãnh đạo rồi. Ai cũng hăng hái muốn đánh đổ đế quốc, phong kiến. Giành lại độc lập tự do cho dân, cho người A-Nam mình. Tau muốn mi cũng vô nhóm Thanh niên phản đế như tau. Mi dám theo tau không?


Đãi gỡ tay Vịnh trên vai mình, trả lời dứt khoát:


- Không, tau không đi theo cộng sản mô. Đi với mi thì lên trời xuống biển tau cũng đi. Nhưng theo cộng sản là đi làm giặc. Tau không đi.


Vịnh liền ôn tồn giải thích cho Đãi nghe về những hoạt động của Thanh niên phản đế. Cuối cùng Vịnh nói: “Tình bạn học thân thiết, lại còn tình bà con họ hàng tau mới nói thiệt với mi Đãi ạ. Mi học cao hơn tau, mặc dầu mi thua tau một tuổi. Nhưng tau thấy mi cũng có lòng yêu nước thương nòi, tau muốn mi cùng đi một đường với tau. Chừ thì tùy mi ưng răng thì mần rứa. Nhưng tau nói cho mi rõ cộng sản không phải là giặc. Bọn Tây, bọn Tàu tới cướp nước mình, bắt dân mình làm nô lệ mới là giặc. Còn mình là người yêu nước, muốn đứng lên cứu nước thì làm sao gọi là giặc cho được”.


Đãi ngồi im, lắng nghe Vịnh. Hình như cậu ta cũng xiêu xiêu lòng. Nhưng còn chống chế một câu: “Vịnh ạ. Tau thì sao cũng được. Nhưng đi làm giặc … à làm cách mạng, lỡ ra bị bắt, bị tra tấn, tù ngục tau chịu răng nổi. Tau mà có làm sao thì mạ tau bà cũng chết theo mất” …


Vịnh lại ôm bạn, an ủi:


- Tau cũng thương và lo cho mạ tau lắm. Nhưng ai cũng ở nhà ngồi trong lòng mạ thì lấy ai đi cứu nước, cứu nòi.


Nói đến đó Vịnh ra về.


Ba ngày sau Đãi đến báo cho Vịnh biết Đãi đã quyết theo Thanh niên phản đế, thì Vịnh biến đâu mất. Đãi đạp xe đi khắp, Hiền Sĩ, Phù Ninh, Nam Dương, Phổ Lại tìm đâu cũng không thấy Vịnh. “Chết cha! Hay Vịnh bị tóm rồi” Đãi nghĩ bụng và về nhà im lặng ngồi chờ. Chờ không được, qua hỏi bác Bộ, bác nói:


- Chắc thằng Vịnh đi làm thuê mô đó, say làm kiếm tiền về nuôi mạ, nuôi em mà! Có khi hắn ở lại ba, bốn ngày mới về.


Đãi lại đi dò la nhà Húng, nhà Song. Nhưng Húng và Chính vẫn có mặt. Chỉ riêng hai thằng Lê Lạc, Trần Bá Song cũng biến đâu mất.


Lo cho bạn, sợ bạn bị bắt, Đãi đứng ngồi không yên. Nhưng bốn ngày sau Vịnh đã trở về, Đãi mới biết Vịnh kéo Lạc và Song đi vào Đà Nẵng nghe ngóng tin tức và xem dân Quảng Nam họ có rục rịch chi không, họ có phong trào phản phong phản đế gì như ở Thừa Thiên và các tỉnh khác không. Vào đó, ba chàng trai Niêm Phò ngủ trọ nhà ông “Mã Tiền”, ông này chuyên làm rượu mã tiền uống và bán, vì có quen biết với Trần Bá Song nên ba chàng đến đó mong kiếm được một đường dây nào để liên lạc, tìm thêm thông tin mới. Bởi chuyện yêu nước của cụ Phan Bội Châu thì Vịnh, Lạc, Song đều có nghe tiếng. Nhưng thân thế sự nghiệp cụ Phan Chu Trinh thì nhóm Thanh niên Niêm Phò mù tịt. Đến nhà Mã Tiền, Vịnh càng mù tịt thêm vì chủ nhà rất sợ liên lụy, không dám hé răng chuyện thành trên phố dưới gì. Kết quả ba chàng tiêu hết tiền dành dụm cho chuyến đi. Chỉ đủ tiền mua vé tàu, nhịn đói ra Huế, trở lại làng Niêm Phò.


Vịnh nói với Đãi:


- Chừ tui bám làng quê đồng ruộng của mình thôi. Vừa cấy cày nuôi mạ, nuôi em, vừa cùng bè bạn trong nhóm đi gây phong trào. Tự đi tìm tài liệu, tìm hỏi mấy ông cộng sản cựu trào cùng nhóm tù an trí mà tự viết ra bài bản, mang đi nói chuyện với thanh niên trong làng. Rồi mở rộng ra các làng khác. Làng nào dọc sông Bồ thì Đãi lấy thuyền của nhà ra chở Vịnh đi. Nhà nào, làng nào xa sông nước thì Đãi mang theo xe đạp. Vịnh khỏe chở Đãi sau póc-ba-ga, đi ra tận ngoài bắc Phong Điền mà tuyên truyền cộng sản.


Một hôm, Đãi đến đèo Vịnh đi bắt liên lạc với nhóm sông Bồ thì Vịnh biến đâu mất. Hai ngày sau Vịnh về thì thầm với Đãi chuyện Vịnh và Phạm Oanh rủ nhau lên Huế gặp cụ Phan Bội Châu. Vịnh hỏi:


- Mi còn nhớ bài báo ông Nguyễn Ái Quốc nói cụ Phan đã nhổ vào mặt toàn quyền Varen không? Cụ Phan oanh liệt thiệt. Được hầu chuyện cụ Phan đầu óc tau sáng tỏ như được uống thuốc tiên. Ở nhà cụ Phan bọn tau còn được gặp hai ông cộng sản gộc là Phan Đăng Lưu và Nguyễn Chí Diễu. Hai ông đó đã mở mang đầu óc cho tau. Người đâu mà giản dị, thân tình và thông minh đến thế. Càng nghe các ông nói về tình hình trong nước, thế giới và chuyện nhân tình thế thái mình càng thấy mình dốt nát u mê chi lạ … Càng nghe các ông nói mình càng thương nước, thương dân A-Nam khốn khổ của mình chi lạ Đãi ơi! …


Sau khi Vịnh và Phạm Oanh được gặp cụ Phan và hai ông Lưu, ông Diễu, nhóm thanh niên dân chủ Niêm Phò càng hoạt động sôi nổi. Vịnh đã tập họp được một số thành viên và thanh niên hăng hái ở Niêm Phò lại những nơi vắng vẻ để nói chuyện phong trào của cả nước đang nổi lên chống lại thực dân Pháp và phong kiến triều Nguyễn. Những chuyện khởi nghĩa của nông dân ở Bắc Kỳ, tình hình nội bộ quân lính của triều đình và của Pháp chống lại Pháp. Chuyện tù nhân chính trị vượt ngục ở cao nguyên, ở Nam Kỳ. Sau khi nói chuyện cách mạng xảy ra trong cả nước, Vịnh đem mấy tờ báo “Người cùng khổ”, “Tiếng dân” ra đọc và phân tích tình hình thế giới, chuyện nước Nga xô viết, chuyện Vạn lý trường thành và cách mạng bên Tàu, kết thúc mỗi buổi họp mặt bí mật bao giờ Vịnh cũng dặn anh chị em thanh niên coi chừng bọn chỉ điểm, mật thám lãng vãng trong làng, giữ gìn kỹ và thu giấu kín đáo những sách báo cấm. Từ sau những hoạt động của thanh niên trong làng, nhóm Niêm Phò đã hình thành gồm có Vịnh, Trần Bá Song, Nguyễn Húng, Nguyễn Dĩnh, Nguyễn Bật, Trần Mạch, Nguyễn Đãi … trong huyện Quảng Điền lần lượt các nhóm ra đời. Ở Bát Vạng có Đặng Thược, ở Nam Dương có Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Hữu Để, Ngô Khiêm, bà Bàu, bà Cúc, ông Nguyễn Xuân Nghi, ở Tây Thành có ông Lý Mộng …


Chuyện gặp gỡ thanh niên, họp kín của Vịnh với bạn bè, mặc dầu đã ngụy trang rất khéo bằng những chuyện thể thao, những trận bóng đá, những lần cắm trại, lễ tết, cúng tế vui chơi, nhưng không lọt qua mắt bọn chỉ điểm và đã đến tai huyện Trân.


Quan huyện, quan tỉnh treo giải thưởng hàng trăm bạc Đông Dương cho ai bắt được cộng sản. Huyện Trân cũng hứa với quan Tây và quan tỉnh sẽ tự tay bắt cộng sản gộc. Hắn dò la và cho mật thám theo rõi hoạt động của Vịnh. Hắn biết rõ Đãi có chiếc xe đạp Đơ-mi-cồng-pho thường chở Vịnh đi đây đi đó. Một hôm hắn cải trang thành dân thường đi “vi hành” tìm hiểu hoạt động của các nhóm thanh niên cộng sản trong các xóm làng. Lúc qua đò Hạ Lang, hắn gặp Vịnh cũng đang qua đò. Hắn nhận ra hình dáng như bọn chỉ điểm đã tả về chiếc xe đạp của Đãi. Hắn liền lân la đến gặp Vịnh và xởi lởi chào bằng tiếng Pháp:


- Bonjour Đãi. Anh có chiếc xe đạp oách quá hí?


Hắn không biết mặt Vịnh, nhưng Vịnh nhận ngay ra tri huyện Nguyễn Trân. Vịnh cảnh giác ngay nhưng cũng buồn cười vì cái giọng Quảng Ngãi của hắn. Ở trên đò Vịnh không sợ gì, bởi thằng quan huyện đi lẽ với thân thể còm nhom của hắn Vịnh chỉ cần ra một đạp là thằng Trân tiêu đời. Thấy Vịnh không nói gì mà chỉ cười cười hắn tưởng Vịnh đúng là Đãi rồi. Hắn bèn hỏi thêm:


- Cái láp xe độp cusu mít sơ lanh ni tốt lém hí!


Bây giờ thì Vịnh cười thật vì thán phục ai sinh ra cái giọng nói Quảng Ngãi thông minh thiệt: “cái lốp xe đạp dân Quảng Ngãi nói lái thành cái láp xe độp” mà cũng đúng bóc. Thấy Vịnh cười, thằng huyện Trân nói:


- Anh Đãi này. Lên bờ anh đứng chờ tui nói chuyện một chút nghe.


Vịnh “dạ” một tiếng rất lễ phép.


Đò cập bến Hạ Lang, Vịnh vác xe đạp lên đứng chờ. Huyện Trân kẹp đôi giày hạ vào nách, xắn quần bước lên tới rủ Vịnh vào bên bụi mưng, giọng rất hách:


- Đãi này. Chừ không có ai tao mới nói thiệt: mi chở tau về bắt thằng Vịnh. Tau sẽ thưởng mi mười đồng.


Vịnh giả đò hốt hoảng nói:


- Ui chao! Ông là ai mà dám bắt thằng Vịnh. Ông không sợ bọn lâu la của hắn ở Niêm Phò mần thịt ông à?


Huyện Trân hếch cằm, giõng dạc:


- Sợ chi - Hắn vỗ vỗ cạp lưng quần và lôi ra một khẩu súng nhỏ bằng bao thuốc lá Basto, hắn nói - Tau có súng. Mi không biết tau là ai à? Huyện Trân đây.


Vịnh đã nghe chuyện những khẩu súng nhỏ xíu ấy bắn đạn bằng đầu đũa cỡ 6x35 thường dùng cho đàn bà, bọn vợ Tây hay bỏ bóp tà-phơi để hù dọa mấy thằng chồng léng phéng quen đi mèo mỡ. Vịnh vờ run sợ:


- Bẩm lạy quan huyện. Thật tình con chưa biết mặt quan. Quan tha tội cho con. Nhưng chừ chở quan về Niêm Phò, thì có thằng Vịnh ở nhà đâu mà bắt.


- Rứa hắn đi mô, răng mi biết?


- Dạ … nhà hắn ở gần nhà con. Sáng ni hắn qua mượn xe đạp con để đi Huế. Con cũng mắc đi nên hắn đã chạy bộ. Chắc chừ hắn đang ở mô côi Huế chưa về.


Huyện Trân như tiếc hụt, nói:


- Rứa há. Vậy chừ tau qua đò lui. Lính và xe tay của tau đang chờ bên tê sông. Nhưng tau dặn đây Đãi. Lúc mô mi biết chắc thằng Vịnh ở nhà, mật báo cho tau, tau cho lính về vây bắt. Bắt được hắn, tau cho mi hai mươi đồng. Nghe Đãi!


Hắn nói: “Ô rờvoa a biếng tô” chào và hẹn gặp lại, rồi bắt tay Vịnh, bước xuống đò …


Đò ra giữa sông, huyện Trân còn đưa tay vẫy chào Vịnh. Lúc đò sắp cập bến, ông lái hỏi:


- Vậy chớ bẩm quan huyện đi mô mà lui về mau rứa?


Huyện Trân a lên một tiếng, hỏi:


- Ờ … quan mặc áo quần ri mà mi nhận được ra quan à. Tau đi bắt thằng Vịnh, mà thằng Đãi lại nói hắn đi Huế chưa về.


Ông chèo đò hỏi giọng hài hước:


- Rứa khi hồi quan ngồi đò với cậu Vịnh, răng không bắt luôn cho rồi?


Trân trố mắt hỏi:


- Vậy cái thằng đi xe đạp đó là thằng Vịnh à?”.


- Dạ đúng. Đúng đó là cậu Vịnh con ông Bộ Hán mà. Cả vùng này ai mà không biết cậu Vịnh.


- Huyện Trân bỗng chửi thề:


- Đ. Má … răng lúc ngồi đò mi không nói?


Ông chèo đò thanh minh:


- Vì quan có hỏi đâu mà con dám nói. Biết quan ngứa lộ mô mà khải. Hơn nữa con tưởng quan có bà con với cậu Vịnh…


Trân lại văng của quý ra chửi thề:


- Bà con cái con c. Đ. má thằng ranh con mà lắm mưu mô thiệt. Được rồi, để đó rồi coi tay tau.


Hắn dứ dứ bàn tay lên trời như dọa đánh ai. Còn ông lái đò thì nhe răng cười. May quá, trời đã tối nên quan huyện không thấy răng ông lái đò cười …


«


Chuyện quan tri huyện Nguyễn Trân nhờ Nguyễn Vịnh đèo xe đạp cho hắn đi bắt … Nguyễn Vịnh đã lan ra làm trò cười cho cả huyện.


Cũng may, nhờ chuyện đó mà Vịnh và nhóm thanh niên Dân chủ một thời gian dài, đối phó linh hoạt, cảnh giác đề phòng nên không bị rơi vào tay giặc …


 


(còn tiếp)


Nguồn: Sáng trong như ngọc. Trần Công Tấn. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 


 


 


 


 







[1] Câu mở đầu của tác phẩm Chinh phụ ngâm




1 Trọng tài




1 Tiền vệ trái




[2] Hậu vệ




3 Hiệp hai




1 Đã được thay tên (TCT)




1 Hoa hồng (tiếng địa phương)




1 Đã được đổi tên (TCT)



Mục lục:
1.Chương 1